1. Trang chủ >
  2. Giáo án - Bài giảng >
  3. Cao đẳng - Đại học >

b. Đường tổng cung trong dài hạn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (526.67 KB, 78 trang )


+ Đỉnh của chu kỳ kinh doanh là điểm cao nhất mà tổng sản phẩm quốc dân thực tế đạt

được trong mỗi chu kỳ kinh doanh.

+ Đáy của chu kỳ kinh doanh là điểm thấp nhất mà tổng sản phẩm quốc dân thực tế đạt

được trong mỗi chu kỳ kinh doanh.

+ Sự đi xuống của chu kỳ kinh doanh tức là khoảng cách từ đỉnh đến đáy của chu kỳ kinh

doanh được gọi là suy thoái (khủng hoảng, thu hẹp). Điều này có nghĩa là tổng sản phẩm quốc

dân thực tế giảm xuống từ chỗ cao nhất đến chỗ thấp nhất.

+ Sự đi lên từ đáy đến đỉnh kế tiếp của chu kỳ kinh doanh được gọi là thời kỳ mở rộng

(tăng trưởng).

5.2.2. Đặc điểm của chu kỳ kinh doanh

* Đặc điểm thường gặp ở giai đoạn suy thoái

- Tiêu dùng của dân chúng giảm nhanh, hàng hoá tồn kho có xu hướng tăng lên ngoài dự kiến.

- Đầu tư vào kinh doanh, dịch vụ hàng hoá của hãng để tái sản xuất mở rộng (như xây dựng

nhà xưởng mới, mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm trang thiết bị máy móc…) cũng giảm theo.

- Số lao động có việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp cao. Chi tiêu cho trợ cấp thất nghiệp

tăng.

- Lạm phát giảm, nhưng chính sách kinh tế vĩ mô không thích ứng thì cũng có thể dẫn tới

vừa suy thoái vừa lạm phát.

- Giá chứng khoán giảm xuống khi các nhà đầu tư cảm nhận được chu kỳ kinh doanh đi

xuống. Tuy nhiên do cầu tín dụng giảm lãi suất cũng có thể giảm theo.

- Lợi nhuận của doanh nghiệp giảm nên giảm đầu tư.

- Số thu về thuế giảm

- Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội bất ổn.

* Đặc điểm thường gặp ở giai đoạn mở rộng

- Tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, thu nhập dân chúng tăng nên chi tiêu của họ cũng

được tăng lên một cách đáng kể.

- Lợi nhuận của doanh nghiệp tăng, kéo theo là đầu tư của các hãng, đầu tư nước ngoài tăng.

- Chi tiêu của chính phủ tăng, số thuế thu được nhiều nên ngân sách thường thặng dư.

- Lạm phát tăng, thất nghiệp giảm.

- Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội phát triển và ổn định vững chắc.

Từ đặc điểm trên ta có thể thấy rằng đặc điểm của giai đoạn mở rộng là hình ảnh phản

chiếu của giai đoạn suy thoái.

5.2.3. Các nguyên nhân của chu kỳ kinh doanh

Nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh doanh hiện nay đang được các nhà kinh tế học vĩ mô

quan tâm và tranh luận khá sôi nổi. Những ý kiến cho rằng phần lớn là do những dao động

của tổng cầu, hoạ hoằn mới do sự chuyển dịch của tổng cung gây ra. Nhưng vấn đề đặt ra ở

51



đây là nhân tố nào làm cho tổng cầu và tổng cung dịch chuyển? Tại sao nền kinh tế có giai

đoạn mở rộng, có giai đoạn thu hẹp như vậy?

Các lý thuyết nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh chia thành 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến

chu kỳ kinh doanh đó là nhóm nhân tố ngoại sinh và nội sinh.

- Nhóm nhân tố ngoại sinh: là nhóm nhân tố bên ngoài hệ thống kinh tế. Nhóm này bao

gồm dân số, chiến tranh, hệ thống chính trị, điều kiện tự nhiên (khí hậu, thời tiết…), những

phát kiến và đổi mới công nghệ biến động. Gần đây nhiều nhà kinh tế phân tích cho rằng nền

kinh tế thế giới dễ rơi vào cuộc khủng hoảng do những lo ngại của dân chúng sau khi có cuộc

xâm lược của Mỹ ở Irắc.

- Nhóm nhân tố nội sinh: là nhóm các nhân tố bên trong bản thân hệ thống kinh tế vốn

chứa đựng những cơ chế làm nảy sinh ra chu kỳ kinh doanh. Mọi sự mở rộng (bành chướng)

đều nuôi dưỡng sự suy thoái (thu hẹp) và mọi sự thu hẹp đều nôi dưỡng sự mở rộng theo một

chỗi lặp đi lặp lại.

5.2.4. Một số lý thuyết về chu kỳ kinh doanh

Mặc nhiên, hiện nay chúng ta cũng cần quan tâm đến một số lý thuyết về chu kỳ kinh

doanh đó là:

- Lý thuyết tiền tệ cho rằng sở dĩ có chu kỳ kinh doanh là do sự mở rộng chính sách tiền

tệ (thông qua việc tăng mức cung tiền) và thắt chặt chính sách tiền tệ (bằng việc giảm mức

cung tiền hoặc tăng lãi suất).

- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng đánh giá những những nhận thức sai lầm về sự

vận động giá cả và tiền lương đã khiến cho các tác nhân trong nền kinh tế cung ứng quá nhiều

lao động hay quá ít lao động dẫn đến chu kỳ kinh doanh.

- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế phát biểu rằng những biến động về năng suất tích

cực hay tiêu cực trong một khu vực có tính lan toả sang các phần khác của nền kinh tế và gây

ra những dao động.

- Lý thuyết chính trị cho rằng các dao động là do các chính trị gia – người lôi kéo các

chính sách tài khoá và tiền tệ để được tái đắc cử.

- Mô hình gia tốc - số nhân: lý thuyết này cho rằng biến động ngoại sinh được lan truyền

bằng một số nhân đi cùng với một lý thuyết đầu tư (được gọi là lý thuyết gia tốc). Do đó,

chúng tạo ra những dao động chu kỳ có tính quy luật của sản lượng.

Đầu tư tăng sản lượng tăng (theo mô hình số nhân)  đầu tư tăng (theo nguyên tắc gia

tốc)  sản lượng tăng (theo mô hình số nhân)… Đạt đến đỉnh chu kỳ.

Tiếp đến sản lượng ngừng tăng đầu tư giảm (theo nguyên tắc gia tốc)  sản lượng

giảm (theo mô hình số nhân)… Chạm đáy chu kỳ.

Tiếp đến, đầu tư tăng lên và thời kỳ mở rộng lại bắt đầu.

Tóm lại, đà tư tăng lên sẽ làm cho sản lượng được khuếch đại qua mô hình số nhân. Sản

lượng tăng lên làm cho xu hướng đầu tư cận biên tăng. Quá trình này tiếp diễn không ngừng

đã tạo ra những dao động của chu kỳ kinh doanh.

52



Các lý thuyết nêu trên hiện nay còn nhiều vấn đề tranh luận nhưng chúng đều chứa đựng

những yếu tố hiện thực ở mối quốc gia, mỗi một giai đoạn nhưng không có một lý thuyết nào

đúng hoàn toàn trong mọi hoàn cảnh.

5.2.5. Tác động của chu kỳ kinh doanh

Một vấn đề đặt ra ở đây là tại sao tổng sản phẩm quốc dân thực tế quá nhiều hoặc quá ít

là không tốt, hay nói một cách khác dao động của chukỳ kinh doanh quá lớn ảnh hưởng lớn

đến vấn đề kinh tế - chính trị, xã hội.

+ Trước hết chu kỳ kinh doanh tác động đến lạm phát.

Nếu GNP thực tế tăng quá nhiều so với GNP tiềm năng dẫn đến lạm phát cao, lạm phát

tăng cao đưa nền kinh tế rơi vào thời kỳ khủng hoảng do đó ảnh hưởng đến phát triển kinh tế

chậm, tình hình chính trị, xã hội không ổn định. Điều này thực tế đã chứng minh ở một số

nước châu Á trong những năm đầu của thế kỷ 21.

Ta có thể nhận thấy rằng khi GNP thực tế giảm xuống quá nhiều so với GNP tiềm năng

thì tỷ lệ thất nghiệp thực tế cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Hay nói một

cách khác là số lao động có việc làm giảm, số lao động thất nghiệp ngày càng gia tăng. Điều

này cũng dẫn đến nền kinh tế sa sút, chính trị, xã hội cũng không ổn định.

Ngoài ra, chu kỳ kinh doanh còn tác động đến các lĩnh vực khác như đầu tư, ngân sách

của chính phủ, cán cân thanh toán quốc tế, tâm lý và lòng tin của mọi người.

5.2.6. Chế ngự các chu kỳ kinh doanh: chính sách ổn định nền kinh tế

a. Sự không ổn định của nền kinh tế

* Các "cú sốc"đối với tổng cầu:

Nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng ngắn hạn tại điểm E 0, ta tìm được giá và sản lượng

thực tế cân bằng (Pa0 và Qa0). Giả sử vì một lý do nào đó mà một làn sóng bi quan lan ra toàn

bộ nền kinh tế. Những lý do đó có thể là sự thay đổi chi tiêu trong các hộ gia đình, hãng và

chính phủ suy giảm, làm cho tổng cầu về lượng hàng hoá dịch vụ cũng giảm theo.

Hình 5.3 cho chúng ta thấy ảnh hưởng của sự suy giảm tổng cầu đó. Đường tổng cầu

trong ngắn hạn dịch chuyển từ AD 0 đến AD1. Nếu không có sự thay đổi nào của tổng cung thì

nền kinh tế sẽ hình thành trạng thái cân bằng mới tại điểm E 1. Tại điểm này sản lượng thực tế

giảm từ Qao đến Qa1, mức giá giảm từ Pa0 đến Pa1.

P



SLTN



Pa0



AS0



E0



Pa1



E1

AD0



0

Qa1



Qa0



AD1

QP



Q (Y)



Hình 5.3. Sự suy giảm của tổng cầu

53



Sự suy giảm sản lượng này cho thấy nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái. Mặc nhiên

cũng phải nhận thức được rằng mức độ của sự giảm của sản lượng và giá cả tuỳ thuộc mức độ

tác động mạnh hay yếu của làn sóng trên và độ dốc củ đường AD0 và AS0.

Giả sử tốc độ lưu thông tiền tệ tăng, chi tiêu của chính phủ tăng… làm cho đường tổng cầu

dịch chuyển sang phải theo chiều hướng tăng tổng cầu.

P



SLTN



AS0



Pa1



E1



Pa0



E0



AD1

AD0



0



Qa1



Qa0



QP



Q(Y)



Hình 5.4. Sự gia tăng của tổng cầu



Từ hình 5.4 có thể nhận thấy rằng trong ngắn hạn khi tổng cầu tăng làm cho sản lượng

thực tế tăng cao hơn so với sản lượng tiềm năng và giá cũng tăng theo.

b. Những "cú sốc" đối với tổng cung

Cũng như những "cú sốc" của tổng cầu, các "cú sốc" của tổng cung cũng gây ra sự không

ổn định nền kinh tế. Phần lớn các "cú sốc" của tổng cung thường diễn ra với sự tác động của

chi phí sản xuất.

Giả sử các tác nhân trong nền kinh tế phải đối mặt với chi phí sản xuất cao hơn trước. Ví

dụ như khi điều kiện khí hậu thời tiết bất lợi cho mùa màng, chiến tranh Irắc xảy ra làm tăng

chi phí khai thác, vận chuyển dầu mỏ làm cho giá dầu mỏ, xăng dầu cao, tỷ lệ tăng do công

đoàn đấu tranh mạnh hơn… Với sự gia tăng của chi phí sản xuất làm cho đường tổng cung

dịch chuyển lên trên, dẫn đến một thực trạng của nền kinh tế là sản lượng thực tế suy giảm,

giá cả tăng cao, điều đó cũng tương đồng với nền kinh tế vừa suy thoái, vừa lạm phát.

P

AS1



SLTN



AS0



Pa1



E1

E0



Pa0



0



AD0



Qa1



Q1



QP



Hình 5.5. Sự suy giảm của tổng cung

54



Q



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (78 trang)

×