1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ PHÁP, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.52 MB, 104 trang )


đến năm học 2005-2006, nhà trường đã đào tạo hàng chục tiến sĩ, hơn 500 thạc

sĩ, gần 20.000 cử nhân hệ chính quy, hơn 30.000 cử nhân hệ tại chức, gần 1.500

cử nhân hệ văn bằng thứ 2….

Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, nhà trường đã có những bước

tiến dài về cả quy mô và chất lượng và luôn xứng đáng với danh hiệu con chim

đầu đàn của cả nước về dạy và học ngoại ngữ.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ

- Ban Giám hiệu :

+ Hiệu trưởng

+ Phó Hiệu trưởng phụ trách Đào tạo

+ Phó Hiệu trưởng phụ trách Nghiên cứu khoa học

+ Phó Hiệu trưởng phụ trách Cơ sở vật chất

- Các phòng ban chức năng:

+ Phòng Tổ chức Cán bộ



+ Phòng Quản trị & Bảo vệ



+ Phòng Đào tạo



+ Phòng Quan hệ Quốc tế



+ Phòng Công tác CT &



+ Phòng Tài chính – Kế toán



HSSV



+ Phòng Thiết bị

+ Phòng Hành chính Tổng hợp



+ Phòng Nghiên cứu KH & BD



- Các trung tâm:

+ Trung tâm Kiểm tra đánh gia Chất lượng

+ Trung tâm Đào tạo từ xa

+ Trung tâm Multimedia

- Các khoa đào tạo:

+ Khoa NN&VH Phương Đông



+ Khoa NN & VH Anh Mĩ

+ Khoa NN & VH Nga



+ Khoa NN & VH Phương Tây



+ Khoa NN & VH Pháp



+ Khoa Ngoại ngữ Chuyên ngành



+ Khoa NN &VH Trung Quốc



+ Khoa Tại chức

30



+ Trường PT Chuyên Ngoại ngữ

- Các tổ bộ môn trực thuộc

- Đoàn thể bao gồm: Đảng uỷ, Công đoàn, Đoàn thanh niên

- Đội ngũ cán bộ giảng dạy: gần 700 cán bộ, giảng viên trong toàn trường, trong

đó cán bộ giảng dạy tại khoa Pháp là 70 người ( 5PGS, 11 tiến sĩ, 29 thạc sĩ), 6

cán bộ quản lý.

- Sinh viên: gần 4500 sinh viên trong toàn trường, trong đó số lượng sinh viên

khoa Pháp là hơn 800 sinh viên.

2.1.3. Đặc điểm, đối tượng đào tạo của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học

Quốc gia Hà nội.

- Đào tạo cử nhân ngoại ngữ hệ chất lượng cao, hệ chính quy: 04 năm

- Đào tạo Thạc sỹ: 02 năm

- Đào tạo tiến sĩ: 04 năm

- Đào tạo cử nhân hệ vừa học vừa làm: 04 năm

- Đào tạo chuyên ngành 2: 4 năm

Ngoài ra, trường còn tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên phổ

thông trong cả nước.

Đối tượng đào tạo của nhà trường rất phong phú và đa dạng nhưng trong

phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ tập trung làm rõ đặc điểm đối

tượng đào tạo là sinh viên chính quy khoa Pháp của nhà trường.

Đối tượng tuyển sinh cử nhân ngoại ngữ hệ chính quy của Trường Đại

học Ngoại ngữ là học sinh đã tốt nghiệp phổ thông có đủ điều kiện dự thi tuyển

sinh đại học theo quy định chung của Bộ Giáo dục - Đào tạo. Sinh viên đỗ vào

trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội là những sinh viên đã xuất

sắc vượt qua kỳ thi tuyển đại học và cao đảng khắt khe của quốc gia.



31



2.2. Thực trạng công tác quản lý của Trường, Khoa về hoạt động tự học của

sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Pháp

2.2.1. Tình hình chung

Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đã thành lập được hơn 50 năm do

vậy nhà trường đã có truyền thống dạy và học ngoại ngữ từ lâu. Qua các thời kỳ

phát triển của nhà trường vẫn luôn giữ vững danh hiệu con chim đầu đàn của cả

nước về dạy và học ngoại ngữ.

Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Pháp cũng với hơn 45 năm bề dày kinh

nghiệm, là một trong những khoa đào tạo lớn nhất trong toàn trường với hơn 75

cán bộ giảng dạy trong đó có 05 PGS ,11 tiến sĩ, 28 thạc sĩ.., 6 cán bộ quản lý..

Đội ngũ cán bộ của khoa là những giảng viên có kinh nghiệm lâu năm và một số

sinh viên trẻ xuất sắc được giữ lại trường.

Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp là đơn vị lớn của Trường, là trung tâm

đào tạo giáo viên và cán bộ biên phiên dịch tiếng Pháp trình độ cử nhân, thạc sỹ

lớn nhất Việt nam và trong khu vực Đông nam á - Châu á Thái Bình Dương. Đây

cũng là nơi thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giảng viên các trường đại

học và giáo viên phổ thông trong cả nước.

Về cơ sở vật chất, Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp cũng là khoa duy

nhất có khu học riêng biệt với 32 phòng học cho sinh viên, 6 phòng chuyên môn

cho tổ bộ môn, khu Trung tâm thư viện được Pháp trang bị với rất nhiều tài liệu

và trang thiết bị hiện đại, cùng với 6 phòng cho Ban chủ nhiệm cùng các cán bộ

quản lý. Phải nói rằng khoa Pháp là đơn vị duy nhất có được cơ sở vật chất như

vậy và đây cũng là một trong những điều kiện để dạy và học được đạt kết quả

tốt.

2.2.2. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và văn hóa

Pháp



32



Muốn tự học và tự học có kết quả cao trước hết phải có nhận thức đúng

đắn, đầy đủ về tự học vì nhận thức của mỗi con người đóng vai trò định hướng

cho mọi hoạt động. Có nhận thức đúng đắn thì con người mới có ý thức tự giác

về hoạt động của bản thân mình. Còn trong thực tiễn, sinh viên khoa Pháp nhận

thức thế nào về vấn đề này? Nhận thức đó đã tương xứng với hành động và kết

quả của việc làm thực tế hay chưa?

Để có cơ sở cho việc phân tích thực trạng tự học và thực trạng quản lý

hoạt động tự học của sinh viên trong Khoa, chúng tôi đã tiến hành thực hiện một

số công việc như sau

- Trao đổi trực tiếp và đièu tra ý kiến với 40 giảng viên và cán bộ quản lý của

khoa, một số cán bộ quản lý thuộc các phòng chức năng của Trường.

- Thu thập thông tin phản hồi từ 120 sinh viên của 4 năm thông qua phiếu hỏi,

qua phỏng vấn…Dựa trên những thông tin và số liệu có được , chúng tôi đã phân

tích để ghi nhận phần nào thực trạng tự học và hiệu quả quản lý đối với hoạt

động tự học của sinh viên. Vì những điều kiện chủ quan, khách quan nên việc

thực hiện thu thập thông tin chưa thực hiện được trọn vẹn, đầy đủ nên kết quả

thu thập qua phân tích cũng chỉ mang tính tương đối.

Với việc xử lý số liệu thông tin chỉ tập trung để làm rõ về thực trạng hoạt

động tự học hiện nay trong sinh viên theo hoạt động học tập thuộc các giờ chính

khoá của khoa đồng thời xem vấn đề tự học hiện nay đang thực hiện là những

hoạt động nào, sinh viên đang gặp những thuận lợi, khó khăn gì trong hoạt động

tự học, tác dụng hoạt động quản lý của bộ máy nhà trường đối với lĩnh vực này

như thế nào, nhà trường cần quản lý như thế nào để tăng cường hiệu quả đối với

hoạt động tự học của sinh viên.

2.2.2.1. Nhận thức của sinh viên về tác dụng và vai trò cần thiết của hoạt động

tự học



33



Ở Khoa Pháp Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGH, đa số sinh viên đều

có nhận thức đúng về tác dụng của hoạt động tự học ở trường đại học, sinh viên

cũng thấy được sự cần thiết của các hoạt động chủ yếu trong quá trình học tập

của sinh viên: học trên lớp, học ở nhà/ ký túc xá, học trên thư viện. và các hoạt

động bổ trợ cũng rất quan trọng và có tác dụng và đem lại hiệu quả khá cao trong

học tập đối với sinh viên như: làm gia sư, biên phiên dịch, giao lưu tại các câu

lạc bộ tiếng…Qua các mức độ hoạt động của sinh viên đã đem lại cho sinh viên

hiệu quả đáng kể trong kết quả học tập. Tuy nhiên cũng còn không ít sinh viên

chưa nhận thức rõ và động cơ tự học đúng đắn, họ vẫn chỉ học mang tính chất

đối phó để thi cử.

Theo kết quả khảo sát cho thấy các hoạt động chủ yếu của sinh viên trong

quá trình học tập là:

- 105/120 sinh viên chiếm 87,5% sinh viên cho rằng học tập trên lớp là một trong

những hoạt động cần thiết và chủ yếu nhất của sinh viên.

- 102/120 sinh viên chiếm 85% sinh viên thường học ở nhà/ ký túc xá vì họ cho

rằng sau giờ học trên lớp thì việc học ở nhà vào thời gian rối và vào buổi tối là

chủ yếu.

- 75/120 sinh viên chiếm 62,5% trả lời học ở thư viện là cần thiết vì họ cho rằng

học trên thư viện sẽ có không khí học tập và có đủ tài liệu để tham khảo.

Ngoài ra những hoạt động bổ trợ cũng được sinh viên đánh giá tốt vì nó

góp phần vào kết quả và kỹ năng tự học của họ

Qua khảo sát cho thấy, sinh viên đánh giá mức độ cần thiết của các hoạt

động và thông qua mức độ hoạt động thì đã cho hiệu quả học tập của sinh viên

như họ mong muốn.

Bảng 1: Các hoạt động thường có của sinh viên

1. Các hoạt động

thường có trong



Mức độ cần thiết

đối với SV



Mức độ hoạt động

của SV



34



Đánh giá hiệu quả đối

Với SV



quá trình học tập

của SV



Rất

Cần



Cần



Vừa

Phải



Không

Cần



Thường

Xuyên



Thỉnh

Thoảng



Ít

khi



T«t



B×nh

Th-êng



Kh«ng



Học trên lớp

Học trên thư viện

Học ở nhà/ KTX

Làm gia sư

Làm phiên dich

Biên dịch tài liệu

Giao lưu tại CLB



25%

27,5%

55%

15%

22,5%

20%

17,5%



62.5%

35%

30%

37,5%

32,5%

35%

60%



12,5%

37,5%

15%

62,5%

37,5%

27,5%

17,5%



0

0

0

12%

7,5%

17,5%

2,5%



60%

27,5%

70%

10%

7,5%

5%

10%



32,5%

50%

20%

60%

52,5%

45%

55%



7,5%

22,5%

10%

30%

40%

50%

35%



30%

50%

47,5%

37,5%

45%

45%

40%



62,5%

47,5%

42,5%

50%

30%

30%

35%



7,5%

2,5%

10%

12.5%

25%

22,5%

22,5%



Ngoài những hoạt động thường có của sinh viên trong quá trình học tập thì

hầu hết sinh viên các năm đều đánh giá cao về vai trò của hoạt động tự học ở 2

mức độ cần thiết và rất cần thiết. Tuy nhiên sự mức độ cần thiết của các năm có

khác nhau.

Từ sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động tự học của

sinh viên cũng đã có sự nhận thức của mình về vai trò cụ thể của hoạt động tự

học đối với kết quả học tập, rèn luyện và phát triển của mình.

Bảng 2: Vai trò của hoạt động tự học

Mức độ tác dụng

STT



Vai trò của tự học



Nhiều



Bình



IT



Đánh giá kết quả

Tốt



Chưa



Bình



thườn



Trung



Tốt



g

1. Củng cố và nắm vững tri thức đã học



75%



17,5&



7,5%



22,5%



75%



15%



2. Mở rộng kiến thức



47,5%



40%



12,5%



20%



60%



20%



3. Giúp đạt kết quả cao trong các kỳ thi



42,5%



42,5%



15%



22,5%



55%



22,5%



4. Nâng cao khả năng giao tiếp



27,5%



52,5%



20%



17,5%



70%



12,5%



37,5%



22,5%



17,5%



65%



17,5%



25%



20%



27,5%



60%



12,5%



5. Nâng cao khả năng phân tích, tổng 40%

hợp, khái quát vấn đề

6. Phát huy tính tích cực, chủ động, 55%

sáng tạo trong học tập



35



7. Nâng cao khả năng chuẩn bị bài



50%



8. Nâng cao khả năng vận dụng lý 52,5%



40%



10%



27,5%



52,5%



20%



35%



12,5%



30%



52,5%



17,5%



57,5%



10%



17,5%



67,5%



15%



42,5%



15%



17,5%



62,5%



20%



47,5%



40%



22,5%



57,5%



20%



thuyết vào giảng dạy

9. Phát triển khả năng giải quyết tình 32,5%

huống, vấn đề

10. Vững vàng trong học tập và công tác 42,5%

sau này

11. Hình thành và phát triển nhân cách



42,5%



Qua thông tin của bảng khảo trên ta thấy: Hầu hết sinh viên có nhận thức

đúng đắn về vai trò của tự học đối với những hiệu quả trước mắt. Họ cho rằng

chỉ có tự học mới có thể giúp cho việc cũng cố, nắm vững, mở rộng kiến thức,

đạt kết quả cao trong các kỳ thi và phát huy được tính tích cực, tự giác chủ động,

sáng tạo trong học tập – trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân. Nhận

thức trên đã thể hiện sinh viên sau khi tốt nghiệp được giáo dục và thấm nhuần

quan điểm giáo dục của Đảng về phát huy nội lực trong giáo dục đào tạo, thực

hiện phương châm “ biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Đa số

sinh viên đã nhận thức được trong quá trình dạy – học ở đại học, vai trò chủ đạo

của người thầy khác về chất so với ở phổ thông vì học ở đại học thầy chỉ là

người tổ chức, hướng dẫn, tạo tình huống, kích thích sinh viên tự tìm tòi và

chiếm lĩnh tri thức. Bên cạnh đó vẫn còn một số sinh viên chưa thấy được ý

nghĩa của việc tự học đối với sự phát triển tư duy và những hiệu quả lâu dài nên

các em đánh giá ở mức độ bình thường.

2.2.2.2. Thực trạng về cách thức và hiệu quả tự học

+ Hoạt động tự học trong giờ lên lớp

Hoạt động học tập trong giờ lên lớp được sinh viên thực hiện khá nghiêm

túc. Trong quá trình học tập các em lên tương đối đầy đủ, đúng giờ, rất ít sinh

viên chốn tiết, bỏ giờ. Tuy nhiên trong quá trình học tập trên lớp, cách lĩnh hội

36



tri thức chủ yếu vẫn là thụ động theo lối dạy truyền thống một chiều “ thầy cung

cấp, trò ghi nhớ” , sinh viên chủ yếu thu nhận kiến thức theo kết luận của giáo

viên trong bài giảng. Sinh viên ít chủ động nêu vấn đề, ít vận dụng tư duy để so

sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức

trong phạm vi bài giảng cũng như trong cả chương trình môn học. Trong quá

trình học tập, sinh viên cũng ít trao đổi, phát biểu chính kiến của mình về nội

dung bài học, ít đặt ra nhũng vấn đề để cùng trao đổi để mở rộng khả năng vận

dụng kiến thức. Theo đánh giá của giáo viên giảng dạy thì hoạt động của sinh

viên trong tiết học chủ yếu là nghe và chép. Mặc dù chủ yếu là nghe rồi chép

nhưng sinh viên cũng chưa biết cách ghi theo ý mình thu nhận được, ghi tràn lan

và không xác định được trọng tâm. Nguyên nhân chủ yếu là do khả năng tư duy

kém, sinh viên chưa có khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát vấn đề.

Trong giờ thực hành, xêmina sinh viên đã chủ động tự học nhiều hơn vì

sinh viên phải tự chuẩn bị bài, tự tổ chức các hoạt động tuy nhiên không phải

sinh viên nào cũng chuẩn bị bài chu đáo, tích cực mà vẫn còn những sinh viên

chuẩn bị bài mang tính chất đối phó với thầy cô giáo. Do vậy, tính tích cực, chủ

động của sinh viên thường bộc lộ không rõ trong quá trình học tập trên lớp. Việc

tiếp thu tri thức chủ yếu theo kiểu ghi chép, ghi nhớ một chiều. Do vậy hiệu quả

của hoạt động không cao.

+ Hoạt động tự học ngoài giờ trên lớp

* Thực trạng việc xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập

Việc làm có tính chuẩn bị cho quá trình hoạt động tự học của sinh viên là

việc xây dựng kế hoạch học tập cá nhân. Theo ý kiến của hầu hết các cán bộ

giảng dạy, trong một khoảng thời gian có hạn mà sinh viên phải tiếp thu rèn

luyện nhiều nội dung kiến thức, kỹ năng, muốn việc học tập nói chung, hoạt



37



động tự học nói riêng có kết quả, thì mỗi sinh viên phải tự ý thức được thời gian

và trình tự công việc của mình, phải có kế hoạch học tập rõ ràng, khoa học.

Kết quả điều tra ý kiến của sinh viên về việc lập kế hoạch học tập cho thấy:

Đa số sinh viên có lập kế hoạch học tập, nhưng chủ yếu theo tuần 60 %,

chỉ có 20 % lập kế hoạch theo tháng, có 12 % lập kế hoạch theo kỳ và chỉ có 7 %

lập kế hoạch theo năm, 3% lập kế hoạch theo toàn khoá học.

Mặc dù sinh viên có đưa ra kế hoạch học tập nhưng phần lớn các em cho

rằng mình không thực hiện được kế hoạch học tập đã đề ra là và tự đánh giá

mình thực hiện tốt kế hoạch học tập cho chính mình, còn không ít sinh viên tự

nhận là mình không thực hiện kế hoạch học tập đã đề ra.

Khi điều tra và đánh giá về công việc lập kế hoạch học tập của sinh viên,

đa số giảng viên cũng như cán bộ quản lý cho rằng: Phần lớn sinh viên chỉ có kế

hoạch cho từng buổi, từng kỳ hay cả khoá theo từng môn học khác nhau. Vì có

nhiều sinh viên học mang tính chất đối phó, mai thi môn gì thì hôm nay mới học

môn đó. Các thầy cô đánh giá là sinh viên vẫn chưa biết cách lập kế hoạch học

tập một cách khoa học, hợp lý nên kết quả học tập chưa cao.



Bảng 3: Lập kế hoạch học tập của sinh viên

Mức độ lập KH

Kết quả thực hiện

Trong quá trình tự học, bạn có lập KH không

và KH học tập được xác định theo khoảng thời TX TT IK

Ko

T

TB

CT

gian nào và tác dụng của KH cho việc tự học

của bản thân

23% 37% 20% 20% 17% 47% 36%

Kế hoạch cho từng môn trong học kỳ



Kế hoạch theo tuần



60% 25% 10%



Kế hoạch theo tháng



20% 35% 25% 20% 10% 50% 40%



Kế hoạch theo học kỳ



12% 25% 30% 33% 10% 48% 42%



Kế hoạch theo năm



7%



18% 35% 40%



5%



47%



Kế hoạch cho toàn khoá học



5%



15% 20% 60%



3%



42% 55%



38



5%



35% 35% 30%



48



* Thực trạng về hình thức và địa điểm học tập

Trong quá trình học tập thì hoạt động tự học của sinh viên còn được thực

hiện thông qua các hoạt động tập thể. Các hoạt động tập thể của sinh viên được

tổ chức theo nhiều hình thức như: các buổi hội thảo, báo cáo, trao đổi kinh

nghiệm học tập, các cuộc thi do khoa, chi đoàn giáo viên tổ chức. Nhưng trên

thực tế, trong các hoạt động chưa phải tất cả sinh viên tham gia, phát huy, tận

dụng để tự học có hiệu quả vì đa số sinh viên tham gia hoạt động này theo kiểu

nghĩa vụ chứ chưa nhận thức rõ được đây là cơ hội, môi trường tự học tốt để

tiếp nhận những tri thức và kỹ năng nhiều mặt cho mình. Đấy là không kể đến

một số sinh viên còn rất ngại tham gia các hoạt động trên vì họ cho rằng đó là

hoạt động không cần thiết, tốn thời gian.

Như vậy ta thấy rằng sinh viên về nhận thức còn tách rời, đối lập môi

trường xã hội với môi trường nhà trường, về hoạt động tự học sinh viên còn lúng

túng, thụ động, mang tính chủ quan chứ chưa biết tận dụng, chủ động để tự học

hỏi, tự chiếm lĩnh tri thức. Tuy nhiên đây là một vấn đề rộng của hoạt động tự

học, tự đào tạo đối với sinh viên mà nhà trường, khoa chúng tôi cũng chưa có

điều kiện quan tâm, tổ chức nhiều.

+ Tự học ở thư viện

Như chúng ta ai cũng biết Thư viện là người thầy thứ hai luôn đứng sau

bục giảng của sinh viên, là nơi chứa đựng nhiều sách nhất và cung cấp nhiều tài

liệu nhất cho sinh viên tham khảo, nghiên cứu, đồng thời phòng đọc của thư viện

là địa điểm tốt nhất để sinh viên tự đọc, tự nghiên cứu. Nhưng trên thực tế mới

chỉ có 20% sinh viên khoa Pháp lên thư viện đọc sách. Điều đó chứng tỏ rằng

phần lớn sinh viên chưa thấy tác dụng của nguồn tài liệu quý giá này.



39



Mặt khác, số sinh viên lên thư viện học tập thì chưa biết cách tập hợp,

phân loại, hệ thống hoá và có kế hoạch sử dụng các tư liệu, sách báo phục vụ cho

kế hoạch học tập, họ thường tiện sách báo nào thì đọc sách báo đó. Có những

sinh viên mượn sách, tài liệu, chỉ đọc một phần rồi chán lại trả và mượn quyển

khác. Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, việc ghi chép, so sánh, tổng hợp tư

liệu, suy nghĩ đào sâu chưa trở thành thói quen, thành kỹ năng, kỹ xảo do vậy

dẫn đến tình trạng học trước quên sau nên hiệu quả sử dụng thời gian và tài liệu

là rất thấp.

+ Về cách thức, nội dung tự học

Về động cơ tự học của sinh viên khoa Pháp là chưa tích cực, chưa chủ

động. Kết quả khảo sát điều tra cho thấy 75% chỉ tự học khi các thầy cô giao bài

và có sự kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, còn số sinh viên có thói quen nề nếp

tự học một cách thường xuyên chỉ chiếm 25%. Điều đó chứng tỏ rằng sinh viên

khoa Pháp chưa có động cơ tự học tích cực, chưa xác định được mục đích học

tập đúng đắn cho bản thân mình.

Về hình thức tự học của sinh viên chủ yếu là học cá nhân, chỉ có 39% là có

sự hợp tác với bạn trong quá trình học tập một cách thường xuyên. Khi tìm hiểu

vấn đề này,36% sinh viên ít trao đổi bài với bạn bè vì cho rằng sợ ảnh hưởng đến

các bạn khác trong phòng, mất thời gian và có sinh viên cho rằng bạn chưa chắc

đã giỏi hơn mình.

Như vậy chúng ta thấy rằng sinh viên chưa có hình thức tích cực, chia sẻ,

hợp tác trong quá trình học tập; do đó trong quá trình tự học dễ dẫn đến chán

nản, nhất là khi tự học gặp phải những vấn đề khó mà tự mình không đủ khả

năng để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên mặt tích cực của hình thức tự học này là

bản thân mỗi sinh viên tự huy động kiến thức và khả năng để thực hiện mục đích



40



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×