1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (354.2 KB, 59 trang )


6



quản trị chi phí mang nặng bản chất của kế toán quản trị hơn là kế toán chi phí thuần tuý.

2. Kế toán quản trị chi phí với chức năng quản lý:

Thông tin kế toán cung cấp về bản chất thường là thôngtin kinh tế tài chính định

lượng và thông tin này giúp cho các nhà quản trị hoàn thành các chức năng lập kế hoạch, tổ

chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định vai trò của thông tin kế toán về chi phí với nhà

quản trị có thể biểu hiện qua những vấn đề cơ bản sau:

- Với chức năng lập kế hoạch: nhà quản trị phải thiết lập các loại dự toán, kế hoạch

như: chiến lược sản xuất kinh doanh, dự toán ngân sách hoạt động hàng năm. Các kế

hoạch dự toán được thực hiện dưới sự điều khiển của trưởng phòng kế toán và sự giúp đỡ

của nhân viên kế toán.

Ví dụ thông qua dự toán nguyên vật liệu, dự toán chi phí nhân công, dự toán chi phí

sản xuất chung... giúp nhà quản trị tiên liệu, liên kết các nguồn lực và hạn chế rủi ro trong

kinh doanh để đảm bảo lợi nhuận trong kỳ.

- Với chức năng tổ chức và điều hành: là quá trình tạo ra cơ cấu mói quan hệ giữa

các thành viên trong tổ chức cùng phối hợp để đạt được mục tiêu chung của tổ chức kế

toán quản trị chi phí cung cấp thông tin để thực hiện chức năng này thông qua việc thiết lập

các bộ phận, xác lập quyền hạn và trách nhiệm của các bộ phận trong bộ máy hoạt động

của tổ chức để giám sát việc thực hiện các kế hoạch chi phí đã đề ra trong từng khâu, từng

bước công việc.

- Với chức năng kiểm tra: khi kế hoạch đã được lập để đảm bảo tính khả thi đòi hỏi

phải so sánh với thực tế. Kế toán quản trị chi phí sẽ cung cấp cho nhà quản trị những thông

tin thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch. Ví dụ: báo cáo chi phí, báo cáo

tình hình thực hiện định mức.

Nếu giữa báo cáo thực hiện với mục tiêu đề ra có sự sai biệt lớn thì phải tiến hành

điều tra để tìm hiểu nguyên nhân nhằm tìm ra hướng giải quyết.

- Với chức năng ra quyết định:

Để có thông tin thích hợp đáp ứng nhu cầu ra quyết định của các nhà quản trị, kế

toán quản trị chi phí sẽ chọn lọc những thông tin cần thiết thích hợp rồi tổng hợp trình bày

chúng theo một trình tự dễ hiểu giải trình cho các nhà quản trị. Kế toán quản trị chi phí

không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin, số liệu mà còn phải thực hiện với phân tích,

đánh giá và nêu lên kiến nghị, đề xuất tư vấn cho các nhà quản trị ra các quyết định phù

hợp.

3. Các kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản trong kế toán quản trị chi phí:

Có bốn phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản:

- Thiết kế thông tin thành dạng so sánh được: Thông tin sẽ không phát huy hết tác

dụng của nó nếu không có tiêu chuẩn để so sánh. Do vậy kế toán quản trị phải thiết kế

thông tin dưới dạng những báo cáo có thể so sánh được làm cho thông tin có ích với nhà

quản trị.

- Nhận diện và các cách phân loại chi phí:

Nhận diện các cách phân loại chi phí sao cho thích hợp và hữu ích, là một phương



7



pháp kỹ thuật nghiệp vụ của kế toán quản trị. Chi phí được phân loại theo nhiều cách khác

nhau nhằm thoả mãn yêu cầu của các nhà quản trị.

- Sử dụng các kỹ thuật phân tích để cung cấp các thông tin có dạng đặc thù: phương

pháp so sánh, phương pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng....

- Trình bày thông tin dưới dạng mô hình, phương trình, đồ thị: đây là cách trình bày

dễ thấy, dễ hiểu, và rõ ràng nhất các mối quan hệ và xu hướng biến động của thông tin

đang nghiên cứu.

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHI PHÍ VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG DOANH

NGHIỆP SẢN XUẤT:

1. Bản chất của chi phí:

Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Chi phí có thể hiểu

một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật

hoá phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc chi phí là những phí tổn

về nguồn lực, tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Những nhận

thức về chi phí có thể khác nhau về quan điểm hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả đều

thừa nhận một vấn đề chung, chi phí là phí tổn về tài nguyên, vật chất, lao động và phải

phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh. Đây chính là bản chất kinh tế của chi

phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nếu như chi phí trong KTTC được đặt trong mối quan hệ với tài sản, vốn sở hữu

của doanh nghiệp và thường phải đảm bảo bởi những chứng cứ nhất định (chứng từ) chứng

minh là phí tổn thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì đứng trên phương diện kế

toán quản trị thì chi phí được nhận thức theo phương pháp nhận diện thông tin ra quyết

định với lý do này thì chi phí có thể là những phó tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản

xuất kinh doanh, chi phí cũng có thể là những phí tổn ước tính để thực hiện một hoạt động

sản xuất kinh doanh, những phí tổn mất đi do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội kinh

doanh. Như vậy trong kế toán quản trị, khi nhận thức chi phí cần chú ý đến sự lựa chọn, so

sánh theo mục đích sử dụng, ra quyết định kinh doanh hơn là chú trọng vào các chứng cứ.

2. Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất:

Có nhiều cách phân loại chi phí theo các tiêu thức khác nhau:

2.1. Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu:

Bao gồm:

- Chi phí nhân công.

- Chi phí nguyên vật liệu: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu,

phụ tùng thay thế, chi phí nguyên vật liệu khác...

- Chi phí công cụ dụng cụ.

- Chi phí khấu hao TSCĐ.

- Chi phí dịch vụ thuê ngoài.

- Chi phí khác bằng tiền.

2.2. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế (theo khoản mục):



8



- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

- Chi phí nhân công trực tiếp.

- Chi phí sản xuất chung.

- Chi phí bán hàng.

- Chi phí quản lý doanh nghiệp.

- Chi phí khác.

2.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ tính kết quả:

- Chi phí thời kỳ.

- Chi phí sản phẩm.

2.4. Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp:

- Chi phí trực tiếp.

- Chi phí gián tiếp.

2.5. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động:

Đây là cách phân loại phổ biến nhất trong kế toán quản trị. Theo tiêu thức này, chi

phí trong kỳ kế toán bao gồm: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp:

2.4.1. Biến phí:

Biến phí là những chi phí nếu xét về tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức hoạt

động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng sản phẩm tiêu thụ., số giờ máy vận

hành. Ngược lại nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động thì biến phí là một hằng số.

Trong một doanh nghiệp sản xuất, biến phí tồn tại khá phổ biến như: chi phí nguyên vật

liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng lượng.

Nếu khảo sát tỉ mẻ về biến phí, nhận thấy rằng biến phí tồn tại dưới nhiều hình thức

ứng xử khác nhau:

- Biến phí thực thụ: là biến phí mà sự biến động của chúng thay đổi tỉ lệ thuận và

biến động tuyến tính với mức độ hoạt động như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí

nhân công trực tiếp... Với các ứng xử tuyến tính theo biến động đơn vị và mức độ hoạt

động nên điều quan tâm và để kiểm soát tốt hơn biến phí thực thụ, chúng ta không chỉ

kiểm soát tổng số mà còn phải kiểm soát tốt biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động

(định mức biến phí) ở các mức độ khác nhau. Xây dựng và hoàn thiện định mức biến phí

thực thụ sẽ là tiền đề tiết kiệm, kiểm soát cách thức ứng xử của biến phí thực thụ.

- Biến phí cấp bậc: là những biến phí mà sự thay đổi của chúng chỉ xảy ra khi mức

độ hoạt động đạt đến một giới hạn, phạm vi nhất định. Ví dụ: chi phí lương thợ bảo trì, chi

phí điện năng... những chi phí này cũng thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động nhưng chỉ khi

quy mô sản xuất, mức độ hoạt động của máy móc thiết bị tăng giảm đến một giới hạn nhất

định.

Biến phí cấp bậc: thay đổi theo từng bậc vì vậy để tiết kiệm và kiểm soát tốt biến

phí cấp bậc cần phải:

- Xây dựng, hoàn thiện định mức biến phí cấp bậc ở từng cấp bậc tương ứng.



9



- Lựa chọn mức độ hoạt động thích hợp để đạt được một tỷ lệ biến phí cấp bậc tiết

kiệm nhất cho phép trong từng phạm vi.

2.4.2. Định phí:

Định phí là những chi phí mà xét về tổng số ít thay đổi hoặc không thay đổi theo

mức độ hoạt động nhưng nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động thì tỷ lệ nghịch với

mức độ hoạt động. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý là những đặc điểm trên của định phí chỉ

thích hợp trong từng phạm vi nhất định. Một khi mức độ hoạt động vượt khỏi giới hạn nhất

định thì nó có thể xuất hiện những thay đổi đột biến.

Khảo sát tỉ mỉ về định phí, nhận thấy định phí tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử

khác nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

a. Định phí bắt buộc: là những loại chi phí liên quan đến sử dụng tài sản dài hạn

như: khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo dưỡng... hai đặc điểm cơ bản của định phí bắt

buộc là:

+ Chúng tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Chúng không thể cắt giảm toàn bộ trong một thời gian ngắn.

Với những đặc điểm trên, việc dự báo và kiểm soát định phí bắt buộc từ lúc khởi

đầu xây dựng, triển khai dự án, xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp phải hướng

đến mục tiêu lâu dài.

b. Định phí không bắt buộc: còn được xem như định phí quản trị. Chi phí này phát

sinh gắn liền với quyết định hàng năm của nhà quản trị như: chi phí quảng cáo, nghiên cứu,

giao tế. Về phương diện quản lý, nhà quản trị không bị ràng buộc nhiều bởi quyết định về

định phí không bắt buộc. Định phí không bắt buộc có bản chất ngắn hạn trong những

trường hợp cần thiết có thể bị cắt giảm.

2.4.3. Chi phí hỗn hợp:

Là những chi phí bao gồm hỗn hợp cả biến phí và định phí. Ở một mức độ hoạt

động nào đó, chi phí hỗn hợp là định phí, thể hiện đặc điểm của định phí ở mức độ hoạt

động khác, nó có thể bao gồm cả định phí và biến phí. Vì vậy để quản lý chi phí hỗn hợp

phải kết hợp hai phạm vi ứng xử tương ứng, phải cân nhắc, khảo sáy chi tiết, tỉ mỉ tính hữu

dụng của chi phí hỗn hợp trong tương lai để tránh lãng phí, khi tiến hành phải tăng công

suất hoạt động để đơn giá bình quân của chúng giảm xuống.

Để xác định các thành phần biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp theo từng

phạm vi hoạt động, có thể dùng các mô hình toán học để kiểm định, phân tích hoặc thực

nghiệm. Dưới đây là các phương pháp cơ bản thường được sử dụng:

- Phương pháp cực đại - cực tiểu: còn được gọi là phương pháp chênh lệch, phương

pháp này phân tích chi phí hỗn hợp dựa trên cơ sở khảo sát chi phí hỗn hợp ở điểm có mức

độ hoạt động cao nhất và điểm có mức độ hoạt động thấp nhất. Chênh lệch chi phí giữa hai

mức độ hoạt động được chia cho mức gia tăng mức độ hoạt động vì định mức biến phí đơn

vị và tổng biến phí.

Sau đó loại trừ biến phí, chính là định phí trong thành phần chi phí hỗn hợp.

- Phương pháp bình phương bé nhất.

- Phương pháp đồ thị phân tán.



10



2.5. Các nhận diện khác về chi phí:

- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được.

- Chi phí chênh lệch

- Chi phí chìm

- Chi phí cơ hội

III. NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP

SẢN XUẤT:

1. Lập dự toán chi phí sản xuất :

1.1. Dự toán nguyên vật liệu trực tiếp:

Dự toán nguyên vật liệu trực tiếp được lập dựa trên cơ sở dự toán sản xuất và định

mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nhằm xác định nhu cầu về lowngj và giá đảm bảo

nguyên vật liệu cho sản xuất và dự toán về lịch thanh toán tiền mua nguyên vật liệu.

Dự toán chi phí sản xuất là phương tiện thông tin cung cấp cho các chức năng

hoạch định và kiểm soát chi phí của nhà quản trị nhằm đo lường, chấn chỉnh quá trình tổ

chức thực hiện chi phí trong từng bộ phận cụ thể đảm bảo cho quá trình thực hiện mục tiêu

chung của doanh nghiệp.

Dự toán chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm các dự toán sau:

Dự toán lượng

NVL trực tiếp

mua



=



Dự toán NVLTT

dùng cho sản

xuất



+



Dự toán

NVLTT tồn

kho cuối kỳ



Dự toán giá mua

NVLTT



=



Dự toán lượng

NVLTT mua



Dự toán tiền thanh toán

NVLTT



=



Dự toán giá mua

NVLTT



x



x



-



Dự toán

NVLTT tồn

kho đầu kỳ



Định mức giá

NVLTT

Tỷ lệ thanh toán tiền

trong từng kỳ



1.2. Dự toán nhân công trực tiếp:

Dự toán thời gian lao

động (giờ)

Dự toán CPNC trực

tiếp



=



=



Dự toán

CPSX



Dự toán thời gian

lao động



x



x



Định mức thời gian sản

xuất sản phẩm

Định mức giá của mỗi đơn vị

thời gian lao động



1.3. Dự toán chi phí sản xuất chung:

Dự toán chi phí sản xuất chung: bao gồm dự toán biến phí sản xuất chung và dự

toán chi phí sản xuất chung.

1.3.1. Dự toán biến phí sản xuất chung:

Trường hợp biến phí sản xuất chung được xây dựng theo từng yếu tố chi phí (chi



11



phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp...) theo mỗi đơn vị hoạt động thì quá trình

lập dự toán biến phí sản xuất chung được thực hiện tương tự như dự toán chi phí nguyên

vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp.

Ví dụ: biến phí sản xuất chung cho 1 giờ máy hoạt động là 2000đ, dự toán số giờ

máy hoạt động trong kỳ là 6000 giờ, dự toán biến phí sản xuất chung là 6000 x 2000 =

12.000.000đ

- Trường hợp biến phí sản xuất chung được xác định bằng một tỷ lệ trên biến phí

trực tiếp thì dựa vào dự toán biến phí trực tiếp, tỷ lệ biến phí sản xuất để lập dự toán biến

phí sản xuất chung.

Dự toán biến phí sản

xuất chung



=



Dự toán biến phí

trực tiếp



x



Tỷ lệ biến phí sản

xuất chung



1.3.2. Dự toán định phí sản xuất chung:

Đối với các yếu tố định phí sản xuất chung bắt buộc, căn cứ vào định phí sản xuất

chung hàng năm chia đều cho 4 quý để xác định định phí sản xuất chung hàng quý.

Đối với các yếu tố định phí sản xuất chung tuỳ ý, căn cứ vào hành động nhà quản

trị xác định đó ta xác định được:

Dự toán chi phí sản xuất

chung



=



Dự toán biến phí sản

xuất chung



+



Dự toán định phí

sản xuất chung



Dự toán số lượng sản

phẩm tiêu thụ



x



Định mức biến phí

bán hàng



1.4. Dự toán chi phí bán hàng:

Dự toán biến phí bán

hàng



=



1.4.2. Dự toán định phí bán hàng:

Dự toán định phí bán hàng được lập tương tự như lập dự toán định phí sản xuất

chung. Điều này có nghĩa là dự toán định phí bán hàng chính là tổng hợp dự toán định phí

bắt buộc và định phí quản trị cần thiết cho kỳ bán hàng.

Từ đó ta xác định:

Dự toán chi phí

hàng



bán



=



Dự toán biến phí bán

hàng



Dự toán định phí

bán hàng



+



1.5. Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp:

1.5.1. Dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp:

Dự toán biến phí quản lý

doanh nghiệp



=



Dự toán biến phí

trực tiếp



x



Tỷ lệ biến phí quản lý

doanh nghiệp



1.5.2. Dự toán định phí quản lý doanh nghiệp:

Tương tự như dự toán định phí sản xuất chung:

Vậy:

Dự toán chi phí quản lý



=



Dự toán biến phí quản lý



+



Dự toán định phí



12



doanh nghiệp



doanh nghiệp



quản lý DN



Từ đầu đến giờ chúng ta giả định làm việc với ngân sách cố định nghĩa là các chi

phí dự báo trong kỳ được giữ nguyên không đòi bất chấp mọi việc xảy ra trong thời kỳ đó.

Mặc dù được lập tương đối đơn giản. Tuy nhiên nó không cung cấp đủ thông tin để ứng

phó với các tình huống khác nhau, nhất là khi doanh nghiệp có sự điều chỉnh về quy mô,

mức độ hoạt động để thích ứng với tình hình thực tế của thị trường. Vì vậy dự toán linh

hoạt ra đời đã giúp cho nhà quản trị có nhiều thông tin hơn để ứng phó với các tình huóng

sản xuất kinh doanh khác nhau.

Dự toán linh hoạt là dự toán được lập tương ứng với nhiều mức độ hoạt động khác

nhau. Việc đầu tiên phải làm khi hoạch định chi phí linh hoạt là phân loại chi phí thành:

- Chi phí cố định.

- Chi phí biến đổi.

Ví dụ:

Biến phí sản xuất: 50 triệu

Chi phí cố định : 50 triệu

=> Biến phí đơn vị:



2000 sản phẩm



50

= 25.000 đồng/sản phẩm

2000



Ngân sách linh hoạt:



Ngân sách 1



Ngân sách 2



Sản phẩm/ tiêu thụ



2000



3000



chi phí



100



(50 + 25.000 x 3.000) 125 triệu



Báo cáo kiểm soát thực hiện ngân sách:

SX/ tiêu thụ (đvsp)

Ngân sách

Thực tế

Biến động

chi phí (đồng

2700

2700

0

(50tr+25000x2700)

130tr

(130-117,5) = 12,5tr. Bất

117,5tr

lợi

2. Kiểm tra, đánh giá thực hiện chi phí thông qua các báo cáo bộ phận

Kiểm tra đánh giá việc thực hiện chi phí là yêu cầu cần thiết đối với doanh nghiệp.

Thông qua quá trình kiểm soát chi phí giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí làm

giảm giá thành, tăng lợi nhuận, nâng cấp hiệu quả sản xuất kinh doanh. Qua việc phân tích

tình hình biến động chi phí có thể xác định được các khả năng tiềm tàng, các nguyên nhân

chủ quan, khách quan tác động đến sự tăng giảm chi phí thực tế so với chi phí tiêu chuẩn

đặt ra trước đó từ đó để ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, khai thác khả năng tiềm

tàng góp phần tiết kiệm chi phí.

Chi phí sản xuất kinh doanh rất đa dạng, phong phú bao gồm nhiều loại, mỗi loại

có đặc điểm vận động yêu cầu quản lý khác nhau. Để tạo điều kiện kiểm soát chi phí và

khai thác tốt hơn những tiềm năng trong hoạt động thì chúng ta cần phải đi sâu vào công

tác phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo từng khoản mục chi phí để

hướng đến việc đánh giá những nguồn gốc, nguyên nhân, trách nhiệm trong việc thực hiện

dự toán. Quá trình tính toán phân tích có thể thiết lập thành các bảng biểu phân tích thích

hợp để hệ thống thông tin sự tác động của các nhân tố để thuận lợi cho quá trình đánh giá.

2.1. Báo cáo về nguyên vật liệu trực tiếp



13



Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, vật

liệu phụ, kể cả bán thành phẩm mua ngoài dùng trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm.

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản

phẩm trong ngành công nghiệp nhẹ cho nên việc kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

có ý nghĩa lớn đến việc hạ giá thành.

CPNVLTT = SLSPSX x Định mức tiêu hao NVLTT x Đơn giá mua

Do đó mà chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố:

- Số lượng sản phẩm sản xuất .

- Định mức tiêu hao.

- Đơn giá mua.

Tuy nhiên, sự tăng giảm của chi phí sản xuất không phản ánh kết quả tiết kiệm hay

lãng phí, vì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí khả biến nên sản phẩm sản xuất tăng

thì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tăng và ngược lại. vì vậy cần phải đảm bảo sự phối hợp

một cách chặt chẽ giữa khâu sản xuất và khâu tiêu thụ đảm bảo chi phí tồn kho tối thiểu.

Vì vậy để tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì chúng ta cần phải kiểm soát

được định mức tiêu hao nguyên vật liệu và đơn giá nguyên vật liệu.

Để làm rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

của từng loại sản phẩm, tỏng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của doanh nghiệp giúp cho

nhà quản trị trong việc kiểm soát chi phí chúng ta có thể xây dựng bảng báo cáo và phân

tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp như sau:



14



BẢNG PHÂN TÍCH CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU

Chỉ tiêu

Dự

toán



Sản phẩm A

Thực

Chênh

hiện

lệch



Mức độ

ảnh

hưởng



Dự

toán



Sản phẩm B

Thực

Chênh

hiện

lệch



Mức độ

ảnh hưởng



Sản phẩm

...



1. Số lượng SPSX

2. Định mức tiêu hao NVL

- Vật liệu X

- Vật liệu Y

....

3. Đơn giá NVL

- Vật liệu X

- Vật liệu Y

....

Để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ta có thể sử dụng các

phương pháp kỹ thuật tính toán như phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn.

Thông qua bảng phân tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chỉ ra những biến động bất lợi hay thuận lợi của định mức tiêu hao

nguyên vật liệu và giá cả nguyên liệu từ đó bộ phận quản lý phải có trách nhiệm giải thích rõ nguyên nhân chủ quan hay khách quan tác

động đến sự biến động này và đồng thời đề ra các giải pháp thích hợp để kiểm soát chi phí nguyên vật liệu ở đầu vào và khai thác các

khả năng còn tiềm tàng.



15



2.2. Báo cáo chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếp là biểu hiện bằng tiền khoản hao phí về lao động sống

mà doanh nghiệp phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất bao gồm: tiền lương chính, tiền

lương phụ, các khoản phụ cấp theo lương và các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ được trích

theo tỷ lệ trên tiền lương và tính vào chi phí. Do chi phí nhân công trực tiếp là chi phí khả

biến nên mức độ hoạt động tăng lên, chi phí tăng lên và ngược lại. Thông qua quá trình

phân tích chi phí nhân công trực tiếp giúp cho nhà quản trị kiểm sóat chi phí hiệu quả hơn.

Ta có:

Tổng CPNCTT = x CP nhân công bình quân

Do vậy khi phân tích chi phí nhân công trực tiếp cần phải so sánh chi phí nhân công

với đại lượng kết quả hoàn thành như chỉ tiêu số lượng sản phẩm, giá trị sản xuất hay

doanh thu, so sánh mức độ tăng năng suất lao động với mức độ tăng của chi phí nhân công

bình quân cho thấy việc tuyển dụng và sử dụng lao động có hiệu quả hơn, lao động đem lại

nhiều lợi ích hơn và ngược lại.

Như chúng ta đã biết hệ thống các báo cáo về lao động hiện nay tại các doanh

nghiệp chỉ mới tập trung vào việc cung cấp thông tin cho việc tính lượng chứ chưa đi vào

phân tích và đánh giá nguyên nhân của những biến động của chi phí lao động theo hướng

bất lợi hay có lợi. Để đáp ứng yêu cầu trên thì chúng ta có thể áp dụng bảng phân tích chi

phí nhân công trực tiếp theo mẫu sau:

BẢNG PHÂN TÍCH CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP

Mức độ

Kế

Thực

Mức

Tỷ lệ (%)

ảnh hưởng

Chỉ tiêu

hoạch

tế năm chênh

chênh lệch

năm X1

X1

lệch

(∆)

1. Giá trị sản xuất

2. Tổng CPNCTT

3. Số lao động bình quân

4. CPNC BQ cho một lao động

5. năng suất lao động bình quân

6. Tỷ trọng CPNCTT (%)

Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố được xác định như sau:

1

∆TCPNCTT - GTSX = (GTSX1 - GTSX0) x

x CPNC0

NSLÂ 0

∆TCPNCTT - NSLĐ = GTSX1 x (



1

1



) x CPNC0

NSLÂ1 NSLÂ 0



1

x (CPNC1 - CPNC0)

NSLÂ1

Thông qua số liệu trên bảng cho thấy việc sử dụng lao động chi trả lương của

doanh nghiệp thực tế có hiệu quả so với kế hoạch hay không có đảm bảo kết hợp lợi ích

của doanh nghiệp với lợi ích của người lao động hay không. Đồng thời cũng cho thấy

doanh nghiệp có tiết kiệm hay lãng phí chi phí nhân công trực tiếp từ đó chỉ có các nguyên

nhân dẫn đến tình trạng trên.

2.3. Báo cáo về chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là những chi phí phục vụ và quản lý liên quan đến quá trình

phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất. Đây là khoản mục chi phí được cấu thành từ

∆TCPNCTT - CPNC = GTSX1 x



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

×