1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.52 MB, 104 trang )


động hoàn thành kế hoạch học tập” . Người còn chỉ rõ “ Về việc học lấy tự học

làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo góp vào”. [ 30,116]

Trong khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu rất công phu về vấn đề

tự học như: “ Quá trình dạy – tự học” của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư

Vũ Văn Tảo; “ Luận bàn và kinh nghiệm về tự học” của Giáo sư Nguyễn Cảnh

Toàn; “ Tự học – chìa khoá vàng của giáo dục” của Giáo sư Phan Trọng Luận và

còn rất nhiều các công trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, các nhà giáo

dục học như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức…và

rất nhiều luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục trong những năm gần đay đề cập đến

nhiều khía cạnh về hoạt động tự học và các biện pháp quản lý, tổ chức hoạt động

tự học nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Tuy nhiên hoạt

động tự học của sinh viên Khoa Pháp vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ, chưa có

công trình nào nghiên cứu. Vì vậy trong luận văn này tác giả tập trung vào việc

xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Pháp

Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt

động tự học và nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Khái niệm về sinh viên:

Thuật ngữ “ sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “ student”: có nghĩa

là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó được

dùng tương đương với từ “ student” trong tiếng Anh để chỉ những người đang

theo học ở bậc đại học, được phân biệt với học sinh – trẻ em đang học ở phổ

thông.

Theo X.L. Rubinsen quan niệm: “ sinh viên” là đại biểu của một nhóm xã

hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho

hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội. Nhóm sinh viên rất cơ động

được tổ chức thoe một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai

6



trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xã hội, sinh viên là

nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thành người lao động có tay

nghề cao tham gia hoạt động tích cực.

Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và đào

tạo thì: “ sinh viên” là người đang học trong hệ Đại học và cao đẳng.

Từ đó ta có thể hiểu : sinh viên Việt nam là những người đang học tập tại

các trường Đại học – Cao đẳng trong cả nước nhằm đáp ứng nguồn lao động có

tri thức, có tay nghề cao phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nước..

1.2.2. Khái niệm về tự học

Tự học là học khi có thầy và cả khi không có thầy, người học biết tự xác

định mục tiêu, tự lập kế hoạch, tự đánh giá việc học tập của bản thân. Tự học là

học mà không cần có sự giám sát bên ngoài. Tự học là “ tự động học tập”, nó thể

hiện tính tự giác, tích cực, tự lực rất cao trong quá trình lĩnh hội khái niệm khoa

học của người học.

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “ Tự học – là tự mình động não, suy

nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ ( quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và

có khi cả cơ bắp ( khi phải sự dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi

cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan ( tính trung thực, khách

quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, chiếm lĩnh

một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của

mình.” [ 36,59]

Theo tác giả Vũ Văn Tảo: “ Sự học dù dưới dạng nào, tại trường, lớp hoặc

ngoài trường lớp, có thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của các

phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải là sự tự

học…Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú



7



mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh

mình”. [ 36,55]

1.2.3. Khái niệm về quản lý

Thuật ngữ “ quản lý” ( từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau. Quá

trình “ quản” gồm coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái “ ổn định”. Quá trình “ lý”

gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống ( tổ chức) vào thế “ phát triển”.

Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không

bền vững. Do đó trong “ quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ thống ở

thế cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường

tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài tổ chức. [ 1 ,1]

Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng

như vi mô vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận có những

định nghĩa khác nhau:

K. Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “ Bất kỳ một lao động

xã hội nào được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự

quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thực tiễn

những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất (

khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy. Một nghệ sĩ

vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Như

vậy quản lý là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là hướng dẫn, là phối hợp quá

trình hoạt động của con người trong các nhóm xã hội.

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “ Hoạt

động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý ( người

quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho

tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức”. [ 10 ,1 ]



8



Theo Harold Koontz: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự

phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu

của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người

có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự

bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ

thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học. [ 23,33]

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, định

hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã

hội, kinh tế...bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các

phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự

phát triển của đối tượng”.[ 19,7]

Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả có

các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:

Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ

thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản

lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng

và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt

hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa

chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác

với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.

Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển,

chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ

chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục

tiêu đề ra.

Như vậy quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể

quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác

9



động của môi trường. Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế

quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Người quản lý phải nhạy

cảm, linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo.

* Các chức năng quản lý

Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải

thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra. Có nhiều cách phân chia về

choc năng của quản lý nhưng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng dưới đây:

+ Chức năng lập kế hoạch

Lập kế hoạch là quá trình ấn định những nhiệm vụ, những mục tiêu và

phương pháp tốt nhất, để thực hiện những mục tiêu nhiệm vụ đó.

Lập kế hoạch là phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt những mục tiêu định

trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn liền với

việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai.

Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định mục tiêu, mục đích của một tổ

chức và những con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục

đích đó. Chức năng kế hoạch hoá có ba nội dung cơ bản là:

- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;

- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của

tổ chức để đạt được các mục tiêu này.

- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác

định các hoạt động ưu tiên.

+ Chức năng tổ chức

Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn

nhân lực để thực hiện hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học



10



cho con người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận

tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số

các hiệu quả của các tác động thành phần. Công tác tổ choc bao gồm:

- Xác định cấu trúc của bộ máy

- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy.

- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.

+ Chức năng chỉ đạo

Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ

con người, tổ choc trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ. Chỉ đạo là quá trình tác

động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành

những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.

Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:

- Chỉ huy, ra lệnh

- Động viên khen thưởng

- Theo dõi, giám sát

- Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý.

+ Chức năng kiểm tra

Để hoàn thành choc năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết và

phảI thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý. Lãnh đạo mà không kiểm tra thì

coi như không lãnh đạo

Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong

quản lý. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:

- Xây dựng chuẩn thực hiện.



11



- Đánh giá việc thực hiện trên chính sách so với chuẩn..

- Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động.

Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành

một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia

của hai yếu tố quan trọng thông tin và quyết định. Trong đó thông tin có vai trò

là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình

quản lý tiếp theo.



Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ sau



Lập kế hoạch



Kiểm tra



TT QL



Tổ chức



Chỉ đạo



1.2.4. Khái niệm về quản lý giáo dục

Cũng như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều

định nghĩa khác nhau



12



Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý giáo dục là hệ thống những

tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm

làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng. Thực hiện

được các tính chất của nhà trường XHCN, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy

học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái

mới về chất. [ 34,35]

Như vậy, quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của

nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất

của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất

là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một

cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo.

1.2.5. Khái niệm về quản lý nhà trường

Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước và xã hội, trực

tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình

thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất

nước.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường

lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu

đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh.” [ 20, 61]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Việc quản lý nhà trường phổ thông (

có thể mở rộng ra việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy và

học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần

dần tiến tới mục tiêu giáo dục”. [34,71]

Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt; các

khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường. Đó là một

13



hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể

quản lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành giáo dục trong

từng giai đoạn phát triển của đất nước. Quản lý nhà trường gồm:

- Quản lý chương trình dạy-học và giáo dục của nhà trường;

- Quản lý học sinh (quản lý các hoạt động của học sinh);

- Quản lý giáo viên, phát triển nghề nghiệp của người thày;

- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thư viện của nhà trường, đảm bảo cho

nhà trường hoạt động để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.

1.3. Quan niệm chung về hoạt động tự học

1.3.1. Vị trí, vai trò của sinh viên trong tự học

Hoạt động tự học luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình học tập và

phát triển của mỗi người. Bàn về vai trò của tự học nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười

đã phát biểu: “ Tự học tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời mỗi con người

trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và mai sau, đó cũng là truyền

thống quý báu của người Việt nam và dân tộc Việt nam. Chất lượng và hiệu quả

giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi

biến được quá trình giáo dục thành tự giáo dục,” [32]

Tự học là cốt lõi của việc học, tự học là phải tự lực cánh sinh, không ai

có thể học hộ người khác được. Trong cuộc hội thảo khoa học ngành Tâm lý của

Trường Đại học Sư phạm đã nhấn mạnh rằng: “ Không ai có thể đưa ra một kiến

thức từ ngoài vào đầu óc người học nếu người đó không tích cực học tập. Sự lĩnh

hội kiến thức luôn luôn là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức riêng của

tưng học sinh sinh viên, mặc dù hoạt động này được giáo viên chỉ đạo, hướng

dẫn”. [ 24 ]



14



Chủ tịch Hồ Chí Minh một tấm gương sáng người về tự học cũng đánh

giá tầm quan trọng của tự học “ Về cách học tập phải lấy tự học làm cốt”. Quá

trình tự học như thế có thể hiểu là sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành quá

trình tự giáo dục, là sự biến đổi bản thân mình trở nên có thêm giá trị bằng nỗ

lực của chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới lấy từ bên ngoài là một hành

trình nội tại được cắm bởi mốc kiến thức, phương pháp tư duy và thực hiện tự

phê bình để hiểu bản thân mình.

Trong quá trình học tập nếu biết bồi dưỡng được ý chí và năng lực tự học

cần thiết thì sẽ khơi dậy ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có trong họ, tạo nên

động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên các tác động bên ngoài như

các biện pháp thi đua, khen thưởng và trách phạt. Khả năng tự học chính là nhân

tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo. Tuy nhiên nói như vậy không

có nghĩa là hạ thấp vai trò, trách nhiệm của giảng viên, cán bộ quản lý và tập thể

sinh viên trong nhà trường vì chính các lực lượng này có tác dụng lớn lao trong

việc động viên, hướng dẫn, quản lý sinh viên tự học một cách bền vững, có hiệu

quả, đúng hướng.

Tóm lại, tự học, tự đào tạo ngày càng có vai trò quan trọng đối với giáo

dục nói chung và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân nói riêng và là một

hoạt động tất yếu của con người nói chung và của sinh viên nói riêng. Muốn vậy

thế hệ trẻ cần có những năng lực đặc biệt quan trọng, đó là năng lực tự học. Do

vậy việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu để tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học

cho sinh viên là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa thiết thực đối với lợi ích trước

mắt và lâu dài, nó không chỉ giúp sinh viên rèn luyện và nâng cao khả năng độc

lập, sáng tạo trong học tập, trong cuộc sống mà còn góp phần tích cực thúc đẩy

sự phát triển của nên giáo dục nước nhà.



15



1.3.2. Đặc điểm của sinh viên trong tự học

Sinh viên là đối tượng đã có ý thức phát triển, được trang bị những kiến

thức cơ bản có khả năng thực hiện hoạt động tự học, tự nghiên cứu, tự lĩnh hội tri

thức. Khả năng tư duy của sinh viên đã phát triển ở mức độ cao. Quá trình học

tập của sinh viên khác với quá trình học tập của học sinh phổ thông. Những tri

thức mà sinh viên lĩnh hội được chủ yếu liên quan tới lĩnh vực nghề nghiệp. Do

vậy sinh viên bắt đầu tập dượt nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các vấn đề khoa

học, nó cao hơn và phức tạp hơn so với quá trình học tập của học sinh phổ thông.

Chính vì vậy, trong quá trình học tập sinh viên phải có tính tích cực, độc lập rất

cao mới có thể tiếp cận, làm quen với phương pháp học tập mới.

Nét đặc trưng cơ bản về hoạt động học tập của sinh viên là sự tập trung

căng thẳng về trí tuệ, sự hứng thú, say mê về cảm xúc và thái độ đúng đắn trong

học tập. Hoạt động tự học của sinh viên có vai trò quan trọng quyết định tới quá

trình nhận thức, nó mang đủ những đặc trưng cơ bản của hoạt động tự học nói

chung, đó là quá trình sinh viên tự giác, tự lực, tích cực dưới sự hướng dẫn của

giáo viên để sinh viên có thể chiếm lĩnh những tri thức khoa học ở một lĩnh vực

chuyên môn nào đó bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục tiêu đào

tạo.

1.3.3. Hoạt động dạy – học ở đại học

Dạy là quá trình hoạt động của thầy , thông qua sự truyền đạt nội dung mà

chỉ đạo ( tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra) hoạt động của trò, nhằm làm cho trò

đạt tới mục đích dạy học. [34, 91]

Học là quá trình hoạt động của trò, trong đó trò dựa vào sự chỉ đạo của

thầy, tự điều khiển lĩnh hội tự giác tích cực tự lực của bản thân, nhằm đạt được

mục đích dạy học. [34, 92]



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×