1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

1 Thực trạng vận dụng quy luật giá trị ở Việt Nam trong thời gian qua

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (241.63 KB, 32 trang )


như lỗi của Nhà nước. Nói chung các doanh nghiệp dù là “tồn tại” hay là “sống” cũng gần như

nhau cả, vì đã là doanh nghiệp của Nhà nước thì chắc chắn không bị “đói”. Các doanh nghiệp

cũng có hạch toán kinh tế nhưng dường nhu việc dó là thừa đối với các doanh nghiệp vì thực sự

hạch toán kinh tế có ra kết quả đi nữa thì lỗ lãi không phải là vấn đề của doanh nghiệp. Điều đó

đã không làm phát huy được sự năng động sáng tạo của mỗi doanh nghiệp. Chính vì vậy ta thấy

giai đoạn này quy luật giá trị thực sự không được vận dụng trong hạch toán kinh tế và không

phát huy được vai trò của nó đối với nền kinh tế. Hơn nữa giai đoạn này thì thành phần kinh tế tư

nhân và thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không được khuyến khích nên việc vận dụng quy

luật giá trị vào hạch toán kinh tế ở thời điểm này dường như không được chú ý.

Sau khi Nhà nước quyết tâm cải cách sau đại hội Đảng lần thứ VI thì đã có những thay đổi

trong nền kinh tế của Nhà nước trong cách quản lý đối với từng doanh nghiệp. Từ bước ngoặt đó

thì các doanh nghiệp Nhà nước đã phải tự hạch toán kinh tế, hơn nữa từ 1986 trở đi thì các doanh

nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng được khuyến khích phát triển (nhất

lả sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận với nước ta từ năm 1995). Mỗi doanh nghiệp bây giờ là một chủ

thể kinh tế độc lập, họ phải tự tìm hướng đi cho doanh nghiệp của mình. Đối với các doanh

nghiệp Nhà nước thì Nhà nước tách quyền sử dụng và quyền sở hữu riêng, quyền sở hữu vẫn

thuộc về Nhà nước nhưng quyền sử dụng thì Nhà nước giao cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp tự

mình tổ chức hoạt động kinh doanh, tự nghiên cứu thị trường xác định mặt hàng xuất, lựa chọn

công nghệ sản xuất cho đến khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm. Nhà nước chỉ thể hiện quyền sở

hữa của mình thông qua thuế và doanh nghiệp nộp lợi nhuận. Nhà nước không còn can thiệp vào

các hoạt động của công ty và bây giờ Nhà nước chỉ can thiệp bằng các biện pháp vĩ mô để ổn

định thị trường. Trong nền kinh tể thị trường, mỗi doanh nghiệp là người sản xuất, đứng vững

được trên thị trường thì phải tính đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức giá

trị, giá cả, lợi nhuận, chi phí...và phải thường xuyên tìm kiếm, duy trì đầu vào đầu ra. Đối với các

doanh nghiệp thì lợi nhuận luôn luôn là mục tiêu để phấn đấu, để đạt được mục tiêu đó thì các

doanh nghiệp phải tự tìm cách hạ thấp chi phí bằng các hợp lý hóa sản xuất, tiết kiệm chi phí vật

chất, tăng năng suất lao động.... Để làm được điều dó thì doanh nghiệp phải nắm vững và vận

dụng tốt quy luật giá trị và trong hạch toán kinh tế. Thời gian qua ta đã thấy được có rất nhiều

doanh nghiệp vận dụng rất tốt quy luật giá trị vào trong hạch toán kình tế và các chính sách của

Nhà nước thực sự đã có tác động vào nền kinh tế.



Nguyên tắc vận dụng quy luật giá trị vào hạch toán kinh tế ở các doanh nghiệp Nhà nước

tuy đã có những tiến bộ, nhưng vẫn còn có những doanh nghiệp thực hiện việc hạch toán kinh tế

chưa sát xao và triệt để. Còn nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và tình trạng lãi giả lỗ thật.

Nhiều công ty còn ỷ lại vào tiếng doanh nghiệp Nhà nước và chưa thực sự có những khuyến

khích thỏa đáng về mặt vất chất cũng như về mặt tinh thần nên chưa thực sự phát huy hết được

khả năng của mỗi công nhân nói riêng và của mỗi doanh nghiệp nói chung. Để tạo đà phát triển

mới cho nền kinh tế đất nước thì Nhà nước ta đã quyết định cổ phần hóa lớn các doanh nghiệp

Nhà nước, Nhà nước chỉ giữ lại một số ngành có tính chất an ninh quốc gia, an sinh xã hội. Các

doanh nghiệp rồi sẽ dần chuyển thành các công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu và mỗi cổ đông

sẽ vì lợi ích của mình để đầu tư và sản xuất, hạch toán kinh tế và cố gắng sao cho lợi nhuận càng

nhiều càng tốt. Bởi vậy việc vận dụng quy luật giá trị vào để hạch toán kinh tế của mỗi công ty

cổ phần thời kỳ này là hết sức quan trọng và cần thiết đồi với mỗi công ty cổ phần.

Qua trên cho ta thấy hạch toán kinh tế là một điều kiện cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp

dù là doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Bởi ta thấy thông qua hạch

toán kinh tế sẽ nâng cao được tính chủ động, sáng tạo của tập thể cũng như của mỗi người lao

động và khai thác tốt các tiềm năng của doanh nghiệp. Đồng thời hạch toán kinh tế vận dụng quy

luật giá trị để tính toán, đưa ra những phương pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả kinh tế. Hơn nữa

trong quá trình quốc tế hội nhập như hiện nay thì các doanh nghiệp phải thực hiện vận dụng tốt

quy luật giá trị vào hạch toán kinh tế để biết được lợi thế và sửa chữa những khuyết điểm và

cạnh tranh cùng với các loại hàng hóa khác trên thị trường, khẳng định vị thế của hàng hóa Việt

Nam trên thị trường quốc tế.

4.1.2 Vận dụng quy luật giá trị vào cơ chế tiền lương



Sau đại hội Đảng lần VI (1986), triển khai nghị quyết TW3 về đổi mới quản lý kinh tế thì

chính phủ ra quyết định 217, quy định mọi người lao động trong các doanh nhiệp Nhà nước thu

nhập theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và năng suất, hiệu quả lao động của mỗi người.

Nhưng do Nhà nước ta chưa có hướng dẫn thi hành kịp thời nên mỗi đơn vị làm theo cách của

riêng mình. Doanh nghiệp nào lương thấp quá thì tìm mọi biện pháp để nâng lương và gây ra sự

rối loạn chế độ quản lý tiền lương theo đơn giá sản phẩm được tính trên cơ sở bảng lương và

trượt giá, nhưng do tình hình lạm phát quá cao nên chính sách này không phù hợp. Tới năm 1995

Nhà nước ban hành chế độ tiền lương tối thiểu là 120.000 (đồng/tháng). Tuy nhiên vẫn chưa đảm



bảo sinh hoạt cho công nhân với giá cả hàng hóa thực tế, nên tới đầu năm 2000 tăng tiền lương

tối thiểu là 180.000 (đồng/tháng).. ..Ta thấy với sự tăng lên của giá cả thì Nhà nước cũng tăng

mức tiền lương tối thiểu đảm bảo cho cuộc sống cán bộ công nhân viên. Qua đó thấy rằng Nhà

nước đã áp dụng nhạy bén quy luật giá trị vào cơ chế tiền lương.

Tuy nhiên nhận thấy mức lương vẫn còn thấp, không đủ để tái sản xuất giản đơn sức lao

động, chưa bảo đảm được ổn định mức sống cho người lao động, cho thấy rằng thực tế tiền

lương vẫn chưa trở thành đòn bẩy kinh tế khuyến khích người lao động học tập, nâng cao trình

độ. Chính điều này cũng hạn chế sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, tiền lương còn

chênh lệch giữa các nghành nghề, các đơn vị khác nhau, lao động trong nước và ngoài

n ư ớ c . Đ ó là sự khập khiễng khi áp dụng quy luật giá trị vào cơ chế tiền lương.

Hiện nay chế độ tiền lương chưa hợp lý cũng là lý do của nạn tham nhũng, chân trong

chân ngoài của không ít cán bộ công nhân viên chức Nhà nước, rất nhiều người có quyền có

chức, lợi dụng quyền của mình để tham nhũng.... Qua đó cho thấy việc vận dụng không tốt quy

luật giá trị vào cơ chế tiền lương còn tạo ra rất nhiều những mặt tiêu cực cho xã hội.

4.1.3 Vận dụng quy luật giá trị vào những chính sách về giá cả



Như ta đã biết thời kỳ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì tất cả các giá cả của các loại

hàng hóa đều do Chính phủ kiểm soát, bởi trong giai đoạn này nền kinh tể nước ta vẫn còn yếu

kém và nếu để thị trường tự điều tiết sẽ có những bất ổn không kiểm soát được về giá. Quả thật

đúng như vậy, năm 1986 đã cải cách và để cho một sốhàng hóa được thị trường tự điều tiết của

giá cả cùng với sự yếu kém của nền kinh tế đã đẩy lạm phát lên tới 747.7%. Nhà nước đã rời bỏ

quyền can thiệp trực tiếp, chỉ định giá các loại hàng hóa, dịch vụ mang tính độc quyền và trả lại

cho thị trường quyết định giá cả các hàng hóa dịch vụ còn lại. Nhà nước cũng đã xác định từ thời

kỳ này nước ta thực hiện cơ chế một giá là giá kinh doanh thương nghiệp, chính sách giá cà phải

vận dụng tổng hợp của quy luật, trong đó quy luật giả trị có tác động trực tiếp. Giá cả phải phù

hợp với giá trị của đồng tiền và trong sự tác động với quy luật cung cầu, không thể giữ giá theo ý

muốn chủ quan cứng nhắc bất chấp các quan hệ cung cầu, bất chấp sức mua của đồng tiền và các

yếu tố cấu thành nên giá cả khác. Qua đây, ta thấy được ngay trong Nhà nước cũng đã nhận ra

được vai trò quan trọng của quy luật gía trị trong việc hình thành giá cả trong nền kinh tế thị

trường. Lúc này quy luật giá trị đã thực sự phát huy tác dụng về mặt tác động vào giá cả. Còn về

phía Nhà nước thực hiện xây dựng môi trường pháp lý, sử dụng các chính sách biện pháp kinh tể



vĩ mô để tác động đến sự hình thành và vận động của giá cả như: Chính sách phát triển sản xuất,

điều hòa cung-cầu, chính sách tài khóa, tiền tệ.. .Cuộc cải cách đó của Nhà nước ta đã thực sự

hiệu quả, đưa nước ta với mức lạm phát từ 3 con số những năm cuối thập kỷ 80 cho đến nay thì

lạm phát dừng ở một con số. Thành công này của nước ta đã làm cho giá cả tương đối ổn định,

lạm phát ở mức kiểm soát được đã khuyến khích đầu tư bỏ vốn sản xuất, khuyến khích thu hút

vốn đầu tư nước ngoải, phân bổ một cách hợp lý và sử dụng có hiệu quả hem nguồn lực của đất

nước, tạo ra được động lực kích thích sản xuất phát triển.

Từ năm 1986 cho đến nay, đã có rất nhiều mặt hàng thông qua quy luật giá trị đã biểu hiện

giá trị của mình bằng giá cả. Các mặt hàng sinh hoạt như gạo, thịt, cá, trứng, ... các mặt hàng này

được tự do lưu thông trên thị trường. Tuy vậy trên thực tế vẫn còn một số hàng hóa có tính chất

độc quyền do Nhà nước quy định: điện, nước, bưu điện...hay một số mặt hàng độc quyền do lợi

thế của doanh nghiệp trên thị trường. Các ngành này dựa vào thể độc quyền đó để thu những

khoản siêu thặng dư và có thu nhập rất cao so với các ngành khác. Điều đó gây thiệt hại cho

người tiêu dùng rất nhiều. Hơn nữa những ngành này có vốn đầu tư rất lớn vì vậy mà các doanh

nghiệp tư nhân rất khó có thể chen chân vào cạnh tranh. Vì vậy Nhà nước cần có chính sách

khuyến khích cho tư nhân tham gia vào trong các lĩnh vực, phá vỡ thế độc quyền, tạo ra sự lành

mạnh trong cạnh tranh về giá để cho quy luật giá trị phát huy hết vai trò của nó đối với nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

4.2 Nguyên nhân của những khuyết điểm còn tồn tại



Nước ta đã trải qua một thời kỳ dài theo cơ chế bao cấp, nên việc chuyển sang cơ chế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn rất nhiều mới mẻ và chưa có kinh nghiệm. Chưa có một

nước nào đã có mô hình kinh tế của nước ta vừa phải phát triển vừa phải lựa chọn xem có phù

hợp với nền kinh tể hay không. Chính vì vậy có những sai lầm trong một số đường lối và chính

sách là không thể tránh khỏi. Hơn nữa những con người cũ của cơ chế bao cấp còn nhiều người

chưa thích ứng kịp với sự thay đổi của cơ chế thị trường, cũng đã tạo ra những bước cản đối với

nền kinh tế. Bộ máy cồng kềnh, chồng chéo của cơ chế bao cấp cũng vãn còn gây rất nhiều khó

khăn trong việc quản lý và xử lý các vi phạm. Hơn nữa, nước ta còn tồn tại nhiều căn bệnh cố

hữu: cán bộ vi phạm ở cấp này thì chuyển sang cấp khác, nạn cậy chức cậy quyền, con ông cháu

cha vẫn còn rất phổ biến.

Các chính sách của Đảng, chính phủ và những hướng dẫn thi hành thực sự còn chưa có



được sự nhất quán từ Trung ương đến địa phương. Qua mỗi cấp mỗi đơn vị thỉ chủ trương của

Đảng bị sai lệch đi một ít. Chính vì vậy mà rất nhiều địa phương do hiểu sai mà thực hiện sai

những chính sách của Nhà nước. Mặt khác, nhiều chính sách của Nhà nước còn bất cập chưa

thực sự thông thoáng, còn chồng chéo, bộ máy của Nhà nước chưa thực sự đồng bộ.

Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta còn phụ thuộc khả lớn vào các nước trên thế giới. Chính

vì vậy mà trong các vấn đề tiền lương, giá cả...chúng ta vẫn chưa thể quản lý như mong muốn.

Nền kinh tế còn đang phát triển nên các quy luật kinh tế vẫn chưa thể thực sự phát huy hết vai trò

của mình trong nền kinh tế.

4.3 Phương hướng giải quyết những thực trạng trên



Điều quan trọng đầu tiên đó là việc cải cách bộ máy hành chính Nhà nước gọn nhẹ, hoạt

động hiệu quả hơn. Nhà nước cần quy hoạch lại các cơ quan hành chính để giảm bớt đi những cơ

quan hoạt động không có hiệu quả, làm sao để có được số cơ quan đơn vị, ít nhất nhưng hoạt

động hiệu quả nhất. Để có được điều đó thì chúng ta cần phải lựa chọn được những cán bộ công

nhân viên theo đúng năng lực tránh tình trạng “con ông cháu cha”, “mua chức chạy quyền”. Thời

gian vừa qua Chính phủ cũng đã thi hành một số chính sách rất có hiệu quả như chính sách “một

cửa” được áp dụng ở rất nhiều thành phố và thực sự đã phát huy tác dụng cao. Mọi vấn đề được

giải quyết nhanh chóng, chính xác không phiền hà. Nhà nước cũng nên có những chính sách ưu

đãi khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và luôn luôn tự hoàn thiện mình để tạo môi trường

thuận lợi cho các nhà đầu tư an tâm đầu tư vào nước ta, tạo điều kiện để thu hút vốn và công

nghệ khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới.

Trong hạch toán kinh tế cần sát sao hơn trong việc tính chi phí và doanh thu của các doanh

nghiệp Nhà nước, phát huy vai trò của quy luật giá trị trong hạch toán kinh tế. Nhà nước nên có

một ban chuyên trách để quản lý việc hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp Nhà nước cũng

như của ngoài quốc doanh để ta có được những số liệu chính xác về nền kinh tế cũng như để tính

thuế đúng và hợp ỉý tránh thất thoát thuế của Nhà nước. Chúng ta nên thực hiện chế độ khuyến

khích bằng hiện vật để khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đồng thời có những

hình thức xử phạt nghiêm minh.

Về tiền lương ta cần phải có những thông tin kịp thời và vận động quy luật giá trị để đưa

ra những mức lương hợp lý trong từng thời kỳ để đảm bảo mức tiền lương tối thiểu đủ trang trãi

chi phí sinh hoạt, ăn uổng... cho người lao động. Đất nưởc ta còn nghèo nên quỹ tiền lương còn



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (32 trang)

×