1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

Chương 2. Học thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (178.28 KB, 25 trang )


2.2. Biểu hiện của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

2.2.1 Sự kết hợp về con người giữa các tổ chức độc quyền và bộ máy nhà nước

Một biểu hiện dễ nhận thấy nhất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là

sự kết hợp về mặt nhân sự. V.I Lê nin đã đưa ra một hình ảnh để có thể thấy được sự

liên minh này như sau: “Hôm nay là bộ trưởng, ngày mai là chủ ngân hàng; hôm nay

là chủ ngân hàng, ngày mai là bộ trưởng”. Thấy được điều này, để nhận ra rằng, sự

liên minh về mặt nhân sự giữa ngân hàng và công nghiệp đã bước lên nấc thang phát

triển mới bằng việc bổ sung kết hợp nhân sự của chính phủ.

Các đảng phái tư sản là cầu nối tạo ra sự kết hợp về mặt con người này.

Không chỉ tạo ra cơ sở xã hội cho tư bản độc quyền trực tiếp thống trị, xây dựng đội

ngũ công chức cho bộ máy nhà nước. Mà còn nhận sự hỗ trợ của các hội chủ xí

nghiệp (Hội Công nghiệp toàn quốc Mỹ, Tổng Liên đoàn công nghiệp Italia, Liên

đoàn các nhà kinh tế Nhật Bản, Liên minh Liên bang công nghiệp Đức,…), để tham

gia vào việc thành lập bộ máy nhà nước, lập ra các ủy ban tư vấn bên cạnh các bộ để

điều khiển hoạt động của nhà nước theo ý mình. Mặt khác, các quan chức và nhân

viên chính phủ được cài đặt và giữ các cương vị trọng yếu trong các tổ chức độc

quyền.

Sự kết hợp này là biểu hiện đầu tiên của mối quan hệ giữa các tổ chức độc

quyền và nhà nước nhằm đạt được mục tiêu cốt lõi của chủ nghĩa tư bản tồn tại dưới

hình thức mới tinh vi hơn.

2.2.2 Sự hình thành và phát triển của sở hữu nhà nước

Sở hữu tư bản độc quyền mang tính chất tập thể, ủng hộ quyền lợi, lợi ích,

duy trì sự tồn tại của tư bản độc quyền được gọi là sở hữu độc quyền nhà nước. Cùng

với sự tăng lên của sở hữu nhà nước trong các tổ chức độc quyền là sự tăng cường

mối quan hệ giữa nhà nước và tư bản độc quyền. Sở hữu nhà nước được hình thành

bằng cách: dùng vốn của ngân sách xây dựng các doanh nghiệp nhà nước, mua cổ

phần của các doanh nghiệp tư nhân,… Các doanh nghiệp nhà nước đã thể hiện được

vai trò của mình: mở rộng địa bàn, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất tư bản chủ

nghĩa; góp phần điều tiết kinh tế tư bản chủ nghĩa.



15



Dưới danh nghĩa là sở hữu xã hội, tuy nhiên tư bản độc quyền nhà nước về

bản chất vẫn thuộc sở hữu tư bản chủ nghĩa.

2.2.3 Sự can thiệp của nhà nước vào các quá trình kinh tế

Hình thức biểu hiện quan trọng của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là

sự tham gia của nhà nước vào quá trình điều tiết kinh tế. Hệ thống điều tiết của nhà

nước tư sản bao gồm bộ máy quản lý gắn với hệ thống chính sách, công cụ có khả

năng điều tiết sự vận động của nền kinh tế. Các hình thức của sự điều tiết kinh tế:

hướng dẫn, kiểm soát bằng cách công cụ kinh tế, hành chính- pháp lý, đưa ra những

giải pháp chiến lược ngắn và dài hạn.

Sự điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thể hiện rõ nét

nhất bằng chính sách kinh tế của nhà nước tư sản. Chúng bao gồm nhiều lĩnh vực

như chính sách chống khủng hoảng chu kỳ, chống lạm phát, chính sách về tăng

trưởng kinh tế, chính sách xã hội, chính sách kinh tế đối ngoại. Các công cụ chủ yếu

của nhà nước tư sản để điều tiết kinh tế và thực hiện các chính sách kinh tế như ngân

sách, thuế, hệ thống tiền tệ - tín dụng, các doanh nghiệp nhà nước, kế hoạch hoá hay

chương trình hoá kinh tế và các công cụ hành chính - pháp lý.

Tóm lại: Xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp

chặt chẽ giữa các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư

sản thành một thiết chế và thể chế thống nhất nhằm phục vụ cho lợi ích của các tổ

chức độc quyền, mở rộng vai trò kinh tế của Nhà nước và duy trì sự tồn tại của chủ

nghĩa tư bản. Đây là sự thay đổi hình thức của chủ nghĩa tư bản để thích nghi với

điều kiện mới, còn bản chất vẫn không thay đổi: vẫn là sự thống trị của giai cấp tư

sản và quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.



16



Chương 3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của học thuyết về chủ nghĩa tư

bản độc quyền đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại

3.1. Ý nghĩa lý luận

Chủ nghĩa tư bản phát triển qua hai giai đoạn: chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh

và chủ nghĩa tư bản độc quyền mà nấc thang tột cùng của nó là chủ nghĩa tư bản độc

quyền nhà nước. Trong suốt quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản đã có những đóng góp

tích cực đối với sản xuất, đó là:

- Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng loài người khỏi đêm trường trung

cổ của xã hội phong kiến, đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp chuyển sang

phát triển kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn,

hiện đại. Dưới tác động của qui luật giá trị thặng dư và các kinh tế của sản xuất hàng hóa,

chủ nghĩa tư bản đã làm tăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng sản phẩm vật chất

khổng lồ. Điều này đã được khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848.

- Phát triển lực lượng sản xuất: Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm

cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng

cao: từ kỹ thuật thủ công lên kỹ thuật cơ khí và ngày nay các nước tư bản chủ nghĩa cũng

đang là những quốc gia đi đầu trong việc chuyển nền sản xuất của nhân loại từ giai đoạn

cơ khí hóa sang giai đoạn tự động hóa, tin học hóa và công nghệ hiện đại. Cùng với sự

phát triển của kỹ thuật và công nghệ là quá trình giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu

quả, khám phá và chinh phục thiên nhiên của con người.

- Thực hiện xã hội hóa sản xuất: Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy nền sản xuất hàng

hóa phát triển mạnh và đạt tới mức điển hình nhất trong lịch sử, cùng với nó là quá trình

xã hội hóa sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu. Đó là sự phát triển của phân công lao

động xã hội, sản xuất tập trung với qui mô hợp lý, chuyên môn hóa sản xuất và hợp tác

lao động sâu sắc, mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị, các ngành, các lĩnh vực ngày càng

chặt chẽ...làm cho các quá trình sản xuất phân tán được liên kết lại và phụ thuộc lẫn nhau

thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hội.

- Chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ

chức lao động theo kiểu công xưởng và do đó đã xây dựng được tác phong công nghiệp

17



cho người lao động, làm thay đổi nề nếp, thói quen của người lao động sản xuất nhỏ

trong xã hội phong kiến.

- Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền dân chủ tư sản,

nền dân chủ này tuy chưa phải là hoàn hảo song so với thể chế chính trị trong các xã hội

phong kiến, nô lệ... vẫn tiến bộ hơn rất nhiều bởi vì nó được xây dựng trên cơ sở thừa

nhận quyền tự do thân thể của cá nhân.

Tóm lại, những thành tựu và đóng góp của chủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển

của nền sản xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của

chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nhưng bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên

chủ nghĩa xã hội vẫn phải thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Dĩ nhiên, cuộc cách

mạng xã hội sẽ diễn ra bằng phương pháp nào hòa bình hay bạo lực, điều đó hoàn toàn

tùy thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của từng nước và bối cảnh quốc tế chung

từng thời điểm, vào sự lựa chọn của các lực lượng cách mạng.

Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản cũng có những hạn chế nhất định về mặt lịch sử.

- Trước hết, về lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản: như Mác đã phân tích chủ

nghĩa tư bản ra đời gắn liền với quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản.

Thực chất, đó là quá trình tích lũy tiền tệ nhờ vào những biện pháp ăn cướp, tước đoạt

đối với những người sản xuất hàng hóa nhỏ và nông dân tự do; nhờ vào hoạt động buôn

bán, trao đổi không ngang giá qua đó mà thực hiện bóc lột, nô dịch đối với những nước

lạc hậu. Về quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản, Mác cho rằng, đó là lịch

sử đầy máu và bùn nhơ, không giống như một bản tình ca, nó được sử sách ghi chép lại

bằng những trang đẫm máu và lửa không bao giờ phai.

- Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột của các

nhà tư bản đối với công nhân làm thuê, Mặc dù so với các hình thức bóc lột đã từng tồn

tại trong lịch sử, bóc lột tư bản chủ nghĩa cũng đã là một sự tiến bộ, song theo sự phân

tích của Mác và Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại thì chừng đó quan hệ

bóc lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa xã hội vẫn là điều không tránh khỏi.

- Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và

khu vực ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu người vô

tội đã bị giết hại, sức sản xuất của xã hội bị phá hủy, tốc độ phát triển kinh tế của thế giới

18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

×