1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC KHOA TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.52 MB, 114 trang )


ngành quản lý giáo dục nhƣ: “ Giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy nhằm

nâng cao chất lƣợng đào tạo ở trƣờng Cao đẳng sƣ phạm Bắc Giang‖ của tác

giả Nguyễn Thị Thanh Sơn; ― Một số biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động

dạy học ở trƣờng đại học Sƣ phạm kỹ thuật Hƣng Yên‖ của tác giả Hoàng Thị

Bình; ― Nghiên cứu một số giải pháp quản lý quá trình dạy học nhằm nâng

cao chất lƣợng đào tạo hệ chính quy tại trƣờng Đại học Công đoàn Việt Nam‖

của tác giả Trần Thị Đoan Trang…

Các công trình nghiên cứu trên với tầm vóc, quy mô và giá trị khác

nhau đã đƣa ra các giải pháp quản lý, phù hợp trong điều kiện cụ thể của từng

trƣờng từng vùng, nhằm nâng cao chất lƣợng giảng dạy của giảng viên góp

phần trong việc nâng cao chất lƣợng sản phẩm- Đó chính là nguồn nhân lực

phù hợp với nhu cầu của thị trƣờng lao động.

Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu quản lý quá trình đào

tạo và dạy học, hoạt động dạy học ở các trƣờng đại học và cao đẳng. Vì vậy

cần thiết phải nghiên cứu các biện pháp tăng cƣờng quản lí hoạt động giảng

dạy của giảng viên.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm về Quản lý

Ngay từ khi loài ngƣời xuất hiện cho tới khi con ngƣời bắt đầu hình

thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể thực hiện đƣợc

với tƣ cách cá nhân riêng lẻ thì đã bắt đầu hình thành những cách quản lý để

thực hiện một mục tiêu chung, cho dù cách qản lý đó là đơn giản thì nó cũng

mang lại hiệu quả nhất định. Cách quản lý đã là một yếu tố cần thiết để đảm

bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân. Vì chúng ta ngày càng dựa vào sự nỗ lực

chung và vì nhiều nhóm có tổ chức ngày càng rộng lớn hơn, cho nên nhiệm

vụ của các nhà quản lý ngày càng quan trọng.



8



Quản lí gắn liền với cuộc sống, với hoạt động của con ngƣời, vì thế nó

rất đa dạng và phức tạp. Nhận thức của con ngƣời về quản lí vì thế cũng rất

phong phú.

Trong các giáo trình và tài liệu về quản lí, khi trình bày khái niệm quản

lí, ngoài việc trích dẫn những tƣ tƣởng của các tác giả kinh điển của lí luận

chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả thƣờng dẫn ra quan điểm của một số tác

giả nƣớc ngoài. Dƣới đây là một số quan điểm của một số tác giả đƣợc nhiều

ngƣời biết đến và có tầm ảnh hƣởng lớn đến giáo dục.

- Frederich Winslon Taylor (1855-1915) cho rằng :"Quản lý là biết

đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đố hiểu đƣợc rằng họ

đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" .

- Theo tác giả ngƣời Đức Baranger cho rằng, quản lý là cai trị một tổ

chức bằng cách đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt,

là lựa chọn, sử dụng các phƣơng tiện nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã định.

- Theo Harold Koontz, "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, bảo đảm

phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của tổ chức"

- Theo A.N.Kolmogorov, nhà toán học ―Quản lý là gia công thông tin

thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống‖.

Ngoài những tác giả trên thì vẫn còn rất nhiều tác giả khác cũng có tầm ảnh

hƣởng không nhỏ đến lĩnh vực quản lý nhƣ: Henry Fayol (1841-1925); Mary

Parkor Pollet (1868-1933); Harold Koontz… và một số tác giả Việt Nam nhƣ:

Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc,

Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân...(Nguyễn Thị Doan, Đỗ

Minh Cƣơng, Phƣơng Ký Sơn, Các học thuyết quản lí, NXB Chính trị Quốc

gia, H., 1996; Trần Kiểm, Khoa học quản lí giáo dục – một số vấn đề lí luận

và thực tiễn, NXB Giáo dục, H., 2006).



9



Mỗi một tác giả đều nghiên cứu và nhìn nhận quản lý ở một góc độ

khác nhau và vì thế cũng đƣa ra những định nghĩa khác nhau, song khái quát

chung lại thì có mấy quan điểm về quản lý nhƣ sau:

Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học và lí

thuyết hệ thống. Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng

của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật

v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó. Quản lý

là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát

triển.

Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tƣ cách là một hoạt động, một lao động

tất yếu trong các tổ chức của con ngƣời. Theo đó, Quản lý là sự tác động liên

tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý hay tổ chức

quản lý) lên đối tƣợng quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế...

bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng

pháp, các biện pháp cụ thể nhằm đạt đƣợc mục đích đề ra; "Quản lý là tác

động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý

trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ

chức"; ― Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình tích hợp với nhau: Đó là,

quá trình "quản" và quá trình "lý". Quá trình "quản" bao gồm sự coi sóc, giữ

gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình "lý" bao gồm sự sửa sang, sắp

xếp, đổi mới hệ thống, đƣa hệ thống vào thế phát triển. Nếu chỉ lo việc "quản"

tổ chức sẽ trì trệ, bảo thủ; nếu chỉ quan tâm đến "lý" tổ chức đó sẽ rơi vào thế

mất cân bằng, mất ổn định. Nhƣ vậy quản lý chính là hoạt động tạo ra sự ổn

định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất

lƣợng mới cao hơn‖ (Đặng Quốc Bảo, Khoa học tổ chức và quản lí một số vấn

đề lí luận và thực tiễn, NXB Thống kê, H., 1999)

Thứ ba, nghiên cứu quản lí với tƣ cách là một quá trình trong đó các

chức năng quản lí đƣợc thực hiện trong sự tƣơng tác lẫn nhau. Theo hƣớng



10



này, Quản lý là quá trình: Xác định mục tiêu mong muốn của tổ chức --> lập

kế hoạch --> tổ chức thực hiện --> kiểm tra, đánh giá các công việc của các

thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp

để đạt đƣợc các mục đích xác định; "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của

tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và

kiểm tra".

Do tính đa dạng của quản lí nên việc đƣa ra một định nghĩa khái niệm

đƣợc sử dụng chung cho nhiều lĩnh vực là một việc khó khăn. Do vậy, cần

thiết phải có sự khu biệt phạm vi mà khái niệm quản lí phản ánh từ đó để định

nghĩa khái niệm này một cách chính xác, theo đó ngƣời ta chia thành các lĩnh

vực quản lí sau: 1/ Quản lí giới vô sinh. Ví dụ, quản lí nhà xƣởng, hầm mỏ,

thiết bị, đồ dùng dạy học... 2/ Quản lí giới sinh vật. Ví dụ, quản lí vật nuôi,

quản lí cây trồng. 3/ Quản lí xã hội. Ví dụ, quản lí sản xuất –kinh tế, quản lí

xã hội – chính trị, quản lí đời sống tinh thần. Các lĩnh vực quản lí nêu trên

đƣợc xác định theo đối tƣợng tƣợng quản lí. Đối tƣợng quản lí mặc dù rất đa

dạng nhƣng con ngƣời luôn đƣợc xác định là đối tƣợng cơ bản, chính yếu của

quản lí. Nói con ngƣời là đối tƣợng cơ bản của quản lí vì con ngƣời có quan

hệ với tất cả các đối tƣợng quản lí khác, hơn nữa, quản lí các đối tƣợng đó,

xét cho cùng là vì con ngƣời và do con ngƣời. Quản lí là do con ngƣời và vì

con ngƣời. Khẳng định con ngƣời là đối tƣợng cơ bản của quản lí phải đồng

thời nhấn mạnh rằng, con ngƣời sống và hoạt động trong những nhóm, những

tổ chức nhất định (từ đây gọi chung là tổ chức). Nhƣ vậy, dạng quản lí cơ bản

là quản lí xã hội, trong quản lí xã hội, quản lí con ngƣời và hành vi của của

con ngƣời là chính yếu. Một cách khái quát, quản lí nói chung (hay nói đến

quản lí) là quản lí các tổ chức của con người và hành vi, hoạt động của con

người trong các tổ chức đó. Con người đóng vai trò vừa là chủ thể vừa là

khách thể của hoạt động quản lí.



11



Với cách hiểu quản lí là quản lí tổ chức của con ngƣời, hoạt động của

con ngƣời, có thể định nghĩa khái niệm quản lí nhƣ sau: Quản lý là quá trình

tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các

nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù

hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm

tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ

chức trong một môi trường luôn biến động. (Bùi Văn Quân, Giáo trình Quản

lí giáo dục, NXB Giáo dục Hà Nội, 2007).

Quan niệm trên nhấn mạnh những khía cạnh sau của quản lí: 1/ Quản lí

có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lí thực hiện. Điều

đó có nghĩa không có những hoạt động này, chƣa có hoạt động quản lí trên

thực tế, chƣa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã xảy ra. Các hoạt

động của chủ thể quản lí có hai nội dung chính. Thứ nhất, tác động đến đối

tƣợng quản lí (con ngƣòi và những đối tƣợng khác); Thứ hai, khai thác, tổ

chức và thực hiện các nguồn lực. Cần lƣu ý rằng, nguồn lực cũng tồn tại nhƣ

một trong những đối tƣợng quản lí nhƣng không đồng nhất hoạt động tác

động đến đối tƣợng quản lí với hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực. Khai

thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trƣờng hợp cụ thể là tạo

điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tƣợng quản lí đƣợc thực

hiện có hiệu quả; 2/Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản

lí. Điều này đƣợc thể hiện ở những tác động hƣớng đích có chủ định do chủ

thể quản lí thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định. Tuy

nhiên, những tác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở

nhận thức của chủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động

của mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân thủ các qui luật khách quan

đó. Mức độ thống nhất giữa những tác động hƣớng đích, có chủ định và hệ

thống mục tiêu do chủ thể quản lí xác định với các qui luật khách quan khẳng

định mức độ của tính khoa học, nghệ thuật của quản lí; 3/quản lí đồng nghĩa



12



với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong và bằng những tác động của chủ

thể quản lí đến đối tƣợng quản lí cũng nhƣ trong việc khai thác, tổ chức và

thực hiện các nguồn lực của tổ chức. Thay đối là thuộc tính của vật chất. Bản

thân tổ chức thay đổi và môi trƣờng của nó luôn luôn biến động tạo ra tính

―không chắc chắn‖ đối với tổ chức. Do vậy sự thay đổi cũng phải đƣợc quản

lí và sự thay đổi cần phải đƣợc thực hiện một cách tự giác. Đứng trƣớc những

biến đổi của môi trƣờng, để tạo khả năng thích ứng của tổ chức với môi

trƣờng, chủ thể quản lí phải chủ động tạo ra sự thay đổi đối với tổ chức của

mình. Khi chủ thể thực hiện sự thay đổi một cách tự giác, đó là những hành

động (rộng và bao quát hơn là hoạt động) mang tính cải tiến, canh tân, đổi

mới, cải tổ, cải cách và cách mạng đối với tổ chức của mình. Những tác động

của chủ thể nhằm tạo ra sự thay đổi của tổ chức đƣợc định hƣớng bởi mục

đích chung của quản lí. Mục đích của quản lí nói chung là nhằm duy trì,

nhằm ổn định và phát triển tổ chức. Tuỳ theo thực tế của tổ chức mà các cấp

độ mục đích nêu trên đƣợc xác định một cách cụ thể. Với một tổ chức có

nguy cơ tan dã, thông thƣờng, mục đích trƣớc mắt của chủ thể quản lí là giữ

cho tổ chức đó tồn tại (duy trì). Khi đã giữ đƣợc tổ chức, cần phải ổn định tổ

chức đó. Sự ổn định tổ chức phải hƣớng đến phát triển tổ chức đó lên một

trình độ cao hơn.

a) Quản lí giáo dục

Giáo dục là một hiện tƣợng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xã

hội, vì thế nó cần và phải đƣợc quản lý. Từ đó, hình thành một dạng quản lí

trong hệ thống quản lí xã hội. Dạng quản lí này có tên gọi ―Quản lí giáo dục‖.

Giống với khái niệm quản lí, khái niệm quản lí giáo dục cũng đƣợc biểu đạt

một cách rất đa dạng tuỳ theo những phƣơng diện nghiên cứu và tiếp cận của

nhà nghiên cứu về quản lí giáo dục.

Theo khái niệm quản lí đã trình bày, có thể định nghĩa khái niệm quản

lí giáo dục nhƣ sau: Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội trong đó



13



diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và

thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ

động để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí được thực hiện trong lĩnh vực

giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát

triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với

giáo dục. (Bùi Văn Quân, Giáo trình Quản lí giáo dục, NXB Giáo dục Hà

Nội, 2007).

Phân tích khái niệm này có thể nhận thấy:

- Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội, vì thế nó có đầy đủ

các đặc điểm của quản lí nói chung, quản lí xã hội nói riêng.

- Do tính đặc thù của quản lí giáo dục mà những đặc điểm của quản lí

giáo dục có nội dung và hình thái thể hiện khác biệt với các dạng quản lí xã

hội khác. Chẳng hạn: i) Tính chất quản lí nhà nƣớc đƣợc thể hiện rõ nét trong

quản lí giáo dục ngay cả với quản lí tác nghiệp tại trƣờng học và các cơ sở

giáo dục; ii) Đối tƣợng chủ yếu của quản lí là con ngƣời, nhƣng quản lí con

ngƣời trong quản lí giáo dục còn có ý nghĩa là sự huấn luyện, giáo dục con

ngƣời, tạo dựng cho họ có khả năng thích ứng đƣợc với các vai trò xã hội mà

họ đã và sẽ đảm nhận…

Hệ thống giáo dục là một thiết chế đặc biệt chuyên trách trong chức

năng duy trì, tiếp nối và phát triển kinh nghiệm xã hội lịch sử. Hệ thống giáo

dục cũng có đặc trƣng nhƣ các hệ thống khác, đó là tính chất ―chồng chéo về

cơ cấu‖. Theo đó, cơ cấu của hệ thống giáo dục có thể đƣợc xem xét theo

phƣơng diện quản lí, theo trình độ học vấn và bằng cả sự tích hợp của hai

phƣơng diện trên. Với mỗi phƣơng diện, ngƣời ta đều xác định đƣợc những

phân hệ của hệ thống giáo dục, và những phân hệ này đƣơng nhiên cũng phải

đƣợc quản lí. Tình hình này dẫn đến những khó khăn khi đƣa ra một định

nghĩa chung nhất về khái niệm quản lí giáo dục.

Giải pháp cho vấn đề trên là khu biệt khái niệm quản lí giáo dục theo



14



phạm vi phản ánh của khái niệm giáo dục. Khái niệm giáo dục theo nghĩa

rộng chỉ giáo dục xã hội với hệ thống giáo dục đƣợc phân bổ rộng khắp trong

phạm vi lãnh thổ theo những cấp bậc học cụ thể. Khái niệm ―quản lí giáo

dục‖ với khái niệm giáo dục hiểu theo nghĩa này là quản lí giáo dục vĩ mô.

Theo nghĩa hẹp, giáo dục đƣợc giới hạn trong phạm vi trƣờng học và các cơ

sở giáo dục khác với tƣ cách là phần tử của hệ thống giáo dục. Khái niệm

―quản lí giáo dục‖ với khái niệm giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp là quản lí giáo

dục vi mô.

Nhƣ vậy, khi đề cập đến quản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô là đề cập đến

việc quản lí toàn bộ hệ thống giáo dục trên các mặt quy mô, cơ cấu và chất

lƣợng. Đó là quản lí nhà nƣớc về giáo dục. Quản lý giáo dục hiểu theo nghĩa

rộng đó là; Quản lý gáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý ( Chính phủ,

Bộ giáo dục) lên đối tượng quản lý ( toàn bộ hệ thống giáo dục từ giáo dục

mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học) nhằm thực hiện thành công

mục tiêu giáo dục của Việt Nam. Còn khi đề cập đến quản lí giáo dục ở cấp độ

vi mô, là đề cập đến quản lí tác nghiệp tại các cơ sở giáo dục mà trƣờng học

là hạt nhân. Trọng tâm của quản lí giáo dục ở cấp độ vi mô là quản lí trƣờng

học và tất cả các hoạt động, các quan hệ trên – dƣới, các hoạt động có liên

quan đến nhà trƣờng. Quản lí tác nghiệp tại trƣờng học là quản lí giáo dục ở

có sở với trọng tâm là quản lí các hoạt động dạy học và giáo dục. Quản lý

giáo dục vi mô hay còn gọi là quản lý nhà trƣờng đó là; Quản lý giáo dục sự

tác động của chủ thể quản lý ( Hiệu trưởng nhà trường, Ban giám hiệu, tổ

trưởng chuyên môn) lên đối tượng quản lý ( Học sinh, Giáo viên nội dung

chương trình) nhằm đạt được mục tiêu của từng môn học, từng năm học và

của từng cấp bậc học.

Có thể mô tả các cấp độ của khái niệm quản lí giáo dục nhƣ sơ đồ 1.1

dƣới đây.



15



Sơ đồ 1.1: Các cấp độ của khái niệm quản lí giáo dục



QUẢN



GIÁO

DỤC



QUẢN LÍ

GIÁO DỤC

VĨ MÔ QUẢN LÍ

NHÀ NƢỚC

VỀ GIÁO

DỤC



QUẢN LÍ

GIÁO DỤC

VI MÔ QUẢN LÍ

TÁC NGHIỆP

TẠI

TRƢỜNG

HỌC/CƠ SỞ

GIÁO DỤC



Quản lí của

nhà nƣớc

từ trung

ƣơng đến

địa phƣơng



Quản lí của

lãnh đạo nhà

trƣờng/cơ sở

giáo dục



Quản lí của

các tổ

chuyên môn



Quản lí của

ngƣời dạy và

ngƣời học



16



Hệ thống giáo

dục với các

phân hệ từ

giáo dục mầm

non đến giáo

dục đại học



Trƣờng

học/cơ sở

giáo dục



Hoạt

động dạy

học và

giáo dục



[ 8, tr .12]

b) Quản lý nhà trường

Nhà trƣờng là một thiết chế chuyên biệt của xã hội thực hiện chức

năng tái tạo và phát triển xã hội, theo nghĩa hình thành và phát triển nhân cách

mỗi thành viên của xã hội, hƣớng tới sự duy trì và phát triển xã hội. Thiết chế

chuyên biệt này hoạt động trong tính quy định của xã hội và theo các dấu hiệu

phân biệt.

Nhƣ vậy, nhà trƣờng là cơ quan chuyên trách việc đào tạo con ngƣời

mới xã hội, là một thiết chế xã hội đƣợc tổ chức và hoạt động theo một mục

đích xác định, với một nội dung giáo dục đƣợc chọn lọc và sắp xếp hệ thống,

với những phƣơng pháp giáo dục cơ sở khoa học và thực tiễn, với những nhà

sƣ phạm đã đƣợc trang bị đầy đủ về kiến thức khoa học và phẩm chất đạo

đức.

Nhà trƣờng là một hệ thống xã hội : theo cách tiếp cận hệ thống, nhà

trƣờng là một bộ phận hay hệ thống con, phân hệ của hệ thống xã hội. Đến

lƣợt mình, hệ thống con đó cũng tự nó là một hệ thống của hệ thống xã hội.Vì

vậy, nhà trƣờng là một hệ thống xã hội với các thành tố:

- Thành tố con ngƣời bao gồm : trƣớc hết là hai thành viên cơ bản là

ngƣời dạy và ngƣời học, kế đó là đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ,

nhân viên giúp việc,...

- Thành tố vật chất của nhà trƣờng bao gồm : các cơ sở trƣờng lớp,

trang thiết bị đồ dùng phục vụ giảng dạy và học tập, sách giáo khoa, tài liệu

tham khảo, ...

- Thành tố ý thức, tinh thần : là toàn bộ tri thức, kỹ năng, thái độ mà xã

hội đã tích luỹ đƣợc, tái tạo đƣợc và phát triển trong nhà trƣờng thông qua

hoạt động dạy và học; là hệ tƣ tƣởng chỉ đạo, là quan điểm đƣờng lối phát



17



triển giáo dục, thể hiện ở đƣờng lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà

nƣớc; là tinh thần nghề nghiệp, lƣơng tâm nhà giáo.

- Thành tố quá trình : là quá trình cơ bản, phản ánh bản chất của nhà

trƣờng, tạo nên sự khác biệt của nhà trƣờng với các tổ chức khác trong xã hội,

là quá trình sƣ phạm. Tuy nhiên, còn có những quá trình thứ yếu, tuy không

kém phần quan trọng khác thuộc về yếu tố quá trình của nhà trƣờng nhƣ quá

trình xây dựng trƣờng, lớp, quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực

trong nhà trƣờng,...

Quản lí nhà trƣờng là sự cụ thể hoá công tác quản lí giáo dục. Nhà

trƣờng là tế bào chủ chốt của bất cƣ hệ thống giáo dục nào từ trung ƣơng đến

địa phƣơng. Quản lí nhà trƣờng thực chất là quản lí giáo dục ở cơ sở. Mỗi nhà

trƣờng đều có hiệu trƣởng và Hội đồng giáo viên là chủ thể quản lí trực tiếp

vận hành hệ thống giáo dục đi đến mục tiêu giáo dục chung. Bản chất của

quản lí trƣờng học là quản lí quá trình giáo dục theo nghĩa rộng (quá trình sƣ

phạm tổng thể - quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp). Quá

trình quản lí ấy nhằm đƣa các hoạt động thực hiện quá trình giáo dục từ trạng

thái này sang trạng thái khác để dần đạt mục tiêu của quá trình đó. Các hoạt

động trong nhà trƣờng bản thân nó đã có tính giáo dục, song cần có sự quản lí

tổ chức chặt chẽ thì mới phát huy đƣợc hiệu quả trong việc thực hiện nội dung

và mục tiêu của quá trình giáo dục. Quá trình giáo dục vận hành tại các cơ sở

giáo dục (mà trƣờng học là hạt nhân) trong hệ thống giáo dục quốc dân –

khách thể của quản lí giáo dục ở cấp vĩ mô.

Quản lí quá trình giáo dục là trọng tâm, là nét bản chất của quản lí nhà

trƣờng, do vậy, Quản lí nhà trường (Việt Nam) là thực hiện quan điểm, đường

lối của Đảng (trong phạm vi trách nhiệm) trong việc thực hiện các hoạt động

khai thác, sử dụng, tổ chức, thực hiện các nguồn lực và những tác động của

chủ thể quản lí đến các thành tố của quá trình giáo dục diễn ra trong nhà



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

×