1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

1 Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (241.63 KB, 32 trang )


chung nên sản phẩm và từng nhóm sản xuất chuyên môn hóa cũng là của chung.

Chính quan hệ sớ hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc

lập, đối lập với nhau, nhưng lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc

lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người kia phải thông

mua - bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới hình thái hàng hóa.

2.1.2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa

2.1.2.1 Đặc trưng



Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích để trao đổi, không nhằm mục

đích tiêu dùng.

Sản xuất hàng hóa có đặc trưng là cạnh tranh gay gắt. Cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc

mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải

tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm,

nhằm tiêu thụ được hàng hóa và tăng lợi nhuận. Nhờ đó, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.

2.1.2.2 Ưu thế



Thứ nhất, vì sản xuất hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường nên khi nhu cầu thị

trường càng lớn càng tạo động lực mạnh mẽ để thúc đẩy sản xuất phát triển.

Thứ hai, để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh gay gắt, lực lượng sản xuất không ngừng

được cải tiến và phát triển.

Thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng dược nâng cao nhờ vào

giao lưu kinh tế, văn hóa trong nước và quốc tế ngày càng phát triển.

Thứ tư, khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ

sở cũng như từng vùng, từng địa phương

2.2 Hàng hóa

2.2.1 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa



Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông

qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa được phân thành hai loại: hàng hóa hữu hình (ví dụ như: sắt,

thép, lương thực...) và hàng hóa vô hình (ví dụ như: dịch vụ thương mại, vận tải...).



C.Mác còn nghiên cứu tính thống nhất của hai thuộc tính cùng tồn tại trong cùng một sản

phẩm hàng hóa: giá trị sử dụng và giá trị.

Giá trị sử dụng cùa hàng hóa

Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hảng hóa để thỏa mãn nhu cầu nào đó của

con người. Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định, do những thuộc

tính tự nhiên (lý, hóa học) quyết định, làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng. Do đó, giá trị sử

dụng là một phạm trù vĩnh viễn và là thuộc tính tự nhiên của hàng hóa.

Giá trị của hàng hóa

Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, thể hiện tỷ lệ trao đổi giữa hàng hóa này với

hàng hóa khác.

Hai hàng hóa so sánh được với nhau thì bản thân hai hàng hóa phải có một cơ sở chung

giống nhau. Điểm chung đó là: mọi hàng hóa đều là sản phẩm của lao động. Vậy, thực chất của

trao đổi sản phẩm là trao đổi lao động ẩn giấu trong những hàng hóa đó. Chính lao động là cơ sở

của trao đổi và tạo thành giá trị hàng hóa,

2.2.2 Mối liên hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa



Hai thuộc tính này có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.

Tỉnh thống nhất biểu hiện ở chỗ hai thuộc tính nàv cùng đồng thời tồn tại trong một hàng

hóa, nếu thiếu một trong hai thuộc tính không phải là hàng hóa.

Tính mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ:

Thứ nhất, các hàng hóa khác nhau về chất với tư cách là giá trị sử dụng nhưng với tư cách

là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất.

Thứ hai, quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng có sự tách rời về mặt không gian và

thời gian. Trong khi giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông và thực hiện trước thì gía trị

sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng. Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử

dụng phải thực hiện giá trị của nó. Nếu không thực hiện giá trị sẽ không có giá trị sử dụng. Mâu

thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa là một trong những nguyên nhân dẫn đển khủng

hoảng sản xuất thừa.

2.2.3 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hỏa



C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa: lao

động cụ thể và lao động trừu tượng.

Lao động cụ thể

Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp

chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối

tượng lao động, kết quả lao động riêng. Những cái riêng đó là cơ sở để phân biệt các loại hàng

hóa khác nhau. Nói cách khác, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.

Lao động trừu tượng

Lao động trừu tượng là sự tiêu hao sức lao động của người sản xuất hàng hóa nói chung.

Do đó, lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa tạo ra giá trị của hàng hóa. Hay, giá trị

của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong sản xuất hàng

hóa. Đây chính là mặt chất của giá trị hàng hóa.

Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội:

Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ánh tính chất tư nhân và tính chất

xã hội của lao động của người sản xuất hàng hóa. Trong đó, lao động cụ thể biểu hiện thành lao

động tư nhân và lao động trừu tượng biểu hiện thành lao động xã hội.

Sản phẩm do người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra có thể không phù hợp với nhu cầu

của xã hội (thừa hoặc thiếu). Nếu sản xuất vượt quá nhu cầu xã hội sẽ dẫn đến giá cả nhỏ hơn gía

trị, một số hàng hóa không bán được, không thực hiện được giá trị, có nguy cơ khủng hoảng

thừa. Ngược lại, sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu sẽ làm giá cả lớn hơn gía trị, có nguy cơ

khủng hoảng thiếu.

Ngoài ra, khi chi phí cá biệt của người sản xuất hàng hóa cao hơn so với chi phí xã hội

trung bình, hàng hóa không bán được, không thu hồi được chi phí lao động bỏ ra.

Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm móng của mọi mâu thuẫn

trong nền sản xuất hàng hóa. Chính vì mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng hóa vừa vận động phát

triển, vừa tiềm ẩn rủi ro khủng hoảng.

2.2.4 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa

2.2.4.1 Thước đo lượng gía trị hàng hóa



Lượng giá trị hàng hóa không đo bằng thời gian lao động cá biệt mà đo bằng thời gian lao

động xã hội cần thiết.

Trong đó, thời gian lao động cá biệt là thời gian mà cần để sản xuất ra hàng hóa tùy vào

điều kiện và năng lực của mỗi cá nhân; và,thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần

thiết để sản xuất hàng hoá, với trình độ thành thạo trung bình, cường độ trung bình, trong những

điều kiện bình thường so với hoàn cảnh xã hội nhất định.

Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian lao động cá biệt của

người sản xuất hàng hoá nào cung cấp đại bộ phận hàng hoá đó trên thị trường.

2.2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa



Năng suất lao động: là năng lực sản xuất của người lao động, được đo bằng số lượng sản

phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một

đơn vị sản phẩm. Giá trị hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động.

Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động là: trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình

của người công nhân; mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và mức độ ứng dụng

những thành tựu đó vào sản xuất và trình độ quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và

các điều kiện tự nhiên... Do đo, để tăng năng suất lao động cần phải tác động, cải thiện các yếu tố

này.

Cường độ lao động, nói lên mức độ khẩn trương nặng nhọc của người lao động trong một

đơn vị thời gian, được đo bằng sự tiêu hao lao động trong một đơn vị thời gian và thường được

tính bằng số calo hao phí trong một đơn vị thời gian. Thực chất, tăng cường độ lao động là kéo

dài thời gian lao động nên tổng giá trị hàng hóa tăng lên còn giá trị một đơn vị sản phẩm vẫn

không đổi.

Cường độ lao động phụ thuộc vào; trình độ tổ chức quản lý; quy mô và hiệu suất cùa tư

liệu sản xuất và thể chất, tinh thần của người lao động.

Mức độ phức tạp của lao động : được chia thành hai loại lao động giản đơn - lao động

không qua huấn luyện, đào tạo, lao động, không thành thạo và lao động phức tạp - lao động phải

qua huấn luyện đào tạo, lao động thành thạo.

Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn vì

vậy lượng giá trị hàng hóa giảm. Lao động phức tạp chính là bội số của lao động giản đơn. Khi



đem trao đổi ở trên thị trường người ta lấy lao động giản đơn làm đơn vị và quy mọi lao động

thành lao động giản đơn.

2.2.4.3 Cơ cấu lượng giá trị hàng hóa



Cơ cấu lượng giá trị hàng hóa gồm hai bộ phận: bộ phận giá trị cũ - do lao động quá khứ

tồn tại trong các yếu tố như tư liệu sản xuất tạo nên,và bộ phận giá trị mới - do lao động sống

hao phí trong quá trình chế bỉến tư liệu sản xuất thành sản phẩm - hàng hóa mới.

2.3 Tiền tệ

2.3.1 Lịch sử phát triển của hình thái giá trị



Tiền tệ ra đời là do yêu cầu trao đổi hàng hóa của nền sản xuất hàng hóa, trải qua bốn

hình thái biểu hiện của giá trị:

Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị: xuất hiện khi sản xuất còn ở trình độ rất

thấp, sản phẩm tạo ra chưa nhiều các sản phẩm lao động biến thành hàng hoá trong những hành

vi đơn nhất và ngẫu nhiên. Ở đây, giá trị cùa một hàng hóa chỉ biểu hiện đơn nhất ở một hàng

hoá khác gắn với quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trực tiếp hàng lấy hàng, tỷ lệ trao

đổi cũng ngẫu nhiên được hình thành. Hàng hoá thứ hai đóng vai trò vật ngang giá là hình thái

phôi thai của tiền tệ.

Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị: giá trị của 1 hàng hóa được biểu hiện ở giá trị

sử dụng của nhiều hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá chung.

Hình thái chung của giá trị: xuất hiện vật ngang giá chung là một hàng hoá được tách ra

từ các hàng hoá. Giá trị của mọi hàng hóa đều được biểu hiện ở giá trị sử dụng của một hàng

hóa đóng vai trò làm vật ngang giá chung. Vật ngang giá chung chưa cố định ở một hàng hoá

nào cả, tùy từng địa phương, từng thời kỳ mà người ta chọn lựa những vật ngang giá chung

khác nhau.

Hình thái tiền: giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng

vai trò tiền tệ. Lúc đầu, có nhiều loại hàng hoá đóng vai trò tiền tệ, nhưng dần dần được chuyển

sang các kim loại quý (tiền kim loại) như đồng rồi bạc và cuối cùng là vàng.

2.3.2 Bản chất của tiền tệ



Tiền là một hàng hóa đặc biệt, được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng



hoá, là hình thái cao nhất của giá trị hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị và biểu hiện mối

quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá.

2.3.3 Chức năng của tiền tệ



Thước đo giá trị

Giá trị của hàng hóa được biểu hiện ra bằng một lượng tiền nhất định, được gọi là giá cả

hàng hóa. Hay, giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Để thực

hiện được chức năng này có thể chỉ cần một lượng tiền tưởng tượng, không cần thiết phải có tiền

mặt

Phương tiện lưu thông

Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá (H- T- H’). Khi làm phương tiện lưu thông, tiền

phải có mặt trên thực tế (vàng thỏi, bạc nén, tiền đúc, tiền giấy...).

Với chức năng là phương tiện lưu thông, ban đầu, tiền xuất hiện trực tiếp dưới hình thức

vàng thỏi, bạc nén. Sau đó là tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy ra đời. Tiền giấy chỉ là ký hiệu

giá trị do nhà nước phát hành và buộc xã hội công nhận nên không có giá trị thực.

Thực hiện chức năng này, tiền làm cho quá trình mua bán diễn ra được thuận lợi, nhưng

đồng thời nó cũng làm cho việc mua bán tách rời nhau cả về không gian và thời gian, do đó nó

đã bao hàm khả năng khùng hoảng.

Phương tiện thanh toán

Thực hiện chức năng này, tiền được dùng để chi trả sau khi giao dịch, mua bán đã hoàn

thành, như trả tiền mua hàng chịu, trả nợ, nộp thuế...

Tiền làm phương tiện thanh toán có tác dụng đáp ứng kịp thời nhu cầu của người sản xuất

hoặc tiêu dùng ngay cả khi họ chưa có đủ tiền. Đồng thời, khi chức năng này càng được thực

hiện rộng rãi thì khả năng khủng hoảng cũng sẽ tăng lên khi một khâu n ào đó trong hệ thống

thanh toán bị phá vỡ.

Trong quá trình thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, xuất hiện một loại tiền mới tiền tín dụng dưới hình thức như: giấy bạc ngân hàng, tiền ghi sổ tài khoản có thể phát hành séc,

tiền điện tử, thẻ thanh toán... điều đó chứng tỏ các hình thức của tiền đã được phát triển hơn.

Phương tiện cất trữ



Khi làm phương tiện cất trữ, tiền được rút khỏi lưu thông, trở về trạng thái tĩnh. Nói cách

khác, tiền tệ là nơi cất trữ sức mua qua thời gian.

Tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức

cất trữ của cải .Hình thức này cỏ ưu điểm nổi bật là tính thanh khoản cao.

Tiền thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị hiệu quả cao hay thấp tuỳ thuộc vào sự

ổn định của mức giá chung. Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi, làm cho người ta ít

muốn giữ nó và ngược lại. Vì vậy để thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sức mua của tiền phải

ổn định.

Tiền tệ thế giới

Chức năng này xuất hiện khi trao đổi hàng hoá mở rộng ra bên ngoài biên giới quốc gia và

hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước. Lúc này, tiền tệ thực hiện bổn chức năng thước đo

giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán và phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài

quốc gia. Hay, đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thể giới khi tiền của quốc gia

đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

Tóm lại, theo C.Mác tiền tệ có năm chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi,

phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy và tiền tệ thế giới. Năm chức năng này quan hệ mật

thiết với nhau và thông thường tiền làm nhiều chức năng cùng một lúc.

2.4 Quy luật giá trị

2.4.1 Nội dung của quy luật giá trị



Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị của nó “ hao phí lao động xã hội

cần thiết. Trong sản xuất, người sản xuất phải tạo ra khối lượng sản phẩm phù hợp nhu cầu có

khả năng thanh toán của xã hội và phải đảm bảo hao phí lao động cá biệt phù hợp với hao phí lao

động xã hội cần thiết. Và, lưu thông hàng hóa phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá - giá cả

phù hợp với giá trị.

2.4.2 Tác động của quy luật giá trị



Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

Quy luật giá trị điều tiết sản xuất một cách tự phát thông qua sự lên xuống của giá cả. Nhờ

đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được phân chia vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng



nhu cầu của xã hội.

Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa, quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hoá từ

nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, và đo đó, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có

sự cân bằng nhất định.

Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sàn xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành

sản phẩm



-



Người sàn xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã

hội cẩn thiết sẽ thu được nhiều lợi nhuận, chi phí càng thấp lợi nhuận càng lớn. Điều đó kích

thích những người sản xuất hàng hoá cải tiển kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản

lý, thực hiện tiết kiệm... nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất. Do đó, năng suất lao

động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.

Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu,

người nghèo

Người nào có giá trị lao động cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hộí thu được nhiều lợi nhuận trở

nên giàu có. Ngược lại, người nào có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội sẽ rơi vào tình trạng

thua lỗ trở nên nghèo khó.

Dưới góc độ tích cực, đây là động lực để thúc đẩy phát triển sản xuất vì nó làm phân hóa

những người sản xuất hàng hóa, tập trung vốn, nhanh chóng chuyển nền sản xuất nhỏ lên sản

xuất lớn hiện đại. Ở khía cạnh khác, sự phân hóa giàu nghèo của sản xuất hàng hóa có tác động

tiêu cực đến phát triển xã hội.



CHƯƠNG 3

NHẬN THỨC VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY



3.1 Nhận thức chung



Học thuyết kinh tế cho rằng giá trị hàng hoả là do lao động sản xuất ra hàng hoá quyết

định. Người đặt nền móng đầu tiên cho học thuyết này là W.Petty rồi đến A.Smith và D.Ricardo,

là những người đóng góp lớn vào học thuyết giá trị lao động. Tuy vậy, phải qua nhiều thế kỷ trao

đổi hàng hoá, con người mới dần dần hiểu ra được thực thể của giá trị và nhận thức dược quy

luật giá trị. Phải chờ đến C. Mac thì học thuyết giá trị lao động mới phát triển đầy đủ. Ông phân

tích những điều kiện cần và đủ để đảm bảo cho nền kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển. Đó là

phân công lao động xã hội, bao gồm cả trong nước và quốc tế và ông cho rằng trình độ phân

công ỉao động xã hội càng cao thì nền kinh tế càng phát triển. Mác cũng thừa nhận nhiều chủ thể

sỡ hữu cùng tồn tại và phát triển, là cơ sở tạo ra sức mạnh của nền kinh tế thị trường. Mac đã

phân tích nền kinh tê tư bản chù nghĩa, khám phá ra giá trị sức lao động được xem là hàng hoá,

quy luật giá trị thặng dư và hệ thống các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, qua đó làm cho

nhận thức về quy luật giá trị được đầy đủ hơn.

3.2 Nhận thức về quy luật giá trị

3.2.1 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa



C.Mác nghiên cứu tính thống nhất của hai thuộc tính cùng tồn tại trong cùng một sản phấm

hàng hóa: giá trị sử dụng và giả trị. Tuy nhiên, sự thống nhất này luôn chứa đựng mâu thuẫn và

cần phải xử lý.

Giá trị sừ dụng là công dụng, là tính có ích của hảng hóa giúp thỏa mãn nhu các cùa con

người, của xã hội, có thê là nhu càu cá nhân, có thể là nhu cầu tiêu dùng trong sản xuất như máy

móc, nguyên liệu ... có thể ỉà nhu cầu vật chất hay tinh thần. Chính công dụng của vật phẩm đã

làm cho nó trở thành một giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của vật pham do thuọc tuih tự nhiên của

vật phâm quy định. Xã hội loài người càng phát triển thì càng phát hiện ra nhiều thuộc tính tự

nhiên và tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau. Chẳng hạn, than đá từ xa xưa chỉ dùng làm

nhiên liệu, đến nay còn là nguyên liệu của nhiều sản phẩm với giá trị sử dụng cao. Căn cứ vào



giá trị sử dụng, vào công dụng có thể phân biệt được các loại hàng hóa khác nhau. Vì vậy, giá trị

sử dụng nói lên mặt chất của hàng hóa. Giá trị sử dụng xuất phát từ thuộc tính cơ lý hóa tự nhiên

của vật chất nên nó là một phạm trù vĩnh viễn.

Hàng hóa đem trao đổi sẽ có giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ tức là quan hệ

về số lượng giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: l mét vải đổi được 10kg

thóc. Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau trao đổi được với nhau vì chúng

thuộc hai sở hữu khác nhau và họ cần đến sản phẩm của nhau. Chúng trao đổi với nhau theo một

tỷ lệ nhất định, vì chúng có cơ sở chung là: đều là sản phẩm của lao động; kết tinh lượng hao phí

lao động như nhau. Cơ sở chung này được gọi là giá trị của hàng hóa.



.



Vậy giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong

hàng hóa đó. Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hiện thực biểu hiện

của giá trị.

C. Mác chỉ ra rằng, những giá trị sử dụng của các loại hàng hoá là muôn hình vạn trạng

không thể dùng số lượng để đo lường chúng là bao nhiêu. Ông nói: "Nếu bóc tách riêng giá trị sử

dụng của hàng hoá ra, hàng hoá chỉ còn lại một thuộc tính, đó là thuộc tính sản phẩm lao động".

Tức là, giá trị của hàng hoá chính là lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó. Cho nên,

chúng ta thường nói rằng, lao động tạo ra giá trị.

3.2.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa



C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa: lao

động cụ thể và lao động trừu tượng. Nó có mối quan hệ chặt chẽ với hai thuộc tính của hàng hóa.

Lao động cụ thể là lao động tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Lao động trừu tượng là lao động

tạo ra giá trị của hàng hỏa.

Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, để đạt được giá trị thặng dư, nhà tư bản bắt buộc phải tìm

trên thị trường loại hàng hoá mà bản thân giả trị sử dụng của nó có một thuộc tính đặc biệt làm

nguồn gốc cho giá trị, quá trình sử dụng nó đồng thời là quá trình tạo ra giá trị. Loại hàng hoá

đặc thù đó chính là sức lao động của con người. Điều cần lưu ý "lao động" và "sức lao động" là

hai khái niệm không giống nhau. Sức lao động là năng lực tiến hành lao động của con người. Sử

dụng sức lao động mới là lao động, mà lao động tức là tạo ra giá trị. Giá trị của bản thân sức lao

động bị quyết định bởi thời gian lao động bắt buộc (tức giá trị chi phí trang trải sinh hoạt mà



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (32 trang)

×