1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 109 trang )


để đem lại nhiều cơ hội học tập hơn cho người học và làm tăng hiệu quả

của việc thực tập kinh doanh của họ”.

Tại Canada, gần đây đây việc giới thiệu phần mềm dạy toán học trên

cơ sở máy tính (The learning Equation Mathematic) đã đem lại thành tích

nổi bật cho những em học sinh lớp 9 trong kiến thức về toán học và những

kỹ năng liên quan đến số học, mô hình và hình dạng so với những em học

sinh sử dụng sách giáo khoa truyền thống. Một nghiên cứu gần đây của

Canada cũng chỉ ra rằng những học sinh lớp 8 mà giáo viên có sử dụng

máy vi tính để mô phỏng và ứng dụng đạt được những suy nghĩ có tổ chức

hơn và biểu hiện tốt hơn so với những học sinh không được học trên máy

tính.

1.1.2. Ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã rất trú trọng đến việc

ứng dụng công nghệ kỹ thuật trong quản lý đặc biệt là CNTT như chương

trình quốc gia về CNTT (1996 – 2000) và Đề án thực hiện về CNTT tại các

cơ quan Đảng (2003 – 2005) ban hành kèm theo Quyết định 47 của Ban Bí

thư TW Đảng. Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước (2001 –

2005) ban hành kèm theo Quyết định sô 112/2001/QĐ-TTg ngày

25/07/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt quan trọng ngày 29 tháng 6

năm 2006 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban

hành Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 trên cơ sở Hiến pháp

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ

sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 11 năm 2001 của

Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10.

Bên cạnh đó là hàng loạt các dự án tin học hoá quản lý hành chính,

quản lý sản xuất kinh quanh của các Bộ, ban ngành, các đơn vị, các doanh

nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Việc

triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý bước đầu đã đem lại những hiệu

7



quả thiết thực trong công tác quản lý của các cơ quan, các ban ngành và các

doanh nghiệp.

Gần đây đã có rất nhiều những bài viết, những cuộc hội thảo và đề

tài khoa học nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong quản lĩnh vực giáo dục ở

nước ta, chẳng hạn như:

Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, bài viết “ứng dụng CNTT

trong giáo dục - 8 bài học kinh nghiệm quốc tế”

Hội thảo “ứng dụng Công nghệ thông tin vào công tác quản lý và

khai tác tài liệu ở thư viện” – Thư viện tỉnh Phú Yên ngày 7/7/2006

Hội thảo khoa học toàn quốc “Các giải pháp công nghệ và quản lý

trong ứng dụng CNTT-TT vào đổi mới phương pháp dạy - học”

Dự án “Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục SREM”

PGS.TS Đào Thái Lai “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

ở trường phổ thông Việt Nam”

GS.TSKH Đỗ Trung Tá “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền

thông để đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam”.

Lưu Anh Kỳ - Phó giám đốc trung tâm nghe nhìn giáo dục - “Đổi

mới phương pháp dạy học trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin”

Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I đã có một số

công trình nghiên cứu, một số đề tài về ứng dụng CNTT, chủ yếu trong lĩnh

vực giảng dạy và quản lý đào tạo của Nhà trường. Quá trình ứng dụng

CNTT ở Nhà trường đã được tiến hành ngay khi nền công nghệ thông tin

non trẻ được biết đến ở nước ta. Bước đầu là việc đưa môn tin học thành

môn học chính thức trong chương trình dạy học, tiếp đó là việc ứng dụng

các phần mềm trong việc quản lý đào tạo, quản lý tuyển sinh, quản lý cán

bộ khoa học, quản lý tài chính ... song tất cả những ứng dụng đó đều xuất

phát từ nhu cầu thực tiễn của công tác Nhà trường, chưa có một đề tài hoàn

chỉnh nào về tổ chức ứng dụng CNTT vào công tác quản lý Nhà trường.

Chính vì vậy việc nghiên cứu để tìm ra các biện pháp tổ chức ứng dụng

8



CNTT vào công tác quản lý ở Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công

nghiệp I là rất cán thiết trong tiến trình phát triển Nhà trường.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Khái niệm quản lý

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.

Người Trung Quốc có câu “ Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư”. Nghĩa

là có ba người cùng đi thì trong đó có một người là thầy của mình. Trong

trường hợp trên nghĩa là tồn tại sự quản lý.

Khái niệm quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của

đời sống xã hội, hoạt động quản lý được hình thành từ sự phân công hợp

tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức cộng đồng với nhu cầu hướng tới

đạt hiệu quả tốt hơn. Do vậy xuất hiện người quản lý và sự quản lý.

Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích hợp nhau:

Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”;

quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”.

Vì vậy nếu người chỉ huy chỉ biết lo việc “quản” thì tổ chức sẽ trì trệ, nếu

chỉ quan tâm đến “lý” thì phát triển không bền vững. Do đó trong “quản”

phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản” nhằm làm cho hệ ở thế phát triển

cân bằng, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường

tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) và các nhân tố bên ngoài

(ngoại lực).

Hoạt động quản lý không thể nhắc tới tư tưởng sâu sắc của Các Mác

“một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có

nhạc trưởng”. Như vậy quản lý là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là

hướng dẫn, là phối hợp quá trình hoạt động của con người trong các tổ

chức xã hội.

Tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau người ta đưa ra các định nghĩa khác

nhau về quản lý



9



* Quan niệm về quản lý của các tác giả nước ngoài:

- Nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động

F.Taylor cho rằng: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần

làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất" [21, tr.100].

- Với nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp, H. Fayol thì "Quản lý

là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.

Đó chính là các chức năng cơ bản của nhà quản lý" [21, tr.106].

- Theo tác giả người Mỹ, H.Koontz và những người khác: “Quản lý

là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với

nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã

định” [62, tr.19]

* Quan niệm về quản lý của các tác giả Việt Nam:

- Quản lý theo Tự điển Tiếng Việt thông dụng ( NXB Giáo Dục 1998)

là: Tổ chức, hoạt động của một đơn vị, cơ quan;

- Theo các tác giả của giáo trình khoa học quản lý của Học viện

chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Quản lý Kinh tế Hà Nội 2004, quản

lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối

tượng quản lý nhằm đạt tới mục tiêu đề ra.

- Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Quốc Chí định

nghĩa về quản lý là "tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản

lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ

chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức" [

tr.1]. Hiện nay, khái niệm này được định nghĩa một cách rõ hơn: "Quản lý

là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động

(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra." [ tr.1]

- Theo GS. Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa quản lý như sau: "Quản

lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể

những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được

những mục tiêu đã dự kiến." [ tr.24]

10



Như vậy, các định nghĩa về quản lý đều tập trung vào hiệu quả công

tác quản lý. Hiệu quả đó phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể quản lý, khách

thể quản lý và mục đích công tác quản lý nhờ công cụ và phương pháp

quản lý. Mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý có thể do chủ

thể quản lý áp đặt, do yêu cầu khách quan của xã hội hay do sự cam kết,

thoả thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan

hệ tác động quản lý tương hỗ với nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý.

Từ những khái niệm trên “Quản lý” có thể khái quát như sau:

Quản lý là sự tác động một cách liên tục có tổ chức, có định hướng

của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết

các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều

hoà hoạt động của các khâu, các cấp sao cho phù hợp với quy luật để đạt

đến mục tiêu đã xác định.

Qua khái niệm quản lý ta thấy: quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai

bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục

tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.

+ Chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu

dẫn dắt, điều khiển các đối tượng quản lý để đạt mục tiêu định sẵn.

+ Khách thể quản lý (đối tượng quản lý) Con người (được tổ chức

thành một tập thể, một xã hội …) thế giới vô sinh (các trang thiết bị) hữu

sinh (vật nuôi, cây trồng ..).

Cơ chế quản lý những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản lý

được thực hiện và quan hệ tương tác qua lại giữa chủ thể quản lý và khách

thể quản lý được vận hành điều chỉnh.

Mục tiêu chung cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý là căn cứ

chủ thể quản lý để tạo ra hoạt động quản lý.

Công cụ quản lý là các phương tiện (khách quan và chủ quan) mỗi chủ

thể quản lý dùng nó để tác động vào quá trình quản lý thông qua chức năng

quản lý bao gồm:

11



+ Chế định luật là chính sách qui định về mục tiêu về nội dung về

phương pháp, tổ chức thực hiện, các chính sách, chế độ qui định đối với

các hoạt động trong hoạt động quản lý

+ Các chế định được xây dựng từ đường lối chủ trương của Đảng

và Nhà nước từ các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển xã

hội. Song thực tiễn luôn luôn biến đổi khi đó chủ trương đường lối cũng

thay đổi, các chế định cũ không còn phù hợp, không phát huy được tác

động tích cực trong quản lý và sự phát triển xã hội thì phải sửa đổi. Điều

này đòi hỏi người quản lý phải luôn nắm vững các chế định để vận dụng

một cách thích hợp. Hay nói cách khác: Quản lý là sự tác động, mang tính

chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan.

+ Thiết chế bộ máy để thực hiện thì công cụ tổ chức là rất cần thiết

đối với người quản lý. Nó giúp xây dựng một cơ cấu, bộ máy thích hợp cho

công việc, cải tiến bộ máy hoạt động có hiệu quả hơn, giúp giảm thiểu

những việc làm không hiệu quả.

Các nguồn lực bao gồm nhân lực, tài lực, vật lực.

+ Nhân lực con người là lực lượng quan trọng nhất. Bởi vì Quản lý

bao giờ cũng là quản lý con người.

+ Vật lực bao gồm tất cả vật tư, trang thiết bị tài sản cố định phục

vụ cho việc thực hiện một nhiệm vụ công tác.

+ Tài lực là vốn đầu tư tài chính bao gồm ngân sách nhà nước, tư

nhân và có thể là nguồn tài trợ từ nước ngoài.

Từ những dấu hiệu chung ta có thể khái quát cấu trúc hệ thống quản lý

bao gồm các yếu tố trong sơ đồ sau:



12



Sơ đồ 1. Cấu trúc hệ thống quản lý

MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ

Mục tiêu quản lý



Khách thể quản lý



Chủ thể quản lý



Hoạt động quản lý bao gồm 4 chức năng cụ thể:

- Chức năng lập kế hoạch: Là quá trình xác định mục tiêu, xác định

các bước đi để đạt được mục tiêu. Như vậy thực chất của lập kế hoạch là

đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch hóa với mục đích,

biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các điều kiện cung

ứng cho việc thực hiện mục tiêu.

- Chức năng tổ chức: Là quá trình tổ chức sắp xếp, liên kết giữa các

yếu tố công việc – con người – bộ máy sao cho phù hợp ăn khớp với nhau

cả trong nội bộ từng yếu tố. Yếu tố trung tâm của tổ chức là con người. Bố

trí con người phải phù hợp với công việc. Tổ chức bộ máy phải lệ thuộc

quy mô, tính chất của các mối quan hệ giữa người và việc. Toàn bộ hoạt

động của bộ máy cuối cùng phải đạt hiệu quả cao, vì lợi ích của con người.

- Chức năng điều hành (chỉ huy): Là hoạt động dẫn dắt, điều khiển của

người quản lý đối với các hoạt động của các thành viên của tổ chức để đạt

được mục tiêu quản lý. Điều hành là hoạt động thường xuyên mang tính kế

thừa và phát triển.

- Chức năng kiểm tra: Quản lý mà không có kiểm tra không gọi là

quản lý. Kiểm tra là chức năng quan trọng của quản lý, Kiểm tra chính là

thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý. Kiểm tra bao gồm các yếu tố cơ

13



bản: Xem xét, thu thập thông tin ngược, đánh giá việc thực hiện công việc

theo chuẩn, nếu có sai lệch phải uốn nắn, điều chỉnh.

Các chức năng quản lý có mối quan hệ biện chứng với nhau. Mối quan

hệ đó được minh họa theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 2. Mối quan hệ các chức năng quản lý

Lập kế hoạch



Chỉ đạo



Tổ chức



Kiểm tra



Bốn chức năng này giúp cho nhà quản lý thực hiện nhiệm vụ của

mình. Muốn vậy người quản lý phải luôn nắm bắt thông tin, xử lý thông tin

và tiến hành việc quản lý theo 4 chức năng trên để dẫn dắt tổ chức, cơ sở

đến mục tiêu cần đạt được trên cơ sở thông tin là mạch máu của quản lý.

Trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có sự

tham gia của hoạt động quản lý như: Quản lý nhà nước, quản lý giáo dục,

quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà trường … mỗi lĩnh vực quản lý có đặc

thù riêng song nó đều có những nét cơ bản, đặc trưng chung của cả họat

động quản lý và chính hoạt động quản lý luôn góp phần quyết định vào

việc nâng cao chất lượng hiệu quả của từng tổ chức, của từng con người

trong một hệ thống nhất định.

Với cách hiểu trên dễ dàng nhận thấy quản lý bao gìơ cũng tồn tại với

tư cách là một hệ thống và có liên quan đến nhiều yếu tố. Vì vậy Quản lý

không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật và hoạt động quản lý

14



vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà

nước, vừa có tính xã hội rộng rãi … chúng là những mặt đối lập trong một

thể thống nhất.

1.2.2. Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự

truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài

người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn

hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng

tiến lên. Hay nói cách khác Giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu

những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, về hoạt động

giáo dục, giáo dục là quá trình tác động của xã hội và của nhà giáo dục đến

đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.

Các nhà lý luận đã có nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra những

khái niệm về quản lý giáo dục dưới những góc độ khác nhau:

Trong cuốn: “ Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, tác giả

M.I. Kônđacốp định nghĩa: “ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ

chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành

bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển

và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng”.

Theo X.Tgroup Lewin: Quản lý giáo dục là quá trình nghiên cứu khoa

học về các sự kiện và phương pháp tham gia và quyết định tổ chức hoạt

động giáo dục và khoa học quản lý chương trình giáo dục.

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí cho rằng:

"Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật

khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống

giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó" .

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát

là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh

mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.

15



Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác

động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm

cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện

các tính chất của nhà trường XHXN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá

trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,

tiến lên trạng thái mới về chất.

Tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu: “Quản lý giáo dục là quản lý trường

học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của

mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới

mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ

và với từng học sinh”.

Theo UNESCO: Quản lý giáo dục là cách thức điều hành hệ thống

giáo dục, nhất là các quy trình, thủ tục, quy định, quy chế … và cách thức

vận hành của hệ thống giáo dục, tất cả các cấu phần hoạt động của hệ

thống.

Quản lý giáo dục gồm 3 lĩnh vực:

+ Quản lý chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện

chính sách và phân bổ nguồn lực).

+ Quản lý hành chính (sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật

chất).

+ Quản lý sư phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá

trình giáo dục, thành tích và kết quả học tập).

Qua các định nghĩa trên ta có thể khái quát: Quản lý giáo dục là hệ

thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý

nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể quản lý thực hiện các

mục tiêu giáo dục đề ra. Quản lý giáo dục từ cấp vĩ mô đến tầm vi mô đều

hướng tới sử dụng có hiệu quả những nguồn lực dành cho giáo dục để đạt

được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất.

Quản lý giáo dục có các đặc điểm sau:

16



- Quản lý giáo dục gắn liền với quản lý con người, đặc biệt là lao động

sư phạm của người giáo viên. Đặc thù lao động người giáo viên mà đối

tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm về tâm sinh lý

lứa tuổi hết sức phức tạp. Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo

dục vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo dục không

chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của

người học. Đây chính là điểm khác biệt của lao động sư phạm so với lao

động xã hội nói chung

- Sản phẩm của giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên

quản lý giáo dục phải ngăn ngừa sự rập khuôn, máy móc trong việc tạo ra

sản phẩm cũng như không được phép tạo ra phế phẩm.

- Quản lý giáo dục đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính

thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển…

- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Quản lý giáo dục phải quán

triệt quan điểm quần chúng. Trong quản lý giáo dục, các hoạt động hành

chính nhà nước và quản lý sự nghiệp, chuyên môn đan xen vào nhau, thâm

nhập lẫn nhau không thể tách rời, tạo thành hoạt động quản lý giáo dục

thống nhất.

Nội dung quản lý giáo dục là quản lý các yếu tố cấu thành của hệ

thống giáo dục bao gồm: Mục tiêu giáo dục; Nội dung giáo dục; Phương

pháp giáo dục; Tổ chức giáo dục; ; Người dạy; Người học; Trường sở và

trang thiết bị dạy học; Môi trường giáo dục, các lực lượng giáo dục; Kết

quả giáo dục.

Bản chất của quản lý giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trình

dạy và học diễn ra ở các cấp học các trình độ đào tạo và tất cả các cơ sở

giáo dục.

1.2.3. Quản lý Nhà trường

Nhà trường là một thể chế xã hội – Nhà nước, là một đơn vị tổ chức

hoàn chỉnh, một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo

17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×