1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM CỦA HIỆU TRƯỞNG Ở TRƯỜNG THCS NGÔ QUYỀN QUẬN LÊ CHÂN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.52 MB, 104 trang )


Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM CỦA HIỆU

TRƯỞNG Ở TRƯỜNG THCS NGÔ QUYỀN QUẬN LÊ CHÂN

3.1. Căn cứ xây dựng đề xuất các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp

3.1.1 Căn cứ pháp lý

Các biện pháp QL công tác chủ nhiệm được đề xuất phải phù hợp với quan

điểm, nguyên lý GD của Đảng và Nhà nước và các quy định hiện hành của

Ngành GD & ĐT mà trước hết dựa vào:

- Quy định về nhiệm vụ và quyền của GVCN trong Điều lệ Trường THCS,

trường THPT và trường PT có nhiều cấp học ban hành kèm theo thông tư số

12/2011/TT- BGDĐT, ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, trong quy

định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng GD trường PT ban hành theo quyết định

số 80/2008/QĐ- BGDĐT ngày 03/12/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.

- Quy định về nhiệm vụ, chế độ giảm định mức tiết dạy đối với GVCN được quy

định tại Thông tư số 28/2009/TT- BGDĐT ngày 21/10/2009 của Bộ trưởng Bộ

GD&ĐT ban hành Qui định chế độ làm việc đối với GVPT.

- Quy định về ứng xử với HS, tìm hiểu đối tượng GD, tìm hiểu môi trường

GD, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, trong Quy định Chuẩn nghề

nghiệp GV THCS, GV THPT ban hành kèm theo Thông tư số 30/2009/TTBGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.

- Quy định về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và năng lực QL nhà

trường trong Quy định Chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và

trường PT có nhiều cấp học và Thông tư số 29/2009/TT- BGDĐT ngày

22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT.

3.1.2. Căn cứ thực tiễn

Các biện pháp QL được đề xuất phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động CNL và

QL công tác CNL ở các trường THCS trong quận Lê Chân thành phố Hải Phòng

52



nhằm đáp ứng được các yêu cầu cấp thiết đang đặt ra và buộc phải phù hợp với

thực tế đang diễn ra.

Từ kết quả khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động công tác CNL và QL công

tác CNL ở các trường THCS trong quận Lê Chân và đặc biệt là trường THCS

Ngô Quyền cho thấy các biện pháp QL công tác CNL đang thực hiện đã duy trì

được nền nếp, kỉ cương trường lớp, hoàn thành nhiệm vụ dạy học, giáo dục. Tuy

nhiên, các biện pháp này vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, chưa thúc đẩy được

chất lượng GD đáp ứng ở mức cao nhất mục tiêu đặt ra. Do đó, các biện pháp QL

công tác CNL được đề xuất phải khắc phục được các hạn chế, khuyết điểm đó

đồng thời phát huy được các mặt mạnh của các biện pháp đang thực hiện, đáp

ứng yêu cầu nâng cao chất lượng GD toàn diện HS.

3.2. Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống biện pháp

3.2.1. Đảm bảo tính kế thừa

Xây dựng các biện pháp đảm bảo tính kế thừa nghĩa là phải có sự tiếp nối

giữa những biện pháp đang thực hiện và những biện pháp đang được xậy dựng đề

xuất theo xu thế vận đọng và ngày càng phát triển. Biện pháp QL đề xuất phải

được chắt lọc những ưu điểm, loại bỏ các nhược điểm của biện pháp đang sử

dụng đồng thời bổ sung các nội dung mới mà các biện pháp khác chưa có hoặc đã

có nhưng thực hiện kém hiệu quả.

Đảm bảo tính kế thừa khi đề xuất biện pháp QL yêu cầu người nghiên cứu

phải xác định được những điểm mới, biện pháp QL mới trên cơ sở nền tảng của

các biện pháp QL cũ đang tiến hành, tránh phủ định toàn bộ. Thực hiện tốt

nguyên tắc kế thừa giúp người nghiên cứu nhìn nhận giải quyết các vấn đề QL

một cách biện chứng tránh được tình trạng siêu hình.

3.2.2. Đảm bảo tính thực tiễn

Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và tiêu chuẩn của lý luận. Lý luận

được hình thành phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Vì thế khi xây dựng đề xuất các biện pháp QL công tác CNL phải căn cứ vào

thực tiễn hoạt động CNL và QL công tác CNL ở các trường THCS và trường

53



THCS Ngô Quyền quận Lê Chân, Hải Phòng, các biện pháp được đề xuất phải

đáp ứng được các yêu cầu đang đặt ra trong thực tiễn QL công tác CNL, điều

kiện thực tế của đội ngũ GVCN và tình hình GD chung của nhà trường và địa

phương.

3.2.3. Đảm bảo tính đồng bộ

Hệ thống QL là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận hợp thành có quan hệ

tương tác, gắn bó hữu cơ với nhau, chỉ một biện pháp QL không thể có tác động

hiệu quả đến tất cả các bộ phận, các mối quan hệ trong hệ thống biện pháp, mỗi

biện pháp QL có những mặt mạnh và hạn chế nhất định. Nếu sử dụng đơn lẻ từng

biện pháp QL thì hiệu quả không cao, nhưng nếu sử dụng kết hợp các biện pháp

QL có tính đồng bộ thì các biện pháp sẽ hỗ trợ lẫn nhau, bổ sung cho nhau và

phát huy được hết thế mạnh. Vì thế, khi đề xuất biện pháp QL phải đảm bảo tính

đồng bộ, cũng không nên quá đề cao hay xem nhẹ biện pháp nào mà phải kết hợp

các biện pháp chung với biện pháp mang tính đặc thù sao cho phù hợp với điều

kiện thực tế.

Để đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp, người nghiên cứu cần phải xem

xét toàn bộ những yếu tố có thể ảnh hưởng đến các biện pháp, mối quan hệ giữa

những yếu tố này khi tác động đến quá trình thực thi các biện pháp, sao cho các

biện pháp mới khi thực hiện một cách đồng bộ sẽ phát huy được hết thế mạnh của

từng biện pháp và sự tương hỗ giữa các biện pháp với nhau đồng thời các biện

pháp phải tác động vào các yếu tố, các khâu của hoạt động chủ nhiệm, phải phát

huy được vai trò quản lý của nhà trường, phát huy được tính tích cực hoạt động

của các chủ thể đặc biệt là người GVCN.

3.3. Đề xuất các biện pháp QL công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng.

Từ các căn cứ lý luận và thực tiễn, các nguyên tắc xây dựng hệ thống biện

pháp và từ thực tế quản lý GD của trường THCS Ngô Quyền quận Lê Chân trong

những năm gần đây, chúng tôi đã nghiên cứu và đề ra 6 biện pháp QL công tác

CNL của Hiệu trưởng cho trường THCS Ngô Quyền quận Lê Chân thành phố

Hải Phòng như sau:

54



Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch quản lý công tác CNL.

Biện pháp 2: Lựa chọn, bố trí giáo viên chủ nhiệm lớp hợp lý.

Biện pháp 3: Bồi dưỡng kỹ năng làm công tác chủ nhiệm lớp cho giáo viên.

Biện pháp 4: Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm lớp

Biện pháp 5: Xây dựng cơ chế phối kết hợp giữa GVCNL với các lực lượng

GD trong và ngoài nhà trường.

Biện pháp 6: Xây dựng cơ chế hỗ trợ chế độ chính sách đối với GVCNL

3.3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch quản lý công tác CNL.

a) Mục tiêu:

Xây dựng kế hoạch công tác CNL chi tiết cho từng tháng người Hiệu trưởng

sẽ bao quát được chương trình hành động trong năm học về quản lý công tác chủ

nhiệm lớp một cách cụ thể, chi tiết trên cơ sở tình hình thực tế của nhà trường,

năng lực của giáo viên, đặc điểm, trình độ của học sinh, các điều kiện bên trong

và bên ngoài ảnh hưởng đến công tác giáo dục học sinh, dự kiến công việc, thời

gian, phương pháp tiến hành và kết quả mong muốn. Kế hoạch công tác chủ

nhiệm chung làm cơ sở cho kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp của các đồng chí

giáo viên chủ nhiệm.

b) Nội dung:

Kế hoạch công tác chủ nhiệm bao giờ cũng phải đánh giá được những thuận

lợi và khó khăn của công tác chủ nhiệm trên tất cả các mặt, xác định mục tiêu,

phương hướng, kết quả cần đạt được, đề ra được các biện pháp để đạt được kết

quả. Kế hoạch công tác chủ nhiệm của Hiệu trưởng cần phải đồng bộ với kế

hoạch giáo dục chung của trường, bao gồm các nội dung:

1. Đặc điểm tình hình nhà trường, nhiệm vụ năm học, những thuận lợi, khó

khăn.

2. Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu.

3. Các biện pháp chính

4. Những chuyên đề đi sâu để rút kinh nghiệm

5. Điều chỉnh kế hoạch

6. Kế hoạch từng tháng (Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian)

55



c) Cách thức tiến hành:

- Bước 1:

+ Nghiên cứu đặc điểm tình hình nhà trường, những thuận lợi và khó khăn.

+ Nghiên cứu nhiệm vụ năm học

- Bước 2: Xác định mục tiêu cần đạt của công tác chủ nhiệm:

+ Xác định mục tiêu chung, trả lời câu hỏi: các mục tiêu chung có định

hướng rõ cho hành động không, có mang tính lâu dài không?

+ Xác định mục tiêu cụ thể, cần chú trọng tới kết quả cuối cùng, cụ thể cần

đạt và có thể đo lường được. Nguyên tắc là: cụ thể, dễ hiểu; đo lường được, vừa

sức, định hướng được kết quả, xác định được thời gian hoàn thành.

- Bước 3: Xác định nội dung hoạt động của công tác chủ nhiệm:

+ Khi xác định nội dung hoạt động, trả lời các câu hỏi: Làm gì? Tại sao lại

làm? ở đâu? Khi nào? Ai làm? Ai hỗ trợ?

+ Khi xác đinh nguồn lực cho hoạt động, cho công việc cần trả lời các câu

hỏi: Nguồn kinh phí ở đâu? nguồn máy móc, phương tiện hỗ trợ?

- Bước 4: Xác định phương pháp thực hiện kế hoạch công tác chủ nhiệm

+ Khi xác định cách thức tiến hành hoạt động cần trả lời các câu hỏi: Tiến

hành hoạt động thế nào? Nếu có máy móc, phương tiện thì ai vận hành và vận

hành thế nào? Phối hợp hoạt động thế nào? Đích cần đạt của hoạt động?

+ Khi xác định cách thức kiểm soát hoạt động cần xác định những việc nào

cần kiểm tra, ai kiểm tra, đo lường bằng phương tiện gì?

- Bước 5: Viết kế hoạch quản lý công tác chủ nhiệm.

- Bước 6: Phê duyệt kế hoạch của giáo viên chủ nhiệm các lớp.

- Bước 7: Thực hiện kế hoạch chung.

3.3.2. Biện pháp 2: Lựa chọn, bố trí giáo viên chủ nhiệm lớp hợp lý.

a) Mục tiêu:

Hàng năm, sau khi học sinh lớp 9 ra trường, Hiệu trưởng cần rà soát lại đội

ngũ GVCNL của nhà trường để có thể cân nhắc, xem xét, lựa chọn phân công

GVCNL cho năm học mới. Việc lựa chọn, phân công GVCNL cho năm học mới

hoàn thành vào đầu năm. Cần ổn định, phân công GVCNL cho các lớp 6 mới

56



tuyển để tạo điều kiện nắm vững học sinh, ổn định tổ chức lớp và có kế hoạch

cho công tác GVCNL.

Muốn lựa chọn và cử GVCNL có chất lượng và đạt yêu cầu, Hiệu trưởng

cần phải tranh thủ ý kiến đóng góp xây dựng của các tổ chức đoàn thể trong nhà

trường như: tổ chuyên môn, tổ GVCNL và các giáo viên có kinh nghiệm trong

công tác quản lý và giáo dục học sinh.

Việc lựa chọn và cử GVCNL là công việc rất quan trọng trong việc triển

khai thực hiện kế hoạch năm học. Nếu người Hiệu trưởng quan tâm, chỉ đạo sát

sao và xây dựng được đội ngũ GVCN đủ mạnh và có chất lượng thì các hoạt

động giáo dục của nhà trường sẽ đem lại hiệu quả cao nhất.

b) Nội dung:

Lựa chọn, bố trí, phân công GVCNL phù hợp với nhiệm vụ năm học. Do

vị trí, vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm nặng nề của GVCNL trong việc quản lý

và giáo dục học sinh trong nhà trường nên việc lựa chọn và cử GVCNL phải

được quan tâm đặc biệt. Khi phân công GVCNL cần tính đến các tiêu chí sau:

- Năng lực trình độ của giáo viên.

- Năng lực hiểu biết học sinh về tâm lý lứa tuổi.

- Năng lực giao tiếp với học sinh và cha mẹ học sinh.

- Năng lực tổ chức các hoạt động tập thể của học sinh.

- Năng lực phán đoán, cảm hóa, thuyết phục HS theo từng cá tính học sinh.

- Điều kiện, hoàn cảnh của từng giáo viên.

- Yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo và lợi ích của học sinh.

- Đảm bảo tính kế thừa, khoa học, phù hợp với đặc điểm, tình hình của nhà

trường và chương trình dạy học đang được áp dụng.

Lựa chọn cách phân công hay phối hợp các cách phân công GVCNL phù

hợp với điều kiện từng năm học, có thể phân công bám theo lớp hoặc chuyên sâu,

phân công ưu tiên, đổi chéo hoặc phân công ngẫu nhiên…

Việc lựa chọn và phân công GVCNL có thể thực hiện heo hai phương án

sau đây:



57



Phương án 1: Chọn GVCNL ở đầu cấp đồng thời theo đến hết cấp học. Khi

chọn và cử như vậy sẽ có thuận lợi cho giáo viên, HS cũng như nhà trường trong

việc giáo dục, quản lý HS. Qua đó giúp GVCNL nắm vững HS về mọi mặt, theo

dõi sự hình thành và phát triển nhân cách của từng HS cũng như sự phát triển

của tập thể HS. Tình cảm thầy trò ngày càng gắn bó mật thiết là điều kiện cần

thiết để xây dựng tập thể lớp vững mạnh.

Việc chọn và cử GVCNL theo cách này đòi hỏi phải có sự thống nhất,

đồng bộ giữa phân công GVCNL và việc phân công giảng dạy trong năm học.

Cần ưu tiên phân công chuyên môn sao cho GVCNL có làm công tác CNL không

dạy bộ môn ở quá nhiều khối lớp, để họ ở thời gian quan tâm tới lớp chủ nhiệm.

Phương án tối ưu là phân công giáo viên làm CNL và giảng dạy bộ môn ở một

khối trong đó có lớp mình chủ nhiệm.

Tuy nhiên phương án này còn có nhược điểm là nếu GVCNL có hạn chế về

năng lực và phương pháp QL sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của tập thể lớp và

học sinh. Đối với những GVCNL thiếu sáng tạo trong công tác sẽ gây hiện tượng

đơn điệu trong giáo dục. Việc đánh giá xếp loại học sinh có khả năng thiếu chính

xác nếu GVCNL có những định kiến không tốt về học sinh.

Phương án 2: Phân công GVCNL chuyên theo khối lớp, cách phân công

này có thuận lợi là HS được tiếp thu GD từ nhiều phương pháp khác nhau. Chính

sự chuyên môn hóa này sẽ giúp người GVCNL tích lũy được nhiều kinh nghiệm

về công tác CNL qua nhiều đối tượng học sinh khác nhau. Tuy nhiên phương án

này có hạn chế là: mối quan hệ giữa GVCNL với học sinh thiếu gắn bó chặt chẽ,

việc theo dõi về học tập và phát triển nhân cách HS không được liên tục…

Trường hợp cần phải phân công giáo viên khác làm chủ nhiệm tạm thời

thay thế cho GVCNL đó nghỉ thì cần chọn các GVBM dạy ở lớp đó làm thay.

Khi tiến hành giao, nhận công tác CNL phải bàn giao sổ sách, hồ sơ… của lớp

chủ nhiệm.

c) Cách thức tiến hành:



58



Mỗi cách phân công đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, người

Hiệu trưởng vận dụng sao cho linh hoạt, phù hợp với tình hình đặc điểm của nhà

trường mới đạt hiệu quả tốt.

3.3.3. Biện pháp 3: Bồi dưỡng kỹ năng làm công tác CNL cho giáo viên.

3.3.3.1. Bồi dưỡng kỹ năng tìm hiểu học sinh:

a) Mục tiêu:

Tìm hiểu nắm bắt đối tượng GD là yêu cầu cơ bản, tối thiểu nhất trong công

tác CNL, bồi dưỡng kỹ năng tìm hiểu HS giúp GVCN có được những kiến thức

cần thiết trong quá trình thu thập thông tin, xử lý thông tin được chính xác, đầy

đủ và khoa học, tránh cho GVCN những thiếu sót tối thiểu gây khó khăn cho

công tác CNL sau này.

b) Nội dung:

Trên nghiên cứu thực trạng năng lực tổ chức và điều hành các công việc chủ

nhiệm lớp, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi lựa chọn bồi dưỡng cho người

giáo viên chủ nhiệm một số kỹ năng cơ bản sau:

- Tìm hiểu thông tin về học sinh: Họ và tên, nam/nữ, ngày sinh, nơi sinh, quê

quán, hộ khẩu thường trú, nghề nghiệp của cha mẹ, số anh chị em, sở trường,

năng khiếu

- Tìm hiểu về nhu cầu của học sinh: em có mong muốn gì ở lớp chúng ta?;

Em gặp khó khăn gì trong học tập, trong sinh hoạt tập thể?, em có mong đợi gì ở

đội ngũ cán bộ lớp chúng ta?, em có mong muốn, đề nghị gì với thầy cô giáo dạy

lớp chúng ta?, em có đề nghị gì với Ban giám hiệu nhà trường?, theo em lớp

chúng ta tổ chức các hoạt động tập thể nào thì phù hợp?

- Tìm hiểu về học tập, về rèn luyện và tham gia các hoạt động tập thể của

học sinh: học sinh tự đánh giá về ý thức học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt

động tập thể của mình.

- Tìm hiểu học sinh thông qua cha mẹ học sinh.

- Tìm hiểu mục tiêu, kế hoạch phấn đấu của học sinh.

c) Cách thức tiến hành:



59



- Tổ chức tập huấn cho giáo viên đang làm công tác chủ nhiệm và những

giáo viên dự kiến phân công công tác chủ nhiệm lớp.

- Thời gian là đầu tháng 8 hàng năm.

- Sau khi nhận lớp, GVCNL chuẩn bị và phát cho HS phiếu học tập yêu cầu

HS điền đầy đủ các thông tin và nộp lại, GVCN tổng hợp thông tin về học sinh,

tâm tư nguyện vọng, mục tiêu, kế hoạch phấn đấu của học sinh.

3.3.3.2. Bồi dưỡng kỹ năng xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp.

a) Mục tiêu:

Kế hoạch chủ nhiệm là chương trình hành động trong tương lai của lớp chủ

nhiệm, bồi dưỡng kỹ năng xây dựng kế hoạch công tác CNL nhằm giúp GVCN

xác định một cách chính xác lớp học do mình phụ trách muốn đi đến đâu và cần

phải làm gì, làm như thế nào để đạt được điều đó.

b) Nội dung:

Kế hoạch chủ nhiệm được xây dựng cho 4 năm học (gọi là kế hoạch chiến

lược) và xây dựng cho 1 năm học (gọi là kế hoạch năm học). Trong kế hoạch

năm học có kế hoạch công tác cho từng tháng, từng tuần gọi chung là Kế hoạch

tháng, Kế hoạch tuần. Trong quá trình điều hành hoạt động lớp học GVCN phải

hướng tới đạt những mục tiêu nhất định nên có Kế hoạch mục tiêu hoặc Kế

hoạch chuyên môn của lớp chủ nhiệm.

Lập kế hoạch chủ nhiệm là lựa chọn một trong những phương án hành

động trong tương lai cho toàn bộ hoặc từng bộ phận trong bộ máy quản lí để đạt

được mục tiêu mong đợi trên cơ sở khả năng hiện tại. Kế hoạch chủ nhiệm lớp ở

trường THCS thường xây dựng cho khoảng thời gian từ 1 đến 4 năm học. Trong

quá trình lập kế hoạch, các câu hỏi cơ bản sau sẽ được trả lời:

+ Lớp chúng ta đang ở đâu?

+ Lớp chúng ta sẽ đi tới đâu?

+ Lớp chúng ta sẽ làm gì? làm như thế nào để tới được đó?

+ Làm thế nào để biết lớp chúng ta đi đúng hướng và tới đích?

- Xây dựng cấu trúc bản mẫu kế hoạch CNL:



60



Theo nguyên tắc cấu trúc nội dung bản Kế hoạch chủ nhiệm lớp bao giờ

cũng phải tương xứng với nhiệm vụ công tác, cho nên khó có một mẫu cấu trúc

chung dùng cho tất cả các lớp chủ nhiệm. Chúng tôi đã tổng hợp và xây dựng cấu

trúc kế hoạch chủ nhiệm mẫu gồm 9 nội dung cơ bản sau:

1. Đặc điểm môi trường lớp học.

2. Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu.

3. Các biện pháp chính

4. Những chuyên đề đi sâu để rút kinh nghiệm

5. Điều chỉnh kế hoạch

6. Kế hoạch từng tháng (Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian)

7. Kế hoạch Sơ kết học kì (Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian)

8. Kế hoạch Tổng kết năm học (Dự kiến: Nội dung -Phân công -Thời gian)

9. Kế hoạch hoạt động hè (Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian)

c) Cách thức tiến hành:

Thời gian tổ chức tập huấn là đầu tháng 8 hàng năm.

- Bước 1: Phân tích đặc điểm môi trường lớp học:

+ Điền thông tin vào phiếu học tập nhằm xác định các nội dung của kế

hoạch chủ nhiệm lớp.

+ Phân tích thuận lợi, khó khăn, thời cơ, thách thức, những yếu tố chủ quan,

khách quan với lớp chủ nhiệm, từng tổ để nhận biết làm cơ sở cho các biện pháp

quản lý, giáo dục sẽ triển khai.

- Bước 2: Xác định mục tiêu cần đạt của lớp học:

+ Xác định mục tiêu chung, trả lời câu hỏi: các mục tiêu chung có định

hướng rõ cho hành động không, có mang tính lâu dài không? Ví dụ: Mục tiêu

chung: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh lớp 8B8 trường

THCS Ngô Quyền…

+ Xác định mục tiêu cụ thể, cần chú trọng tới kết quả cuối cùng, cụ thể cần

đạt và có thể đo lường được. Nguyên tắc là: cụ thể, dễ hiểu; đo lường được, vừa

sức, định hướng được kết quả, xác định được thời gian hoàn thành.

- Bước 3: Xác định nội dung hoạt động của lớp học:

61



+ Khi xác định nội dung hoạt động, trả lời các câu hỏi: Làm gì? Tại sao lại

làm? ở đâu? Khi nào? Ai làm? Ai hỗ trợ?

+ Khi xác định nguồn lực cho hoạt động, cho công việc cần trả lời các câu

hỏi: Nguồn kinh phí ở đâu? nguồn máy móc, phương tiện hỗ trợ?

- Bước 4: Xác định phương pháp thực hiện kế hoạch lớp học

+ Khi xác định cách thức tiến hành hoạt động cần trả lời các câu hỏi: Tiến

hành hoạt động thế nào? Nếu có máy móc, phương tiện thì ai vận hành và vận

hành thế nào? Phối hợp hoạt động thế nào? Đích cần đạt của hoạt động?

+ Khi xác định cách thức kiểm soát hoạt động cần xác định những việc nào

cần kiểm tra, ai kiểm tra, đo lường bằng phương tiện gì?

- Bước 5: Viết kế hoạch chủ nhiệm lớp

- Bước 6: Duyệt kế hoạch chủ nhiệm lớp với hiệu trưởng.

3.3.3.3. Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức giờ sinh hoạt lớp

a) Mục tiêu:

Giúp GVCN có kỹ năng tốt trong việc điều hành tổ chức giờ sinh hoạt lớp

một cách hiệu quả với mục đích cuối cùng là thông qua các giờ sinh hoạt lớp, các

em HS có thể bày tỏ, chia sẻ tâm tư, tình cảm và tự đánh giá nhận xét lẫn nhau

một cách thẳng thắn, tích cực. Các HS trong lớp được liên kết lại với nhau, GV

gắn bó với HS trong một cộng đồng chung để giải quyết những vấn đề của cuộc

sống thực hàng ngày ở nhà, ở trường và ở lớp học. Học sinh được mở rộng các

mối liên hệ, tăng cường sự hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau, khắc phục xu hướng hẹp

hòi, cục bộ, bè phái trong đời sống tập thể hàng ngày của lớp học.

b) Nội dung và cách thức tiến hành:

Vai trò giáo dục của giờ sinh hoạt lớp đối với HS

Đây là dạng hoạt động giáo dục tập thể, là một hình thức tổ chức tự quản

cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể HS

đoàn kết. Đây cũng là dịp để HS làm quen với nhiều loại hình hoạt động khác

nhau, giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết cho bản thân. Các em

phải được vừa học vừa chơi, thi tài với nhau.... Từ đây các em sẽ lĩnh hội được rất

nhiều tri thức, góp phần phát triển nhân cách toàn diện của HS, tức là phát triển

62



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×