1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.52 MB, 104 trang )


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP

VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khi đề cập đến công tác chủ nhiệm lớp đã có nhiều tài liệu, công trình

nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Giáo

dục học 2004 (Chương XVI, Người giáo viên chủ nhiệm) của Phạm Viết VượngNhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; Phương pháp công tác của người giáo

viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên)Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2004; Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp

ở trường phổ thông của Hà Nhật Thăng ( chủ biên ) - Nhà xuất bản Giáo dục,

2005; Những tình huống giáo dục học sinh của người GVCN của Hà Nhật Thăng

( chủ biên ) - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2000; Công tác GVCN ở

trường phổ thông - NXBGD, 1998; Kỷ yếu hội thảo - Công tác GVCN ở trường

phổ thông – NXBGD, 2010.

Tác giả Nguyễn Thanh Bình với công trình: Công tác chủ nhiệm lớp ở trường

THPT đề tài mã số SPHN – 09 – 465 NCSP, 2010, cũng như cuốn Một số vấn đề

trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay - Nhà xuất bản ĐHSP,

2011. Ở đây các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của công tác chủ nhiệm

lớp và những nội dung trong công tác CNL ở trường THPT hiện nay từ góc nhìn

của chuẩn nghề nghiệp GV trung học. Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung cũng thể

hiện quan điểm của mình trong đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho sinh

viên sư phạm ( Kỷ yếu hội thảo khoa học - Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư

phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm, 2010 )

Một số tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có liên quan đến

công tác chủ nhiệm như Nguyễn Thanh Bình với tác phẩm Giáo dục kỹ năng

sống - Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội - 2007; Nguyễn Thị Kim Dung và

cộng sự Hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Tài liệu dành

cho lớp 11); Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm



6



của học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp -2007, mã

số: B 2006 – 17 – 01 – 2007.

Một số không nhiều bài báo, tài liệu khác viết về công tác GVCNL như: Rèn

luyện một số kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao

đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005); Một số

biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên

Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 135 (kỳ 1 – 4/2006).

Nghiên cứu về biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp có Một số biện pháp

tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp trong các

trường THPT tỉnh Bắc Ninh – 2005 của Nguyễn Khắc Hiền.

Ở Hải Phòng, công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cũng được Ban lãnh

đạo Sở GD&ĐT Hải Phòng rất quan tâm, chỉ đạo sát sao với Hội thảo Vai trò của

công tác chủ nhiệm trong trường phổ thông do Sở GD&ĐT kết hợp với Hội KH

Tâm lý – Giáo dục năm 2006; Hội nghị Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp trường

trung học do Sở GD&ĐT tổ chức tháng 11 năm 2009 đã được hầu hết các trường

phổ thông trong thành phố tham gia rất nhiệt tình với nhiều bài viết, tham luận,

báo cáo của các cấp lãnh đạo các trường và của chính các đồng chí giáo viên trực

tiếp làm công tác chủ nhiệm trình bày như Chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở trường

THPT Thái Phiên của Đào Thị Huệ; Trường THPT Nguyễn Trãi với công tác bồi

dưỡng giáo viên chủ nhiệm của Lê Hoàng Việt; Công tác chủ nhiệm với việc xây

dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực của Trần Thị Hương Duyên; Tầm

quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp của Trương Thị Yến. Các bài viết trên tác

giả đã nêu được tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp, thực trạng công tác

chủ nhiệm lớp, những kinh nghiệm quý báu được đúc kết trong quá trình làm

công tác chủ nhiệm cũng được các tác giả chia sẻ với các đồng nghiệp trong hội

nghị, lãnh đạo các nhà trường cũng đưa ra những biện pháp rất tích cực để chỉ

đạo, bồi dưỡng công tác này đồng thời cũng có những ý kiến đề xuất trình lên các

cấp lãnh đạo cao hơn nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác chủ nhiệm và gửi đến

hội nghị cái nhìn toàn diện đầy đủ của công tác này trong sự nghiệp GD chung

của toàn ngành. Tuy vậy cũng chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về

7



quản lý công tác chủ nhiệm lớp đặc biệt dành cho khối THCS - Đây là một vấn

đề nghiên cứu khá mới trong giai đoạn hiện nay ở thành phố Hải Phòng.

1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.

1.2.1.1 Những khái niệm về quản lý, chức năng quản lý

Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, con người muốn tồn tại

và phát triển cần phải có sự phối hợp với nhau trong một nhóm, một tổ chức. Để

tổ chức, điều khiển tạo nên sự phối hợp của nhóm người hoạt động theo yêu cầu

nhất định, một loại hình lao động mới xuất hiện – Đó là hoạt động quản lý.

Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm

thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra, quản lý là một hoạt động

bao trùm mọi mặt đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong sự phát

triển của xã hội. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi

trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý là một

phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử.

Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt coi “ Quản lý là một quá trình định

hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục

tiêu nhất định”[23]

Quản lý là sự tác động có chủ đích (có kế hoạch, có phương pháp, cách

thức tiến hành) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu

quản lý, đảm bảo cho hệ thống vận hành đúng quy luật và mang lại lợi ích cho hệ

thống và xã hội.

Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn

thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định.

Quản lý là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ quản

lý. Đó là mối quan hệ hình thành giữa con người có liên quan đến hệ thống và

được hình thành theo những quy luật nhất định.

Một định nghĩa khác: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý

để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con

8



người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật

khách quan.

* Chức năng quản lý:

Quản lý có 4 chức năng sau: Chức năng kế hoạch hóa; Chức năng tổ chức;

Chức năng chỉ đạo; Chức năng kiểm tra. Bốn chức năng này được coi như bốn

công đoạn tạo nên một chu trình QL. Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan

xen nhau, bổ sung cho nhau và đều cần đến thông tin quản lý. Hoạt động QL là

một chu trình thống nhất biện chứng với đầy đủ cả bốn chức năng trên.

Khoa học QL đặt trên nền tảng phương pháp luận của triết học, chính trị

học, điều khiển học, kinh tế học, văn hóa học, lý thuyết thông tin… Để làm một

nhà QL, trước hết người ta phải được đào tạo, bồi dưỡng về khoa học QL thì mới

có thể làm đúng chứ chưa thể làm tốt công tác QL. Bởi quản lý là một nghề, mà

đã làm nghề thì phải được đào tạo ban đầu và bồi dưỡng thường xuyên, liên tục

thì mới đáp ứng được yêu cầu của công việc trong bối cảnh xã hội thay đổi từng

ngày, từng giờ như hiện nay.

1.2.1.2. Giáo dục, quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình

truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ con người. GD là

một loại hình hoạt động cơ bản của xã hội loài người nhằm chuyển giao cho các

thế hệ kế tiếp những giá trị vật chất và tinh thần của loài người đã được tích lũy

và phát triển trong nhiều năm đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu

cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng trong các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau.

GD đứng ở trung tâm của sự phát triển vừa của cá nhân con người vừa của cộng

đồng. GD đã góp phần làm cho xã hội loài người không ngừng phát triển. Trong

thời đại ngày nay sự tiến bộ của mỗi quốc gia đều phụ thuộc rất nhiều vào số và

chất lượng của GD mà nhân dân của mỗi quốc gia đó thừa hưởng. Vì GD là tiền

đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã hội như: chính trị, kinh

tế, văn hóa, an ninh quốc phòng. Do vậy phải coi GD một bộ phận hữu cơ quan

trọng nhất trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong đó



9



mục tiêu GD phải được coi là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của sự

phát triển.

Quản lý GD có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng,

hiệu quả của giáo dục. Người quản lý cần phối hợp sử dụng các nguồn nhân lực,

vật lực, tài lực và tin lực của tổ chức để đạt được mục tiêu giáo dục. Khái niệm

“quản lý giáo dục” chủ yếu có hai cấp độ là cấp vĩ mô và cấp vi mô.

Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số định nghĩa về

quản lý giáo dục:

- Đối với cấp vĩ mô:

Quản lý giáo dục:

Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt

động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác

đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” {2;tr.31}

Quản lý GD là quản lý một hệ thống xã hội hết sức năng động và phức tạp,

nó không chỉ đơn thuần là sử dụng sức mạnh luật pháp mà còn sử dụng hàng loạt

những biện pháp đối nhân xử thế để điều khiển, định hướng, điều chỉnh, tác động

vào toàn bộ hệ thống thúc đẩy nó đạt tới mục tiêu mong muốn khả thi. Đối tượng

của quản lý GD chủ yếu là con người, đồng thời mục tiêu QL cũng chính là hình

thành và phát triển nhân cách của con người, do đó phương pháp QL càng trở lên

phong phú, đa dạng và phức tạp hơn.

Phải chăng quản lý GD là một hệ thống có kế hoạch, có mục đích của chủ

thể quản lý đến đối tượng bị quản lý. Quản lý GD chính là một quá trình tác động

có định hướng của nhà quản lý GD trong việc vận dụng những nguyên lý,

phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực GD nhằm đạt được

những mục tiêu GD đã đặt ra.

Hay nói cách khác ở cấp vi mô thì quản lý GD là quản lý nhà trường.

Nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát

triển sự nghiệp GD. Trường học là cơ quan hành chính nhà nước đồng thời là một

tổ chức mang tính xã hội. Do đó quản lý trường học vừa có tính chất nhà nước

vừa có tính chất xã hội. Nhà nước và xã hội cùng hợp tác chăm lo xây dựng,

10



quản lý nhà trường, tạo mọi điều kiện tối ưu cho sự phát triển của trường học,

nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo học sinh.

Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản

lý nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng

giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất

lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”{24, tr 31}

Theo Trần Kiểm: “Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác

động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên,

học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và

phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng

tới hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến”{18, tr 27}

Tóm lại, quản lý trường học về bản chất là QL con người (tập thể cán bộ,

giáo viên và học sinh ) và QL các nguồn lực cơ sở vật chất, thiết bị GD của nhà

trường. Có thể hiểu QL nhà trường là hoạt động phối hợp điều hành của chủ thể

quản lý - Hiệu trưởng đối với GV, HS và các lực lượng xã hội liên quan nhằm

đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường. Cụ thể là thúc đẩy phong trào đào tạo

thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường

tiến lên trạng thái mong muốn.

1.2.1.3. Quản lý nhà trường

QL nhà trường là một bộ phận trong quản lý GD. Nhà trường (cơ sở GD)

chính là nơi tiến hành quá trình GD đào tạo, có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho

một nhóm dân cư nhất định thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: “Thế

hệ đi sau phải lĩnh hội được các kinh nghiệm xã hội mà thế hệ trước tích lũy và

truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó”{9;tr 15}

Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của XH thực hiện chức năng kiến tạo

các kinh nghiệm XH cho một nhóm dân cư nhất định của XH đó. Nhà trường

được tổ chức cho việc kiến tạo XH nói trên đạt được các mục tiêu XH đó đặt ra

cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan

niệm XH. Trường học là cơ sở tổ chức giáo dục mang tính Nhà nước - XH.

11



Trường học là một thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý từ địa

phương đến trung ương, lại vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội, do đó

quản lý nhà trường vừa có tính chất nhà nước vừa có tính xã hội. Quản lý nhà

trường chính là quản lý GD nhưng trong một phạm vi xác định của đơn vị GD mà

nền tảng là nhà trường. Do đó quản lý nhà trường phải vận dụng tất cả các

nguyên lý chung của quản lý GD để đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo

mục tiêu đào tạo. Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là quản lý dạy và

học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần

dần tiến tới mục tiêu giáo dục” {14; tr.71}

Quản lý nhà trường là hoạt động điều hành, phối hợp của Hiệu trưởng đối

với GV, HS và các lực lượng XH liên quan nhằm thực hiện mục tiêu GD. Đích

cuối cùng của mục tiêu GD là giáo dục HS toàn diện. Mà QL là nhằm hiện thực

hóa cái đích ấy cho nên QL trong nhà trường có thể coi như một hoạt động GD.

Trường THCS là cấp học chuyển giao giữa tiểu học và THPT, cấp học có ý

nghĩa then chốt đối với sự phát triển trí tuệ và nhân cách cho HS, ở cấp học này

HS không những cần tÝch lòy kiÕn thức, tri thức tốt chuÈn bÞ ®Ó tiÕp tôc cho bậc

THPT mà còn cần có nhân cách tốt, có các kỹ năng mềm để có thể tự ứng xử với

những tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.

Mục đích dạy học ở trường THCS nhằm thực hiện đồng thời 3 chức năng

bộ phận của quá trình dạy học: Giáo dưỡng – nắm vững hệ thống tri thức kỹ

năng, kỹ xảo và cách vận dụng chúng - phát triển tư duy khái niệm, tư duy logic,

tư duy biện chứng… và giáo dục – thái độ đạo đức… Ba chức năng bộ phận này

gắn bó hữu cơ với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau và tạo ra một hệ

toàn vẹn ba nhiệm vụ dạy học trong trường THCS nhằm mục đích phát triển toàn

diện con người - Phát triển nhân cách. Ngày nay phát triển nhân cách là nhiệm vụ

số một của GD, là vấn đề trọng tâm trong chiến lược con người được các nhà

khoa học trong nước cũng như trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Một trong

những công tác góp phần thực hiện tốt 3 nhiệm vụ trên ở trường THCS là công

tác GVCNL.

1.2.2. Công tác chủ nhiệm lớp

12



1.2.2.1. Khái niệm công tác chủ nhiệm lớp

Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức

để giảng dạy và giáo dục HS là lớp học. Hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo

lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc Comenxki đề

xướng. Để quản lý lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang

giảng dạy làm GVCNL. GVCN được Hiệu trưởng lựa chọn từ những GV có kinh

nghiệm GD, có uy tín trong HS, được Hội đồng giáo dục nhà trường nhất trí phân

công làm chủ nhiệm các lớp học xác định để thực hiện mục tiêu GD. Như vậy khi

nói đến người GVCNL là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm

công tác CNL, còn nói công tác chủ nhiệm lớp trong nhà trường nói chung và

trường THCS nói riêng là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà

người GVCNL phải làm, cần làm và nên làm.

1.2.2.2 Vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp

trong nhà trường phổ thông

* Vị trí và vai trò của người giáo viên chủ nhiệm lớp

GVCN là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người

thay mặt Hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và CMHS quản lý và chịu trách

nhiệm về chất lượng GD toàn diện HS lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ

trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp.

Với tư cách là người đại diện cho tập thể các nhà sư phạm, GVCNL có trách

nhiệm truyền đạt tất cả yêu cầu, kế hoạch GD của nhà trường tới tập thể và từng

HS của lớp chủ nhiệm. Đồng thời, GVCNL có khả năng biến những chủ trương,

kế hoạch đào tạo của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và

của mỗi học sinh.

Mỗi GVCNL còn là một thành viên tham mưu của Hội đồng sư phạm, có

trách nhiệm phản ánh đầy đủ thông tin về lớp chủ nhiệm cũng như từng thành

viên trong tập thể lớp, đề xuất các giải pháp giáo dục HS, giúp cán bộ quản lý,

lãnh đạo nhà trường đưa ra các định hướng, giải pháp quản lý, giáo dục học

sinh hiệu quả.



13



Đối với HS và tập thể lớp, GVCNL là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần

gũi nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động

và các mối quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự

quản là cán bộ lớp, cán bộ Đoàn – Đội và tính tự giác của mọi HS trong lớp.

GVCNL còn là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng HS của lớp phản

ánh với Hiệu trưởng, với các tổ chức trong nhà trường và với các GVBM. GVCN

với tư cách là đại diện cho lớp còn có trách nhiệm bảo vệ, bênh vực quyền lợi

mọi mặt cho HS trong lớp chủ nhiệm.

Như vậy, GVCN là cầu nối giữa Hiệu trưởng (BGH), giữa các tổ chức

trong nhà trường, giữa các GVBM với tập thể HS. Nói một cách khác, GVCN là

người đại diện hai phía, một mặt đại điện cho Hội đồng sư phạm, mặt khác lại đại

diện cho tập thể HS trong quá trình thực hiện công tác CNL.

GVCNL là người cố vấn cho công tác Đội và công tác Đoàn ở lớp chủ

nhiệm. GVCNL giữ vai trò là người cố vấn cho Ban chỉ huy chi đội của lớp chủ

nhiệm ở trường THCS, và là người cố vấn cho Ban chấp hành chi đoàn ở trường

THPT.

GVCNL có thể tư vấn cho đội ngũ này về việc lập kế hoạch và tổ chức các

hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của từng tổ chức, đồng thời kết hợp với các hoạt

động GD trong kế hoạch của lớp sẽ đem lại hiệu quả cao.

Trong quan hệ với các lực lượng GD khác trong và ngoài nhà trường,

GVCNL là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách HS và là cầu

nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

GVCNL vừa đưa ra những định hướng, mục tiêu phát triển, giáo dục HS vừa

phải tổ chức phối hợp với các lực lượng xã hội có liên quan nhằm thực hiện mục

tiêu GD của lớp chủ nhiệm, giáo dục HS hiệu quả.

GVCNL cũng là người triển khai những yêu cầu giáo dục của nhà trường

đến với gia đình, CMHS, đồng thời cũng là người tiếp nhận các thông tin phản

hồi từ HS, gia đình học sinh, các dư luận xã hội về HS trở lại với nhà trường để

giúp lãnh đạo nhà trường có giải pháp quản lý, phối hợp hiệu quả, đồng thời tạo

lập mối liên hệ thông tin đa chiều giữa nhà trường – gia đình – xã hội.

14



* Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp

a. Chức năng quản lý

GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng làm nhiệm vụ quản lý toàn diện

HS một lớp học. Để đạt được mục tiêu quản lý một tập thể HS, GVCNL phải

thực hiện phối hợp các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.

b. Chức năng giáo dục

GVCNL trước hết phải là một nhà giáo dục, thông qua việc tổ chức các

hoạt động của tập thể lớp để GD những phẩm chất, nhân cách của mỗi HS. Qua

các hoạt động đa dạng và phong phú, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa học sinh

và học sinh, giữa Hs với những người khác, hướng vào việc hình thành cho học

sinh những thói quan, hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Từ 2 chức năng trên, ta thấy người GVCNL phải đồng thời quản lý hoạt

động học tập và quản lý sự hình thành, phát triển nhân cách HS. Hai mặt này có

quan hệ hỗ trợ, tác động lẫn nhau, việc GD đạo đức có tác động mạnh mẽ đến

chất lượng học văn hóa, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi từng ngày, từng giờ

những cám dỗ, những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội, mặt trái của nền kinh tế thị

trường đang dội vào nhà trường.

Muốn thực hiện chức năng quản lý giáo dục toàn diện, GVCNL phải có

những tri thức cơ bản về tâm lý học, giáo dục học và phải có hàng loạt kỹ năng

sư phạm như: kỹ năng tiếp cận đối tượng HS, kỹ năng nghiên cứu tâm lý lứa tuổi,

nghiên cứu xã hội, kỹ năng lập kế hoạch công tác CNL và phải có sự nhạy cảm

sư phạm để có dự đoán đúng, chính xác sự phát triển nhân cách của học sinh,

định hướng và giúp các em lường trước những khó khăn, thuận lợi, vạch ra

những dự định để các em tự hoàn thiện về mọi mặt.

c. Chức năng đại diện

Người GVCNL đại diện cho Hiệu trưởng truyền đạt những yêu cầu đối với

học sinh. GVCNL còn là đại diện cho quyền lợi chính đáng của HS trong lớp,

bảo vệ HS một cách hợp pháp. Phản ánh kịp thời với Hiệu trưởng, các giáo viên

bộ môn, với gia đình HS, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường về những



15



nguyện vọng chính đáng của HS và của tập thể lớp để cùng có các biện pháp giải

quyết phù hợp, kịp thời, có tác dụng GD.

Đối với học sinh THCS, người GVCNL cần xác định mình có vai trò cố vấn

cho tập thể lớp. Điều này có nghĩa GVCNL không nên làm mọi việc thay cho đội

ngũ tự quản của lớp (Ban cán sự lớp, Ban chấp hành chi đội) mà nhiệm vụ chủ

yếu của GVCNL là bồi dưỡng năng lực tự quản cho HS. Những GVCNL có kinh

nghiệm thường thu hút hầu hết HS của lớp vào các hoạt động. Đội ngũ tự quản

thường chiếm khoảng 30% số học sinh của lớp và mỗi năm luân phiên đội ngũ tự

quản 20% để sau một cấp học số em có thể được huấn luyện tự quản nhiều hơn.

Để phát huy vai trò cố vấn, GVCNL cần có năng lực dự báo chính xác khả

năng của HS trong lớp. GVCNL phải phát hiện và bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo

của các em trong việc đề xuất các nội dung hoạt động, xây dựng kế hoạch hoạt

động toàn diện của mỗi tháng, mỗi học kỳ, của từng năm học. GVCNL chỉ là

người giúp HS tự tổ chức các hoạt động đã được kế hoạch hóa. Điều đó không

có nghĩa là GVCNL khoán trắng, đứng ngoài hoạt động của tập thể lớp chủ

nhiệm mà GVCNL nên hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động, bàn bạc, tranh thủ các

lực lượng trong và ngoài nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi cho HS lớp mình tổ

chức hoạt động.

Ngoài ra, GVCNL còn là người đại diện cho nhà trường trong việc phối hợp

với các tổ chức xã hội để thống nhất biện pháp giáo dục HS. Trong hoàn cảnh

hiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường, HS sống trong xã hội nhiều vẻ

và phức tạp; học sinh THCS luôn nhạy cảm với những cái mới lạ, trong đó có cả

cái tốt và cái xấu. Vì vậy GVCNL cần có ý thức sâu sắc trong việc giúp các em

thiết lập quan hệ đúng đắn, lành mạnh với mọi người. Đó là nhiệm vụ không hề

đơn giản và rất cần thiết đối với công tác CNL. GVCNL cần xác định rằng giáo

dục nhà trường có vai trò định hướng, tạo ra sự thống nhất tác động đến thế hệ trẻ

(trong đó có gia đình và các tổ chức xã hội khác). Cần khẳng định rằng gia đình

và giáo dục gia đình là môi trường GD gần gũi các em nhất và có nhiều ảnh

hưởng tới quá trình hình thành, phát triển nhân cách của các em nhất.

* Nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường trung học

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×