1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

2 Nhận thức về quy luật giá trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (241.63 KB, 32 trang )


giá trị sử dụng, vào công dụng có thể phân biệt được các loại hàng hóa khác nhau. Vì vậy, giá trị

sử dụng nói lên mặt chất của hàng hóa. Giá trị sử dụng xuất phát từ thuộc tính cơ lý hóa tự nhiên

của vật chất nên nó là một phạm trù vĩnh viễn.

Hàng hóa đem trao đổi sẽ có giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ tức là quan hệ

về số lượng giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: l mét vải đổi được 10kg

thóc. Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau trao đổi được với nhau vì chúng

thuộc hai sở hữu khác nhau và họ cần đến sản phẩm của nhau. Chúng trao đổi với nhau theo một

tỷ lệ nhất định, vì chúng có cơ sở chung là: đều là sản phẩm của lao động; kết tinh lượng hao phí

lao động như nhau. Cơ sở chung này được gọi là giá trị của hàng hóa.



.



Vậy giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong

hàng hóa đó. Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hiện thực biểu hiện

của giá trị.

C. Mác chỉ ra rằng, những giá trị sử dụng của các loại hàng hoá là muôn hình vạn trạng

không thể dùng số lượng để đo lường chúng là bao nhiêu. Ông nói: "Nếu bóc tách riêng giá trị sử

dụng của hàng hoá ra, hàng hoá chỉ còn lại một thuộc tính, đó là thuộc tính sản phẩm lao động".

Tức là, giá trị của hàng hoá chính là lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó. Cho nên,

chúng ta thường nói rằng, lao động tạo ra giá trị.

3.2.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa



C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa: lao

động cụ thể và lao động trừu tượng. Nó có mối quan hệ chặt chẽ với hai thuộc tính của hàng hóa.

Lao động cụ thể là lao động tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Lao động trừu tượng là lao động

tạo ra giá trị của hàng hỏa.

Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, để đạt được giá trị thặng dư, nhà tư bản bắt buộc phải tìm

trên thị trường loại hàng hoá mà bản thân giả trị sử dụng của nó có một thuộc tính đặc biệt làm

nguồn gốc cho giá trị, quá trình sử dụng nó đồng thời là quá trình tạo ra giá trị. Loại hàng hoá

đặc thù đó chính là sức lao động của con người. Điều cần lưu ý "lao động" và "sức lao động" là

hai khái niệm không giống nhau. Sức lao động là năng lực tiến hành lao động của con người. Sử

dụng sức lao động mới là lao động, mà lao động tức là tạo ra giá trị. Giá trị của bản thân sức lao

động bị quyết định bởi thời gian lao động bắt buộc (tức giá trị chi phí trang trải sinh hoạt mà



công nhân và người nhà của họ cần đến) trong xã hội có nhu cầu về sức lao động sản xuất.

Khoa học kỹ thuật càng phát triển dường như đã làm thay đổi về tính chất quan hệ giữa lao

động quá khứ và lao động vào thời điểm hiện tại. Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật tiến hành

tự động hoá sản xuất đã thúc đây sức sản xuất tăng cao không ngừng. Trong sản xuất lớn hiện

đại hoá, nhờ hệ thống tự động hoá, khiến cho việc dùng sức lực trực tiếp cho sản xuất ngày càng

ít đi rất nhiều, có những ngành mà người sản xuất trực tiếp biến thành người quản lý, người điều

tiết quá trình sản xuất. Vậy trong tình hình ấy, lý luận giá trị lao động của C.Mác có còn phù hợp

với chủ nghĩa tư bản đương đại không? Nguyên lý lao động tạo ra giá trị có phải đã quá thời, mất

đi tác dụng? Đây là vấn đề lý luận rất lớn cần được nghiên cứu, giải đáp.

C. Mác đã chỉ ra rằng, sức lao động là năng lực của người tiến hành lao động, la "tổng hòa

của thể lực và trí lực tồn tại trong thân thể con người hay trong cơ thể con người sống, được vận

dụng mỗi khi con người sản xuât ra giá trị sử dụng nao đó. Sử dụng sức lao động chính là lao

động. Nhìn chung, "quá trình lao động đều kết hợp lao động trí óc và lao động thể lực". Theo C.

Mác, lao động tạo ra giá trị bao gồm lao động thể lực và cả lao động trí óc, thêm nữa, hai loại lao

động này được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất. Cái gọi là giá trị, chính là lao động

trong quá khứ được ngưng kết trong hàng hoá. "Bản thân giá trị sử dụng (của sức lao động) đã có

thuộc tính đặc thù để trở thành nguồn gốc của giá trị. Do đó, việc sử dụng nó thực tế chính là quá

trình vật hoá lao động từ đó sáng tạo nên giá trị". C.Mác chưa từng nói chỉ có mỗi lao động thể

lực của con người mới làm nên giá trị, ông không hề coi thường vai trò của lao động trí óc và

nhân tố trí tuệ trong việc tạo ra giá trị. Ngược lại, C.Mác rất đề cao vai trò quan trọng của lao

động trí óc và yếu tố trí tuệ của con người trong quá trình sản xuất. Ông còn nhấn mạnh rằng,

chính phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới tạo ra sự đối lập giữa lao động trí óc với lao

động thể lực. ông nói: "Đặc điểm của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là ở chỗ nó chia

tách các loại lao động khác nhau, do đó nó tách lao động trí óc và lao động thể lực, hoặc có thể

nói, chia tách các loại lao động lấy lao động lấy trí óc làm chủ đạo hay lấy lao động lấy thể lực

làm chủ đạo, phân phối cho những người khác nhau. Nhưng sự phân tách đó không thể xoá đi

được một điểm: quan hệ của mỗi người trong số họ đối với tư bản đều là quan hệ với người thuê

mướn lao động, đều là quan hệ công

nhân sản xuất theo ý nghĩa đặc thù đó".

3.2.3 Nội dung quy luật giá trị



Theo C.Mác, GTHH = c (giá trị cũ) + V + m (giá trị mới)

Như ta đã biết, giá trị phản ảnh mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa.

Do đó, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa.

Nếu giá trị lao động xã hội của những người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa thì

lượng giá trị chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa.

Trong sản xuất hàng hóa, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hóa.

Trên thị trường, không thể dựa vào giá trị cá biệt để trao đổi mà phải dựa vào giá trị của hàng

hóa.

C.Mác phân tích rõ thước đo lượng giá trị hàng hóa là thời gian lao động xã hội cần thiết

(thời gian trung bình của xã hội mà mọi người cần phẩn đấu) để sản xuất một loại hàng hóa nào

đó. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất hàng hóa trong điều kiện sản xuất trung bình của xã hội

với trình độ kỹ thuật trung bỉnh, trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình.

Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết của một loại hàng hóa nào đó gần sát với thời

gian lao động cá biệt của người sản xuất đại bộ phận hàng hóa đó trên thị trường.

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa. Ở đâu có sản xuất hàng hóa

thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động một cách khách quan.

Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa, phải dựa trên cơ sở hao phí lao

động xã hội cần thiết, có nghĩa là:

Trong sản xuất, nó đòi hỏi người sản xuất luôn luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao

động cá biệt xuống nhỏ hơn, hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiểt. Trong lưu thông, nó

đòi hỏi việc trao đổi hàng hóa phải dựa trên nguyên tắc ngang giá.

Quy luật giá trị hoạt động thông qua sự lên xuống của giá cả thị trường. Nó có mối quan

hệ hữu cơ với quy luật cung-cầu. Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị, ngược lại, khi

cung kém cầu thì giá cả lớn hơn giá trị.

Quy luật giá trị hoạt động ở trong mọi phương thức sản xuất có sản xuất hàng hóa, nhưng

đặc điểm hoạt động, vai trò và tác dụng của nó khác nhau, vì nó bị các quy luật kinh tế đặc thù

của phương thức sản xuất đó chi phối.

Lý thuyết giá trị lao động của C.Mác có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc cần phải được



nhận thức và vận dụng. C.Mác có công lao to lớn trong việc phát hiện, kế thừa xây dựng và hoàn

thiện các quy luật của nền kinh tế thị trường: quy luật giá trị, quy luật cung cầu quy luật lưu

thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh. Trong đó quy luật giá trị là gốc, là cơ sở để hình thành các quy

luật khác.

C.Mác khẳng định rõ quy luật giá trị có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế thị

trường, điều tiết sản xuất lưu thông hàng hỏa, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh. Tuy

nhiên, cần nhận diện rõ mặt trái cùa nó để có hướng xử lý.

Cụ thể hơn, quy luật cung cầu và quy luật giá trị được ví là hai anh em sinh đôi cùng do thị

trường sinh ra. Cung - cầu có mối quan hệ biện chứng với nhau. Sự vận động của quy luật cungcầu gắn liên với quy luật giá trị. Vì khi cung và cầu giá cả bằng giá trị thì kinh tế thị trường tốt.

Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị. Trường hợp này xảy ra dẫn đến khủng hoảng

thừa, cần phải điều chỉnh. Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả lớn hơn giá trị. Trường hợp này xấu,

dẫn đến khủng hoảng thiếu, sản phẩm thiếu, lạm phát tăng. Quy luật cung — cầu có vị trí, vai trò

gắn với vai trò, tác động của quy luật giá trị, từ đó quyết định đến sản xuất và tiêu dùng và quyết

định giá cả thị trường.

Quy luật lưu thông tiền tệ: C.Mác xác định rõ khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông nó

gắn với khối lượng hàng hóa và sự biến động của giá cả. Việc xây dựng quy luật lưu thông tiền tệ

trên cơ sở nghiên cứu rõ bản chất và chức năng của tiền gắn với quá trình phát triển kinh tế.

Quy luật cạnh tranh: C.Mác cho ràng không cạnh tranh thì không vận động được, tuy

nhiên phải thừa nhận quy luật cạnh tranh theo hướng lành mạnh trong khuôn khổ luật pháp để

cùng tồn tại phát triển trong cơ chế thị trường.

3.3 Bước tiến bộ của học thuyết giá trị của C.Mác so với các học thuyết kinh tế cổ điển



Anh

3.3.1 Lý luận về giá trị lao động của W.Petty



W.Petty có công lao trong việc nêu ra nguyên lý giá trị lao động. Khi nghiên cứu về giá trị

lao động, ông dùng thuật ngừ “giá cả” và chia thảnh “giá cả chính trị” (giá cả thị trường) và “giá

cả tự nhiên” (giá trị bên trong). Theo ông, giá cả tự nhiên do lượng lao động hao phí để sản xuất

ra hàng hóa quyết định. Như vậy, W.Petty dã hiểu đúng giá trị lao động với thuật ngữ “giá cả tự

nhiên” và nó tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Ông có đề cập đến lao động giản đơn và lao



động phức tạp nhưng chưa phân tích đầy đủ. Còn giá cả chính trị là giá cả thị trường, nó thường

thay đổi theo những điều kiện chính trị, do đó khó hiểu rõ nó được.

Ông căn cứ vào tỉ lệ hao phí lao động trong sản xuất hàng hóa thường và hao phí lao động

trong sản xuất tiền tệ để tính giả cả tự nhiên, cho rằng lao động là cơ sở của giá cả tự nhiên.

Cơ sở của giá trị trao đổi là hao phí lao động và thời gian lao động. Tỷ lệ trao đổi tùy thuộc vào

hao phí lao động.

Tuy nhiên, ông còn chịu ảnh hường của chủ nghĩa trọng thương khi cho rằng chỉ có lao

động khai thác bạc (tiền tệ) mới tạo ra giá trị, lao động trong các ngành khác chỉ tạo nên của cải

khi so sánh với lao động tạo ra tiền. Ông chưa phân biệt được lao động tạo ra giá trị và lao động

tạo ra giá trị sử dụng. Đồng thời, với nguyên lý nổi tiếng “lao động là cha còn đất là mẹ của của

cải” cũng thể hiện sự lẫn lộn về nguồn gốc của giá trị: lao động và đất đai đều là cơ sở của giá

trị.

3.3.2 Lý luận giá trị của A.Smith



So với W.Petty, lý thuyết giá trị lao động của A.Smith có bước tiến đáng kể. Trước hết ông

chỉ ra tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị. Lao động là thước đo cuối cùng của giá

trị. Ông phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và khẳng định giá

trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi. Mà giá trị trao đổi của sản phẩm được quyết định

bởi lượng lao động hao phí đã tạo ra nó. Ông là người đầu tiên phân biệt hai thuộc tính của hàng

hóa nhưng chưa lý giải tại sao có hai thuộc tính ấy.

Trong phạm trù giá trị ông đưa ra hai định nghĩa của giá trị. Một mặt ông cho rằng giá trị

là do lao động hao phí vào sản xuất hàng hóa quyết định. Với định nghĩa này, ông đứng vững

trên lý thuyết giá trị lao động và bước tiến bộ của ông là cho rằng nguồn gốc của giá trị là mọi

thứ lao động chứ không phải chỉ do lao động nông nghiệp do trường phái trọng nông đưa ra.

Nhưng mặt khác ông lại cho rằng giá trị hàng hóa do số lượng lao động mà người ta có thể mua

được bàng hàng hóa đó quyết định. Điều đó có nghĩa là giá trị hàng hóa là lượng giá trị do hao

phí ỉao động tạo ra, tính bằng (v +m) còn lao động mua được biểu hiện là tiền công, tính bằng (v)

chính là giá cả của sức lao động, (v + m) và (v) là hai đại lượng khác hẳn nhau, mà ở đây

A.Smith đã đồng nhất làm một. Sai lầm của Smith là chưa phân biệt được sức lao động và lao

động, và chính sai làm này gắn với việc ông lý giải tiền lương là giá cả của lao động. A.Smith



không giải thích đúng đắn giá trị cho nên ông đã biến lý luận tạo ra giá trị thành lý luận chi phí

sản xuất dẫn đến kết luận hoàn toàn không khoa học: giá trị là tông thu nhập do lợi nhuận, địa tô

va tiền lương hợp thành. Tức trong cơ cấu giá trị của A.Smith (giá trị = v+m), ông đã bỏ qua giá

trị của tư bản bất biến (c).

Mác đánh giá công lao lớn nhất của A.Smith trong lý luận giá trị lao động là ông đã phân

biệt rõ hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng vả giá trị trao đổi, đồng thời ông đã cho

rằng lao động là thước đo thực tế của giá trị.

3.3.3 Lý luận giá trị lao động của D.Ricardo



Lý thuyết giá trị lao động của Ricardo có sự kế thừa và phát triển tư tưởng của A.Smith.

Ông gạt bỏ những sai lầm và mâu thuẫn trong lý luận giá trị của A.Smith.

Ông cho rằng, “ích lợi (giá trị sử dụng) không là thước đo của giá trị trao đổi, mặc dù nó

rất cần thiết cho giá trị trao đổi. Nếu đối tượng không cần thiết cho chúng ta nó sẽ mất đi giá trị

trao đổi, cũng như nó không do lao động tạo ra thì nó cũng không có giá trị trao đổi”. Như vậy,

ông đã thấy được sự khác biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Trên thị trường số lượng

hàng hóa dựa vào tính chất khan hiếm của mình để có giá trị cao là rất ít. Chủ yếu giá trị của

hàng hóa là do lao động của người sản xuất quyết định.

Ông ủng hộ lý luận giá trị lao động của Smith. Ông cho rằng, trong định nghĩa về giá trị

của Smith thì định nghĩa “giá trị do hao phí lao động quyết định” là đúng và định nghĩa còn lại là

sai. Đây là một tiến bộ của ông so với A.Smith. Với khẳng định này thì C.Mác gần với Ricardo

nhất.

Về cơ cấu giá trị, ông thấy rằng, giá trị không chỉ được quyết định bởi lao động sống mà

còn phải bao gồm lao động đã chi phí để tạo ra công cụ lao động, ông hình dung vai trò của

người lao động quá khứ nghĩa là vai trò của các yếu tố yật chất trong việc hình thành giá trị sản

phẩm mới. Ông có đề cập đến thời gian lao động xã hội cần thiết nhưng lại cho rằng lao động

hao phí trong điều kiện xấu nhất là lao động xã hội cần thiết. Ông cho rằng giá trị càng giảm khi

năng suất lao động tăng lên.

Ông chỉ ra rằng trong cơ cấu giá trị hàng hóa phải bao gồm ba bộ phận: c+v+m chứ không

thể loại c ra khỏi giá trị sản phẩm như A.Smith. Tuy nhiên ông chưa phân tích sự chuyển dịch c

vào sản phẩm mới diễn ra như thế nào.



Phương pháp nghiên cứu giá trị hàng hóa của ông còn có tính siêu hình. Ông coi giá trị là

phạm trù vĩnh viễn. Đó là thuộc tính của mọi vật. Ông không thấy được mâu thuẫn giữa giá trị sử

dụng và giá trị, vì chưa thấy được tính hai mặt của lao động.

So Với A.Smith, Ricardo đã đứng vũng và tỏ ra nhất quán với nguyên lý giá trị lao động

song ông không thể phát triển lý luận đó đến cùng. Mặc dù vậy, tư tưởng của ông đã nâng kinh tế

chính trị tư sản cổ điển Anh tới đỉnh cao nhất — Mác đã đánh giá rất cao lý luận giá trị lao động

của Ricardo.

3.3.4 Học thuyết của Các Mác



Đến Mác dựa vào những thành tựu cùa các nhà kinh tế tư sản cổ điển Anh gạt bỏ mọi nhân

tố không khoa học, kế thừa và phát triển các nhân tố khoa học của họ để xây dựng học thuyết của

mình toàn diện nhất từ trước cho tới lúc đó. Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong lý luận

kinh tế để đưa kinh tế chính trị học trở thảnh một môn khoa học. Chiếc chìa khóa mở cửa cho

con đường nghiên cứu của Mác là việc ông phát hiện ra tính hai mặt của cùng một lao động sản

xuất ra hàng hóa.

Mác la người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa nên ông đã

đưa lý luận gía trị lao động tới đỉnh cao. Lao động sản xuất ra hàng hóa có tính hai mặt: lao động

cụ thể và lao động trừu tượng.

Với việc phát hiện ra mặt thứ nhất cùa lao động sản xuất hàng hóa Mác đã trả lời được câu

hỏi: lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.

Với việc phát hiện ra mặt thứ hai của cùng một lao động sản xuất hàng hóa Mác đã trả lời

được câu hỏi: lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa.

Từ đó, Mác lý giải được cơ sở tạo ra các thuộc tính hàng hóa. Hàng hóa là sản phẩm của

lao động. Một hàng hóa có hai thuộc tính bởi lao động để sản xuất ra hàng hóa có tính haỉ mặt.

Theo Mác, xét về mặt cơ cấu giá trị hàng hóa gồm hai phần. Một là giá trị cũ tức là giá trị

những tư liệu sản xuất được chuyển dịch và giá trị của sản phẩm hàng hóa, kí hiệu là c. Phần giá

trị cũ được hình thành là nhờ có vai trò của lao động cụ thể. Lao động cụ thể luôn bảo toàn và

chuyển dịch giá trị những tư liệu sản xuất đã hao phí vào giá trị sản phẩm cùa hàng hóa. Hai là

giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuẩt hàng hóa nhờ lao động trừu tượng. Giá trị mới

được kí hiệu: v+m. Bộ phận giá trị mới được hình thành là nhờ vai trò của lao động trừu tượng.



Nói rằng lao động trừu tượng tạo ra giá trị - giá trị hàng hóa được công thức hóa: c+v+m. Điều

này không có nghĩa là lao động trừu tượng tạo nên toàn bộ c+v+m mà nó chỉ tạo ra phần giá trị

mới. Hai mặt của giá trị đã hình thành tổng thể giá trị đầy đủ cùa hàng hóa (c+v+m). So với các

nhà kinh tế học tư sản cổ điển Anh, cấu thành giá trị của Mác đầy đủ và đúng đắn hơn.



CHƯƠNG 4

VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ - LAO ĐỘNG CỦA MÁC VÀO THỰC TIỄN

VIỆT NAM

4.1 Thực trạng vận dụng quy luật giá trị ở Việt Nam trong thời gian qua



Như chúng ta đã biết đại hội VI của Đảng ta họp năm 1986 đã có những bước cải tổ lớn về

tư tưởng, kinh tế,... đối với nước ta. Thời gian đó là một bước ngoặt lớn đối với cả dân tộc ta,

nhất lả về mặt kinh tế. Quả thật sau gần 27 năm đổi mới, đất nước ta đã có rất nhiều những thay

đổi mà nhiều nước trên thế giới cũng phải ngạc nhiên. Đất nước chuyển từ cơ chế tập trung quan

liêu bao cấp sang cơ chế thị trường với rất nhiều khó khăn đè nặng lên vai Chính phủ. Ngay năm

1986 thì lạm phát của nước ta ở mức siêu lạm phát, lên tới 774.7% và lúc đó rất ít người có thể

nghĩ rằng chúng ta có thể vượt qua và có được những thành tựu to lớn như ngày hôm nay. Nhưng

chúng ta đã làm được và đó chính là nhờ vào những đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước

vận dụng hợp lý, sáng tạo các quy luật kinh tế, những bài học của các nước anh em trên thế giới

và cùng với sự quyết tâm không mệt mỏi của mỗi người dân Việt Nam. Tất cả cùng cố gắng và

có được thành quả như ngày hôm nay, tuy chưa nhiều nhưng cũng là sự động viên cho ta cố gắng

đi tiếp theo con đường đã chọn, mặc dù vẫn còn nhiều sai lầm và thiếu sót nhưng chúng ta đã

biết và vẫn đang cố gắng sửa chữa về tất cả các mặt, nhất là về kinh tế để ngày một hoàn thiện

hơn và phát triển hơn nữa.

4.1.1 Vận dụng quy luật giá trị vào hạch toán kinh tế



Hạch toán kinh tế là phạm trù gắn liền với các hoạt động của các doanh nghiệp trong điều

kiện tồn tại sản xuất hàng hóa, đồng thời hạch toán kinh tế cũng là công cụ quản lý kinh tế vi mô.

Trên ý nghĩa đó cần làm sáng tỏ bản chất của quan hệ này cũng với những điều kiện và nguyên

tắc của nó, đặc biệt trong quá trình tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường.

Thời kỳ trước năm 1986 nền kinh tế nước ta vẫn còn là cơ chế kế hoạch hóa tập trung.

Mọi kế hoạch sản xuất của cả nền kinh tế đều được cơ quan chính phủ vạch định ra sẵn từ: sản

xuất cái gì? sản xuất bao nhiêu? Rồi từ đó phân bổ chi tiêu cho các đơn vị sản xuất. Các doanh

nghiệp sản xuất, kinh doanh thì căn cứ trên chỉ tiêu của Nhà nước đã giao mà làm, còn ngoài ra

các doanh nghiệp không phải lo đầu ra đầu vào vì tất cả đã có Nhà nước sắp xếp. Nếu doanh

nghiệp sản xuất hàng không bán được thì Nhà nước sẽ bù lỗ cho doanh nghiệp vì đó có thể coi



như lỗi của Nhà nước. Nói chung các doanh nghiệp dù là “tồn tại” hay là “sống” cũng gần như

nhau cả, vì đã là doanh nghiệp của Nhà nước thì chắc chắn không bị “đói”. Các doanh nghiệp

cũng có hạch toán kinh tế nhưng dường nhu việc dó là thừa đối với các doanh nghiệp vì thực sự

hạch toán kinh tế có ra kết quả đi nữa thì lỗ lãi không phải là vấn đề của doanh nghiệp. Điều đó

đã không làm phát huy được sự năng động sáng tạo của mỗi doanh nghiệp. Chính vì vậy ta thấy

giai đoạn này quy luật giá trị thực sự không được vận dụng trong hạch toán kinh tế và không

phát huy được vai trò của nó đối với nền kinh tế. Hơn nữa giai đoạn này thì thành phần kinh tế tư

nhân và thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không được khuyến khích nên việc vận dụng quy

luật giá trị vào hạch toán kinh tế ở thời điểm này dường như không được chú ý.

Sau khi Nhà nước quyết tâm cải cách sau đại hội Đảng lần thứ VI thì đã có những thay đổi

trong nền kinh tế của Nhà nước trong cách quản lý đối với từng doanh nghiệp. Từ bước ngoặt đó

thì các doanh nghiệp Nhà nước đã phải tự hạch toán kinh tế, hơn nữa từ 1986 trở đi thì các doanh

nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng được khuyến khích phát triển (nhất

lả sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận với nước ta từ năm 1995). Mỗi doanh nghiệp bây giờ là một chủ

thể kinh tế độc lập, họ phải tự tìm hướng đi cho doanh nghiệp của mình. Đối với các doanh

nghiệp Nhà nước thì Nhà nước tách quyền sử dụng và quyền sở hữu riêng, quyền sở hữu vẫn

thuộc về Nhà nước nhưng quyền sử dụng thì Nhà nước giao cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp tự

mình tổ chức hoạt động kinh doanh, tự nghiên cứu thị trường xác định mặt hàng xuất, lựa chọn

công nghệ sản xuất cho đến khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm. Nhà nước chỉ thể hiện quyền sở

hữa của mình thông qua thuế và doanh nghiệp nộp lợi nhuận. Nhà nước không còn can thiệp vào

các hoạt động của công ty và bây giờ Nhà nước chỉ can thiệp bằng các biện pháp vĩ mô để ổn

định thị trường. Trong nền kinh tể thị trường, mỗi doanh nghiệp là người sản xuất, đứng vững

được trên thị trường thì phải tính đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức giá

trị, giá cả, lợi nhuận, chi phí...và phải thường xuyên tìm kiếm, duy trì đầu vào đầu ra. Đối với các

doanh nghiệp thì lợi nhuận luôn luôn là mục tiêu để phấn đấu, để đạt được mục tiêu đó thì các

doanh nghiệp phải tự tìm cách hạ thấp chi phí bằng các hợp lý hóa sản xuất, tiết kiệm chi phí vật

chất, tăng năng suất lao động.... Để làm được điều dó thì doanh nghiệp phải nắm vững và vận

dụng tốt quy luật giá trị và trong hạch toán kinh tế. Thời gian qua ta đã thấy được có rất nhiều

doanh nghiệp vận dụng rất tốt quy luật giá trị vào trong hạch toán kình tế và các chính sách của

Nhà nước thực sự đã có tác động vào nền kinh tế.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (32 trang)

×