1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Khoa học xã hội >

2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (242.23 KB, 34 trang )


xuất, không còn tình trạng áp bức, bóc lột. Muốn có xã hội như vậy cần phải có thời

kỳ lịch sử nhất định.

Hai là, chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên nền đại công nghiệp có trình độ

cao. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra nền đại công nghiệp nhưng nó chưa phải là cơ sở

vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Muốn có cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ

nghĩa xã hội cần phải có thời gian để tổ chức lại, sắp xếp, cải tạo nền đại công

nghiệp tư bản chủ nghĩa thành cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

Ba là, các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội không tự phát nảy sinh từ chủ nghĩa

tư bản, mà chỉ có thể là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc mới mẻ, khó khăn phức

tạp và đòi hỏi phải có thời gian.

Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại của xã hội cũ

đan xen với những nhân tố mới của chủ nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa thống

nhất vừa đấu tranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: chính trị,

kinh tế, văn hoá, tư tưởng…và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên

lĩnh vực kinh tế là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong hệ thống kinh tế

quốc dân thống nhất, vận động theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế có

nhiều thành phần được xác lập trên cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều loại hình

sở hữu về tư liệu sản xuất với những hình thức tổ chức kinh tế đa dạng, đan xen hỗn

hợp với nhau, nhiều hình thức phân phối thu nhập khác nhau. Trên lĩnh vực chính

trị: Do kết cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đa dạng, phức tạp

nên kết cấu giai cấp xã hội trong thời kỳ này cũng đa dạng, phức tạp. Thời kỳ này

bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, những người sản

xuất nhỏ, tầng lớp tư sản. Các gia cấp, tầng lớp này vừa hợp tác, vừa đấu tranh với

nhau. Trong một giai cấp, tầng lớp cũng có nhiều bộ phận có trình độ, ý thức khác

nhau, do đó ý thức chính trị của các bộ phận khác nhau cũng có sự khác nhau. Trên

lĩnh vực tư tưởng văn hóa - xã hội là sự tồn tại nhiều tư tưởng và văn hóa khác

nhau. Bên cạnh tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Mác - Lênin giữ vai trò thống

trị vẫn tồn tại các tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, tâm lý tiểu nông… Vậy, thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội về thực chất là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh giữa giai cấp

tư sản đã bị đánh bại, không còn là giai cấp thống trị và các thế lực chống phá chủ

nghĩa xã hội với giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động. Cuộc đấu

tranh giai cấp diễn ra trong điều kiện mới là giai cấp công nhân đã cầm quyền, quản

lý tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Cuộc đấu tranh giai cấp với những nội dung,

10



hình thức mới, diễn ra trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa tư tưởng, bằng

tuyên truyền vận động là chủ yếu, bằng hành chính và luật pháp. Nội dung kinh tế,

chính trị và văn hóa, xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong lĩnh vực

kinh tế: Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần phải sắp xếp, bố trí lại lực

lượng sản xuất hiện có của xã hội, cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ

sản xuất mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, đáp ứng ngày

càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Quá trình này phải tuân thủ những đòi hỏi

khách quan của quy luật kinh tế, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất.Đối với những nước chưa trải qua chế độ tư

bản chủ nghĩa, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa để tạo ra cơ

sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đó là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá

độ. Quá trình này đòi hỏi phải tuân thủ quy luật kinh tế khách quan và tùy thuộc

điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước và bối cảnh quốc tế để xác định chiến lược,

bước đi và nội dung thích hợp. Trong lĩnh vực chính trị: Nội dung cơ bản trong lĩnh

vực chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tiến hành cuộc đấu tranh

chống lại các thế lực thù địch, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây

dựng, củng cố nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh,

đảm bảo quyền làm chủ trong hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội của nhân dân lao

động; xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội thực sự là nơi thực hiện quyền làm

chủ của nhân dân lao động; xây dựng Đảng Cộng sản trong sạch, vững mạnh ngang

tầm nhiệm vụ lịch sử. Trong lĩnh vực xã hội: Nội dung cơ bản trong lĩnh vực xã hội

của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là khắc phục tệ nạn do xã hội cũ để lại, từng

bước khắc phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư

trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội; xây dựng mối quan hệ tốt

đẹp giữa người với người.

2.2.2



Xã hội xã hội chủ nghĩa



Xã hội xã hội chủ nghĩa (Chủ nghĩa xã hội) là giai đoạn thấp của chủ nghĩa

cộng sản có các đặc trưng sau: Cơ sở vật chất - kỹ thuật là nền sản xuất công nghiệp

với trình độ công nghệ hiện đại mỗi chế độ xã hội đều có cơ sở vật chất kỹ thuật

tương ứng của nó, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật của chế độ đó. Nếu

công cụ thủ công là đặc trưng cho cơ sở vật chất kỹ thuật của các xã hội tiền tư bản

chủ nghĩa thì nền đại công nghiệp cơ khí đặc trưng cho cơ sở vật chất kỹ thuật của

11



chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa xã hội với tư cách là xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản,

cao hơn chủ nghĩa tư bản thì cơ sở vật chất kỹ thuật của nó phải là nền sản xuất đại

công nghiệp có trình độ cao hơn so với trình độ của xã hội tư bản chủ nghĩa. Đối

với các nước tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng sản xuất đã phát

triển cao là điều kiện thuận lợi để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã

hội. Đối với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, để

xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội tất yếu phải thực hiện công

nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xã hội xã hội chủ nghĩa xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư bản

chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội

Xã hội xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa là hai chế độ xã hội mà ở đó có sự khác

nhau về chế độ sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu. Ở xã hội xã hội chủ nghĩa đó là chế

độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu còn trong xã hội tư bản chủ nghĩa đó là chế

độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.Các nhà kinh điển của chủ nghĩa

Mác-Lênin đã chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội không xoá bỏ chế độ tư hữu nói chung mà

chủ yếu là xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu, vì đây

chính là nguồn gốc của áp bức, bóc lột giá trị thặng dư.Theo C.Mác và Ph.Ăngghen,

giai cấp vô sản phải từng bước đoạt lấytư liệu sản xuất từ trong tay giai cấp tư sản,

tập trung những tư liệu ấy vào trong tay nhà nước để phục vụ cho toàn xã hội, xây

dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sở hữu

tư liệu sản xuất tồn tại dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể,

người lao động làm chủ các tư liệu sản xuất của xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa tạo

ra cách thức tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới. Tới xã hội xã hội chủ nghĩa,

tư liệu sản xuất đã mang tính xã hội hóa,tạo điều kiện cho người lao động kết hợp

hài hòa giữa lợi ích cá nhân, lợi íchtập thể và lợi ích toàn xã hội. Trên cơ sở đó tạo

ra cách tổ chức lao động mới dựa trên tinh thần tự giác của nhân dân. Mặt khác, chủ

nghĩa xã hội được xây dựng trên cơ sở vật chất kỹ thuật là nền đại công nghiệp ở

trình độ cao, do vậy đòi hỏi kỷ luật lao động chặt chẽ. Các nhà kinh điển của chủ

nghĩa Mác cho rằng: lao động được tổ chức có kế hoạch, trên tinh thần tự giác, tự

nguyện là đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. Đương nhiên, để có một kiểu tổ

chức lao động kỷ luật và tự giác cao đòi hỏi phải đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền

vận động, mặt khác phải đấu tranh khắc phục tư tưởng, tác phong của người sản

xuất nhỏ.

12



Xã hội xã hội chủ nghĩa thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động Trong

xã hội xã hội chủ nghĩa. Tuy sản xuất đã phát triển nhưng chưa đủ khả năng thực

hiện phân phối theo nhu cầu, do đó nguyên tắc phân phối cơ bản vẫn là phân phối

theo lao động. Nguyên tắc phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối dựa

trên kết quả lao động mà người lao động đã đóng góp cho xã hội. Đây là nguyên tắc

phân phối cơ bản nhất trong chủ nghĩa xã hội nhưng không phải là nguyên tắc phân

phối duy nhất. Nguyên tắc phân phối theo lao động vừa phù hợp với trình độ phát

triển kinh tế xã hội, vừa thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, đồng thời là một

nội dung quan trọng trong thực hiện công bằng xã hội trong giai đoạn này. Nhà

nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, có tính nhân dân rộng

rãi và tính dân tộc sâu sắc; thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân. Nhà nước

xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, là cơ quan quyền lực tập trung

của giai cấp công nhân, nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; thực hiện trấn áp

các thế lực phản động, các lực lượng chống chủ nghĩa xã hội. Nhà nước xã hội chủ

nghĩa mang tính nhân dân rộng rãi. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tập hợp đại biểu các

tầng lớp nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, tạo điều kiện để nhân

dân tham gia ngày càng nhiều vào công việc của nhà nước với tinh thần tự giác, tự

quản. Nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơn quyền tự do, dân chủ của nhân dân.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang tính dân tộc sâu sắc. Trong thời đại ngày nay, giai

cấp công nhân là người đại diện chân chính cho dân tộc, có lợi ích cơ bản thống

nhất với lợi ích dân tộc. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện đoàn kết các dân tộc,

tạo sự bình đẳng giữa các dân tộc, không ngừng phát huy những giá trị tốt đẹp của

dân tộc. Xã hội xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội mà con người giải phóng, và thoát

khỏi chế độ áp bức bóc lột; thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội tạo ra

những điều kiện cơ bản để con người phát triển toàn diện. Mục tiêu cao nhất của xã

hội xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người, khỏi sự bóc lột về kinh tế, nô dịch về

tinh thần, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện. Cùng với việc xóa bỏ

chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, phát triển lực

lượng sản xuất, chủ nghĩa xã hội thực hiện xóa bỏ đối kháng giai cấp, thực hiện

công bằng, bình đẳng xã hội. Đây là một quá trình lâu dài và được thực hiện từng

bước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư

13



tưởng…Tuy nhiên, trong giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa, sự bình đẳng được xác

lập trong điều điện xã hội vẫn còn giai cấp, còn nhà nước do đó, chưa thể có “bình

đẳng thực sự”.

2.2.3



Giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa



Trên cơ sở nghiên cứu quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, C.Mác dự

báo về sự xuất hiện giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa:

Về mặt kinh tế: Lực lượng sản xuất phát triển vô cùng mạnh mẽ, của cải xã hội tuôn

ra dào dạt, ý thức con người được nâng lên, khoa học phát triển, lao động của con

người được giảm nhẹ, thực hiện phân phối theo nhu cầu. Trong tác phẩm Phê phán

Cương lĩnh Gôta, C.Mác đã viết: “Khi nào lao động trở thành không những là một

phương tiện để sinh sống mà bản thân nó còn là một nhu cầu bậc nhất của đời sống,

khi mà cùng với sự phát triển toàn diện của các cá nhân, sức sản xuất của họ ngày

càng tăng lên và tất cả các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào - chỉ khi đó

người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã

hội mới có thể ghi lên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

Về mặt xã hội: Trình độ xã hội phát triển ngày càng cao, con người có điều

kiện phát triển năng lực của mình, tri thức con người được nâng cao, không còn sự

khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giai cấp và nhà nước sẽ tiêu vong. Chỉ lúc đó,

một nền dân chủ thực sự hoàn bị, thực sự không hạn chế mới có thể có và được thực

hiện. Kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã tiếp tục đưa

ra những luận giải về mô hình xã hội trong tương lai. Ông cho rằng, khi xã hội đạt

được trình độ phát triển cao như vậy, thì dân chủ mới thực hiện đầy đủ, dân chủ cho

mọi người, không còn đối tượng bị hạn chế dân chủ, do vậy dân chủ cũng không

còn, nhà nước luật pháp tự tiêu vong, pháp luật trở thành phong tục, tập quán, thành

quan niệm đạo đức mọi người tự giác thực hiện. Tới giai đoạn cao của hình thái

kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, con người được giải phóng hoàn toàn, chuyển

từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do, có điều kiện phát triển toàn

diện năng lực và mang hết tài năng, trí tuệ cống hiến cho xã hội.... V.I.Lênin cho

rằng, không phải nhà nước tiêu vong ngay một lúc, mà là một quá trình: “Chúng ta

chỉ có quyền nói rằng, nhà nước tất nhiên sẽ tiêu vong đồng thời nhấn mạnh vào

tính chất lâu dài của quá trình ấy, sự phụ thuộc của quá trình ấy vào tốc độ phát

triển của giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản” Qua phân tích của C.Mác,

14



Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản,

các ông đều nêu lên những điều kiện kinh tế - xã hội đảm bảo cho sự xuất hiện của

giai đoạn này. Các điều kiện đó là:

Một là, C.Mác. Ph.Ăngghen và V.I.Lênin dự báo về giai đoạn cao của hình

thái kinh tế - cộng sản chủ nghĩa khi có những điều kiện kinh tế - xã hội cho sự xuất

hiện của giai đoạn này.

Hai là, sự xuất hiện giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ

nghĩa là một quá trình lâu dài, bằng việc không ngừng phát triển lực lượng sản xuất,

cơ cấu lại tổ chức xã hội về mọi mặt, giáo dục tinh thần tự giác của con người...

Ba là, quá trình xuất hiện giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội hội

cộng sản chủ nghĩa ở các nước khác nhau diễn ra với những quá trình khác nhau,

tuỳ thuộc vào sự nỗ lực phấn đấu về mọi phương diện. Khi chưa xuất hiện giai đoạn

cao thì “trong một thời gian nhất định, dưới chế độ cộng sản, không những vẫn còn

pháp quyền tư sản, mà vẫn còn cả nhà nước kiểu tư sản nhưng không có giai cấp tư

sản”. Khi chưa đạt đến giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ

nghĩa, trong điều kiện vẫn còn chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc trên thế giới thì

những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác về nhà nước, về dân chủ vẫn còn nguyên

giá trị. Tính giai cấp của nhà nước, của dân chủ vẫn còn tồn tại. Các nhà kinh điển

của chủ nghĩa Mác-Lênin đưa ra các dự báo và luận giải về sự ra đời, phát triển của

hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trên cơ sở phân tích quy luật phát triển

khách quan của xã hội, đặc biệt là quy luật kinh tế của sự vận động của xã hội tư

bản chủ nghĩa. Thế nhưng, lịch sử phát triển của xã hội luôn luôn chịu tác động của

nhiều nhân tố khách quan và chủ quan trong những điều kiện xác định, từ đó tạo

nên tính phong phú đa dạng của tiến trình lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng

người cũng như của toàn bộ lịch sử nhân loại. Do vậy, tiến trình phát triển của lịch

sử không bao giờ là con đường thẳng, trái lại nó có thể phải trải qua những bước

thăng trầm với những con đường vòng, thậm chí phải trải qua những bước khủng

hoảng và thụt lùi tạm thời trên con đường phát triển của nó. Đó là biện chứng của

lịch sử. Từ đó, C.Mác đưa ra kết luận: “tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế

- xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”.

CHƯƠNG 3

PHÂN TÍCH VẬN MỆNH CỦA HỌC THUYẾT MARX

VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

15



3.1 SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐẦU TIÊN TRÊN

THẾ GIỚI

Trên thế giới, sau cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng

lợi (1917), chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời, có thời kỳ đã trở thành hệ thống thế

giới đối lập với chủ nghĩa tư bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cách

mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người,

mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ

nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

Cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi đã chứng

minh một cách sinh động nhất tính triệt để, sâu sắc và tính toàn diện của cách mạng

xã hội chủ nghĩa nếu so sánh với các cuộc cách mạng xã hội trước đó.

Sau những sự kiện diễn ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu

vào thập niên cuối thế kỷ XX, những người mácxít đã phải đứng trước vấn đề số

phận và tương lai của học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội Giải quyết vấn đề nan

giải và hệ trọng này, theo chúng tôi, trước hết cần phải tiết cận với học thuyết Mác

về chủ nghĩa xã hội nói riêng đã và vẫn đang là sự biểu thị tập trung những kỳ vọng

đối với nền văn minh công nghiệp từ nền văn hóa đã được hình thành ở phương Tây

từ thời cổ đại. Theo đó, việc giải quyết nhiệm vụ này đòi hỏi chúng ta phải làm rõ ít

nhất hai vấn đề: một là, thái độ của C.Mác đối với nền văn minh công nghiệp; hai

là, quan niệm của ông về con đường vận động tiếp theo của nền văn minh công

nghiệp đó.

3.2 THÁI ĐỘ CỦA C.MÁC ĐỐI VỚI NỀN VĂN MINH CÔNG NGHIỆP

C.Mác không chỉ kế tục truyền thống của chủ nghĩa phê phán Cận hiện đại,

mà còn đi xa hơn trong việc phê phán toàn diện và sâu sắc nền văn minh công

nghiệp, luận chứng cho con đường khắc phục “vượt bỏ” nên văn minh ấy. Kiên

định và phát triển học thuyết Mác trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

hiện nay đòi hỏi chúng ta phải tính đến ý nghĩa quan trọng này của học thuyết Mác.

Với Việt Nam chúng ta hiện nay, mục đích tối cao của sư vận động xã hội chủ

nghĩa cộng sản dược C.Mác xác định chưa trở thành nhiệm vụ trước mắt. Bước

chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp

quyền, về thực chất, không phải là các khẩu hiệu mácxít. Cho dù chúng ta có nói gì

về tính tương dung giữa chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (34 trang)

×