1. Trang chủ >
  2. Giáo án - Bài giảng >
  3. Cao đẳng - Đại học >

THẤT NGHIỆP VÀ LẠM PHÁT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (526.67 KB, 78 trang )


b) Tỷ lệ thất nghiệp.



Dân số



Tỷ lệ thất nghiệp là % số người



Trong

độ tuổi

lao động



Lực

lượng

lao đông



Có việc

Thất

nghiệp



Ngoài

lực

lượng





thất nghiệp so với tổng số người

trong lực lượng lao động.

ngoài độ

tuổi lđ



Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu

phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia.

6.1.3. Các loại thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải đựoc phân loại để hiểu rõ về nó. Có thể

phân thành các loại như sau:

a) Phân theo loại hình thất nghiệp.

Có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây.

- Thất nghiệp chia theo giới tính (nam-nữ)

- Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi-nghề)

- Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn...)

- Thất nghiệp chia theo ngành nghề (ngành kinh tế, ngành hàng, nghề nghiệp).

- Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.

Phân theo loại hình thất nghiệp như trên dể hiểu biết rõ ràng về đặc điểm, tính chất, mức

độ tác hại .... của thất nghiệp trong thực tế; trên cơ sở đó có giải pháp khắc phục.

b) Phân theo lý do thất nghiệp.

Có thể phân chia thành các loại sau:

- Bỏ việc: tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng công việc không phù

hợp, mức lương thấp.....

- Mất việc: các hãng cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh....

- Mới vào: lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động, những chưa tìm được việc làm (thanh

niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công tác.....)

- Quay lại: những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại làm việc,

nhưng chưa tìm được việc làm.

c) Phân theo nguồn gốc thất nghiệp:

Nhằm phân tích sâu sắc về thực trạng của thất nghiệp để có hướng giải quyết. Có thể chia

thành 4 loại:

- Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm

việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng của họ; hoặc những người mới

bước vào độ tuổi lao động đang tìm kiếm việc làm hoặc chờ đợi đi làm.

58



- Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối cung - cầu giữa các loại lao động

(giữa các ngành nghề, khu vực ...).

- Thất nghiệp do thiếu cầu: Xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống. Nguồn

gốc chính là do sự suy giảm của tổng cầu. Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ, vì nền

kinh tế thị trường luôn gắn liền với các chu kỳ kinh doanh.

- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường (thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển): Xảy ra khi

tiền công được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức tiền công cân

bằng của thị trường lao động. Sự không linh hoạt của tiền lương (ngược lại với sự năng động

của thị trường lao động) dẫn đến một bộ phận lao động mất việc.

Như vậy: Thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt

của thị trường lao động. Thất nghiệp thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống. Thất nghiệp

theo lý thuyết cổ diển do các yếu tố chính trị - xã hội tác động.

d) Phân loại theo quan hệ cung - cầu lao động

Cách phân tích hiện đại đưa ra khái niệm mới là thất nghiệp tự nhiên, thất nghiệp tự

nguyện, thất nghiệp không tự nguyện.

- Thất nghiệp tự nhiên: Là thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng, trên đồ thị (h7.1)

thị trường lao động cân bằng tại điểm E với mức tiền lương cân bằng W *, thất nghiệp tự nhiên

là đoạn EF.

- Thất nghiệp tự nguyện: chỉ những người tự nguyện không muốn làm việc do việc làm

và mức lương tương ứng chưa hoà hợp với mong muốn của họ (giả thiết này là cơ sở để xây

dựng hai đường cung về lao động trên đồ thị thị trường lao động).

LS’

W1



D



W2



A



B



G



E



LS

C

F



E’



LD



LD’



O



N4



N3 N2



N*



N1



Hình 6.1. Cung – cầu trên thị trường lao động

Trên đồ thị: LD là đường cầu về lao động do nhu cầu lao động của các doanh nghiệp quyết

định. LS là đường cung lực lượng lao động xã hội. LS' là đường cung bộ phận lao động sẵn

sàng chấp nhậnv iệc làm tương ứng với các mức tiền lương của thị trường lao động.

Có thể nói thất nghiệp tự nguyện là bao gồm số người thất nghiệp tạm thời và số thất

nghiệp cơ cấu, vì đó là những người chưa sẵn sàng làm việc với mức lương tương ứng, còn

đang tìm kiếm cơ hội tốt hơn. (EF hoặc BC là con số thất nghiệp tự nguyện tương ứng với các

mức tiền lương W* và W1)

59



AB là số thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển tương ứng với mức tiền lương W1 > W*.

- Thất nghiệp không tự nguyện xảy ra khi tổng cầu suy giảm, sản xuất đình trệ, công nhân

mất việc ... nên loại thất nghiệp này đựơc gọi là thất nghiệp không tự nguyện. Trên đồ thị số

thất nghiệp không tự nguyện là đoạn GE và DA tương ứng với mức tiền lương W* và W1.

6.1.4. Thất nghiệp tự nhiên và nhân tố ảnh hưởng.

a) Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên:

Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng (tại điểm

E hình 6.1). Tại mức đó, tiền lương và giá cả là hợp lý bởi các thị trường đều đạt cân bằng dài

hạn. Số người thất nghiệp tự nhiên sẽ là tổng số thất nghiệp tự nguyện, những người chưa có

những điều kiện mong muốn để tham gia vào thị trường lao động.

Tại mức lương W* số việc làm đạt mức cao nhất có thể có mà không phá vỡ sự cân bằng

nên tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên còn được gọi là tỷ lệ thất nghiệp khi đạt sự toàn dụng nhân công

(đầy đủ việc làm). ở mức N* tiền công ổn định bởi sự cân bằng của thị trường lao động, không

có những cú sốc với tổng cầu và tổng cung ngắn hạn. Thị trường hàng hoá đạt cân bằng và giá

cả ở trạng thái ổn định. Với ý nghĩa đó, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên còn được gọi là tỷ lệ thất

nghiệp mà ở đó không có sự gia tăng lạm phát.

Mức thất nghiệp thực tế có thể cao hơn, bằng hoặc thấp hơn mức thất nghiệp tự nhiên. Số

người thất nghiệp thực tế bằng số thất nghiệp tự nhiên cộng với số thất nghiệp do thiếu cầu

hoặc bằng tổng số thất nghiệp tự nguyện và không tự nguyện.

b) Các nhân tố ảnh hưởng đến thất nghiệp tự nhiên:

Có hai nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên:

- Khoảng thời gian thất nghiệp: là khoảng thời gian chờ đợi có việc làm. Khoảng thời

gian này phụ thuộc vào:

+ Cách thức tổ chức thị trường lao động.

+ Cấu tạo nhân khẩu của những người thất nghiệp (tuổi đời, tuổi nghề, ngành nghề ...).

+ Cơ cấu các loại việc làm và khả năng có sẵn việc làm.

Muốn rút ngắn thời gian thất nghiệp, các chính sách phải hướng vào cải thiện các yếu tố trên.

- Tần số thất nghiệp: là số lần trung bình một người lao động bị thất nghiệp trong một

thời kỳ nhất định. Tần số thất nghiệp phụ thuộc vào:

+ Sự thay đổi nhu cầu lao động của các doanh nghiệp.

+ Sự gia tăng tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động.

Trong ngắn hạn, khi tổng cầu không đổi nhưng có sự biến động về cơ cấu của nó và khi

có tỷ lệ tăng dân số cao thì tần số thất nghiệp tăng lên. Vì vậy hạ thấp tỷ lệ tăng dân số và ổn

định kinh tế là hướng đi quan trọng giữ cho tần số thất nghiệp ở mức thấp.



60



6.1.5. Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp

a) Đối với thất nghiệp tự nhiên

Muốn giảm bớt thất nghiệp loại này, xã hội cần phải có thêm nhiều việc làm và có mức

tiền công tốt hơn, đổi mới và hoàn thiện thị trường lao động, để đáp ứng kịp thời, nhanh

chóng cả yêu cầu của doanh nghiệp và người lao động. Để thúc đẩy quá trình này cần có

những chính sách khuyến khích đầu tư, thay đổi công nghệ sản xuất. Điều này lại liên quan

đến các chính sách tiền tệ (lãi suất), xuất nhập khẩu, giá cả (tư liệu lao động ...), thuế thu nhập

b) Đối với thất nghiệp chu kỳ

Thất nghiệp chu kỳ xảy ra trên quy mô lớn nên là một thảm hoạ với nền kinh tế. Tổng cầu

và sản lượng giảm, đời sống lao động thất nghiệp gặp khó khăn. Gánh nặng này thường dồn

vào những người nghèo nhất, bất công xã hội do vậy tăng lên.

Các chính sách mở rộng tài chính và tiền tệ nhằm tăng mức tổng cầu dẫn đến hồi phục

kinh tế sẽ giảm được thất nghiệp loai này.

6.2. Lạm phát

6.2.1. Lạm phát là gì ?

- Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian.

Mức giá trung bình là mức giá chung của tất cả các hàng hoá và dịch vụ. Nó được biểu

hiện bằng chỉ số giá.

- Chỉ số giá (Price Index) là chỉ tiêu phản ánh sự biến động của các mức giá chung kỳ

nghiên cứu so với kỳ so sánh (kỳ gốc).

Ip =



∑i



P



.d



Trong đó: Ip là chỉ số giá

IP là chỉ số giá cá thể của từng loại hàng, nhóm hàng

d là tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng, nhóm hàng







d =1



* Có 3 chỉ tiêu biểu thị chỉ số giá, đó là:

- Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI: Consumer Price Index)

Chỉ số giá cả tiêu dùng phản ánh sự biến động giá cả của một nhóm hàng hoá, dịch vụ

tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của xã hội.

Công thức tính như sau:

Pt

CPIt =



x 100

Po

Trong đó: CPIt: Chỉ số tiêu dùng nhóm hàng thời kỳ nghiên cứu

Pt: Giá cả nhóm hàng tiêu dùng thời kỳ nghiên cứu

61



Po: Giá cả nhóm hàng tiêu dùng thời kỳ so sánh

Hàng tiêu dùng bao gồm nhiều nhóm như: Lương thực, quần áo, y tế, nhà cửa ... Khi

nghiên cứu người ta còn xem xét cơ cấu của từng loại hàng trong nhóm hàng.

- Chỉ số giá cả sản xuất (PPI: Producer Price Index)

Chỉ số này phản ánh biến động giá cả đầu vào, thực chất là biến động giá cả chi phí sản xuất.

Công thức tính như sau:



Pt

PPIt =



x 100

Po



Trong đó: PPIt: Chỉ số giá cả sản xuất thời kỳ nghiên cứu

Pt: Giá bán buôn lần đầu nhóm hàng kỳ nghiên cứu

Po: Giá bán buôn lần đầu nhóm hàng kỳ so sánh

- Chỉ số lạm phát (D)

D là chỉ tiêu phản ánh biến động giá cả của tất cả các loại hàng hoá cấu thành GNP.

GNPn



Công thức tính:

D =



x 100

GNPr

Trong ba loại chỉ số trên thì CPI được sử dụng rộng rãi nhất và là chỉ số được quan tâm

nhiều nhất vì nó gắn liền với cuộc sống người tiêu dùng.

- Tỷ lệ lạm phát (Rate of Inflation)

Tỷ lệ lạm phát là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ tăng mức giá chung thời kỳ nghiên cứu so với

thời kỳ trước đó.

Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô và sự biến

động của nó phản ánh quy mô và xu hướng của lạm phát.

Tỷ lệ lạm phát được tính như sau:

Ip

Trong đó: gp: Tỷ lệ lạm phát (%)

gp =

- 1 x 100

Ip: Chỉ số giá cả củaIthời kỳ nghiên cứu

P-1

IP-1: Chỉ số giá cả thời kỳ trước đó

6.2.2. Quy mô lạm phát





Căn cứ vào quy mô lạm phát



Người ta thường chia lạm phát thành 3 loại tuỳ theo mức độ của lạm phát.

a) Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ làm phát dưới 10% một

năm. Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế.

b) Lạm phát phi mã: xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một

năm. Lạm phát này gây ảnh hưởng nghiêm trọng với nền kinh tế.

62



c) Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa tốc độ lạm

phát phi mã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc với nền kinh tế, tuy nhiên chúng

cũng ít khi xảy ra. VD: lạm phát ở Đức tháng 1/1922 đến tháng 11/1923: giá cả tăng lên đến 10

triệu lần (1 tỷ %).





Căn cứ vào quy mô và độ dài thời gian



a) Lạm phát kinh niên: Thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát <50%/năm

b) Lạm phát nghiêm trọng: Thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát >50%/năm

c) Siêu lạm phát: là lạm phát kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát >200%/năm

6.2.3. Tác hại của lạm phát

Trong thực tế các cuộc lạm phát thông thường đều có hai đặc điẻm sau đây:

- Tốc độ tăng giá thường không đồng đều giữa các loại hàng.

- Tốc độ tăng giá và tăng lương cũng xảy ra không đồng thời.

Hai đặc điểm trên dẫn đến sự thay đổi tương đối về giá cả, từ đó gây ra tác hại cho nền

kinh tế đó là:

+ Phân phối lại thu nhập và của cải một cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân, tập đoàn và

các giai tầng xã hội. Đặc biệt với những người giữ nhiều tài sản danh nghĩa (tiền mặt) và

những người làm công ăn lương.

+ Có những biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinh tế. Đặc biệt khi lạm

phát tăng nhanh cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của giá cả tương đối, có những doanh nghiệp,

ngành nghề có thể phất lên. Trái lại có những doanh nghiệp, ngành nghề sụp đổ.

Để hiểu rõ hơn tác hại của lạm phát có thể chia lạm phát thành 2 loại:

- Lạm phát thấy trước, còn gọi là lạm phát dự kiến (lạm phát ỳ). Có thể tính khá chính

xác sự tăng giá tương đối đều đặn của nó (ví dụ 1% tháng). Loại này ít gây tổn hại cho nền

kinh tế, mà gây nên những phiền toái đòi hỏi các hoạt động giao dịch thường xuyên phải được

điều chỉnh (thông tin kinh tế, chỉ số hoá các hợp đồng kinh tế, tiền lương ...).

- Lạm phát không thấy trước (không dự kiến): lạm phát này thường gây bất ngờ cho nền

kinh tế.

Tác hại của lạm phát còn dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ của các tầng lớp dân cư, do

kinh tế sa sút. Từ đó có thể dẫn đến mất ổn định chính trị. Vì vậy các Chính phủ đều tìm mọi

biện pháp chống lạm phát.

6.2.4. Các lý thuyết về lạm phát

Lạm phát xảy ra khi mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế tăng lên, mà các yếu tố đưa

đến tăng giá lại rất đa dạng và phức tạp, tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của một nền kinh tế

trước và trong quá trình xảy ra lạm phát. Vì vậy, phần này sẽ đề cập đến một số lý thuyết và

quan điểm nhằm lý giải những nguyên nhân gây ra và duy trì thúc đẩy lạm phát.



63



a) Lạm phát cầu kéo:

Xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ vượt quá tiềm năng. Lượng tiền trong lưu thông và

khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hoá.

Như vậy, bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung

hạn chế về hàng hoá có thể sản xuất được, trong điều kiện thị trường lao động đã cân bằng.

ASSRo

P



ASLR



ASSR



ASLR



P



P1



ASSR1



P1

E1



E1

E0



Po



AD1



E0



Po



AD



0

AD0



Hình 6.2 Chi tiêu quá khả năng cung ứng

Y*



b) Lạm phát chi phí đẩy



Hình 6.3 Chi phí tăng đẩy giá lên cao

Y1



Y



Yo



Y*



Y



Xảy ra khi giá cả các yếu tố đầu vào (tiền lương, nguyên liệu,...) tăng lên và đường tổng

cung dịch chuyển sang trái. Lạm phát cao đi liền với sản xuất đình trệ và thất nghiệp gia tăng,

nên còn được gọi là lạm phát đình trệ.

Các cơn sốt giá của thị trường đầu vào: đặc biệt là các vật tư cơ bản (xăng dầu, điện, ...) là

nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đường AS dịch chuyển lên trên. Tuy tổng cầu không

thay đổi nhưng giá cả đã tăng lên và sản lượng lại giảm xuống.

c) Lạm phát dự kiến

Trong nền kinh tế thị trường, trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có

xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong trường hợp này tăng đều đều với một

tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ, vì mọi người đã có

thể dự tính trước mức độ của nó nên còn gọi là lạm dự kiến. Mọi hoạt động kinh tế đã đựơc

tính toán điều chỉnh (ví dụ: điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong

các hợp đồng kinh tế, các khoản chi tiêu ngân sách....).

Hình 6.4 cho thấy lạm phát dự kiến xảy ra khi đường AS và đường AD dịch chuyển lên

trên với cùng một tốc độ, vì lạm phát đã được dự kiến nên chi phí sản xuất cũng như nhu cầu

chi tiêu đều được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ lạm phát nên sản lượng vẫn giữ nguyên,

nhưng giá cả đã tăng lên theo dự kiến.



64



ASLR



P



ASSR2

P2

P1



E’’

E’



E’’’



ASSR!

ASSRo



Po



AD’’

E



AD’

AD



Y*



Hình 6.4. Lạm phát dự kiến



Y



6.3. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp và biện pháp khắc phục lạm phát

6.3.1. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp

- Trong ngắn hạn: Khi kinh tế tăng trưởng, có nghĩa là qui mô sản xuất xã hội mở rộng,

sản lượng thực tế tăng lên, nhiều việc được tạo ra, thu hút thêm lao động nên thất nghiệp giảm

xuống, tuy nhiên tăng trưởng tăng lên thường kéo theo lạm phát.

Từ cuối những năm 1950 giáo sư phi líp đã nghiên cứu mối quan hệ này và đi đến kết

luận: giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ trao đổi cho nhau. Khi lạm phát tăng thì

thất nghiệp giảm va ngược lại.

- Trong dài hạn: cuối cùng nền kinh tế cũng quay về tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, dù cho tỷ

lệ lạm phát thế nào. Không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp.

6.3.2. Khắc phục lạm phát

Những giải pháp chung được lựa chọn để khắc phục lạm phát thường là:

Lạm phát liên quan đến sự tăng trưởng nhanh chóng của tiền tệ, tiền lương danh danh

nghĩa tăng cao, thâm hụt ngân sách càng lớn. Vì vậy giảm mạnh tốc độ tăng cung tiền, cắt

giảm mạnh mẽ chi tiêu ngân sách và kiểm soát có hiệu quả việc tăng lương danh nghĩa sẽ

ngăn chặn và đẩy lùi đựơc lạm phát.

Có thể xoá bỏ hoàn toàn lạm phát hay không? Cái giá phải trả của việc xoá bỏ hoàn toàn

lạm phát không tương xứng với lợi ích đem lại của nó. Vì vậy, các quốc gia thường chấp nhận

lạm phát ở mức thấp và xử lý ảnh hưởng của nó bằng việc chỉ số hoá các yếu tố chi phí như tiền

lương, lãi suất, giá vật tư,... Đó là cách làm cho thiệt hại của lạm phát là ít nhất.

*) Tài liệu học tập

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Kinh tế học vĩ mô - NXB Giáo dục, Hà Nội.

2. Kinh tế học vĩ mô - Học viện Tài chính - NXB Tài chính - Hà Nội, 2005.

3. Bài tập kinh tế vĩ mô - Trường ĐHKTQD - NXB Thống kê - Hà Nội, 1998



65



*) Câu hỏi ôn tập

1.

Thất nghiệp là gì? Phân tích tác hại của thất nghiệp và biện pháp giảm tỷ lệ

thất nghiệp?

2.



Lạm phát là gì? Các chỉ tiêu đo lường lạm phát?



3.



Các lý thuyết về lạm phát?



4.



Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp?



5.



Biện pháp khắc phục lạm phát?



66



Chương 7

KINH TẾ VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ MỞ

(Số tiết 6: LT = 4, BT, TL = 2)





Mục tiêu:

- Qua ví dụ cụ thể tìm hiểu nội dung của học thuyết lợi thế so sánh và từ đó

thấy được lợi ích kinh tế trong thương mại quốc tế

- Giới thiệu về cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái và hệ thống tài chính



7.1. Nguyên tắc lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế

Lý thuyết lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) do nhà kinh tế học người Anh (gốc Do thái)

David Ricardo (1772-1823) đặt nền móng đầu tiên.

7.1.1. Các giả thiết sử dụng khi nghiên cứu

Lý thuyết này được xây dựng dựa trên cơ sở 6 giả thiết:

- Trên thế giới chỉ có 2 quốc gia sản xuất ra 2 loại hàng hóa, trong đó mỗi quốc gia có lợi

thế so sánh tương đối về một mặt hàng.

- Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và có thể di chuyển tự do trong nước nhưng không

thể di chuyển lao động ra nước ngoài.

- Công nghệ sản xuất ở cả 2 nước không đổi.

- Chi phí sản xuất không đổi.

- Không có chi phí vận tải và thương mại giữa các nước hoàn toàn tự do.

- Sở thích tiêu dùng là như nhau ở cả 2 quốc gia.

7.1.2. Nội dung của học thuyết lợi thế so sánh

- Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế.

Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước do chỉ

chuyên môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu sản phẩm của mình để

đổi lấy hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác.

- Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn so với các nước khác hoặc không có lợi thế

tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi loại sản phẩm thì vẫn có thể và có lợi khi

tham gia vào phân công lao động quôc tế và thương mại quốc tế, vì mỗi nước có lợi thế so

sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh về một số mặt hàng khác.

- Lợi thế so sánh chỉ sự khác biệt về chi phí sản xuất tương đối (chi phí cơ hội).

- Một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một mặt hàng nào đó nếu nước đó có

chi phí sản xuất tương đối (chi phí cơ hội) sản xuất mặt hàng đó thấp hơn so với các nước khác.

- Xác định lợi thế so sánh của một quốc gia theo công thức sau:

Giả sử có 2 quốc gia A và B cùng sản xuất 2 mặt hàng X và Y

Quốc gia A có lợi thế so sánh trong sản xuất mặt hàng X nếu:

Chi phí SX ra một đơn vị hàng hóa X

của nước A



<

67



Chi phí SX ra một đơn vị hàng hóa X

của nước B



Chi phí SX ra một đơn vị hàng hóa Y

của nước A



Chi phí SX ra một đơn vị hàng hóa Y

của nước B



Chú ý: Lợi thế so sánh là một khái niệm có tính tương đối, nghĩa là trong một thế giới

gồm 2 quốc gia, khi đã xác định được một quốc gia có lợi thế so sánh về một mặt hàng nào đó

thì có thể rút ra kết luận là quốc gia thứ hai có lợi thế so sánh về mặt hàng kia.

7.1.3. Ví dụ minh hoạ

Giả sử thế giới chỉ có 2 nước là Anh và Mỹ cùng sản xuất ra 2 loại hàng hoá là lúa mì và

vải với chi phí sản xuất như sau:

Mỹ



Anh



Lúa mì (lao động/kg)



1



3



Vải (lao động/m)



2



4



Ta có:

Chi phí SX ra kg lúa mì của nước Mỹ



=



Chi phí SX ra 1m vải của nước Mỹ

Chi phí SX ra kg lúa mì của nước Mỹ



2

=



Chi phí SX ra 1m vải của nước Mỹ

1/2<3/4 



1



3

4



Mỹ có lợi thế tương đối trong việc sản xuất lúa mì



Anh có lợi thế tương đối trong việc sản xuất vải

Do đó, Mỹ nên chuyên môn hoá sản xuất lúa mì, Anh nên chuyên môn hoá sản xuất vải.

Sau đó, hai nước tiến hành trao đổi sản phẩm cho nhau dưới hình thức xuất nhậpkhẩu.

Giả sử, tỷ lệ trao đổi quốc tế là 1 vải = 1,5 lúa mì:

• Với Mỹ: Mỹ nên chuyên môn hoá sản xuất lúa mì

Giả sử, Mỹ chuyển 2 lao động từ sản xuất vải sang sản xuất lúa mĩ thì sẽ có 2 đơn vị lúa

mì được sản xuất ra. Và khi bán 2 đơn vị lúa mì đó sang Anh với giá quốc tế là 1 vải = 1,5 lúa

mì thì Mỹ sẽ thu về 2/1,5 = 1,33 đơn vị vải, nhiều hơn 0,33 đơn vị vải so với trường hợp tự

cung, tự cấp.

• Với Anh: Chuyên môn hoá sản xuất vải

Tương tự, nếu Anh chuyển 3 lao động từ sản xuất lúa mĩ sang sản xuất vải thì sẽ có 3/4

đơn vị vải được sản xuất ra. Và khi bán 3/4 = 0,75 đơn vị vải đó sang Mỹ với giá quốc tế là 1

vải = 1,5 lúa mì thì Mỹ sẽ thu về 0,75x1,5 = 1,125 đơn vị lúa mì, nhiều hơn 0,125 đơn vị lúa

mì so với trường hợp tự cung, tự cấp.

Như vậy, trao đổi hàng hoá sẽ đem lại lợi ích cho cả 2 bên tham gia. Thương mại quốc tế

làm tăng khả năng tiêu dùng của mỗi nước và tăng khả năng sản xuất của thế giới.



68



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (78 trang)

×