1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ – KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 109 trang )


2 (1957 – 1961) và 52 học sinh khoá 3 (1958 – 1962). Ngay sau khi ra

trường những học viên của những khoá đầu tiên này đã bắt tay ngay vào

việc xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp. Nhiều người tiếp tục đi tu nghiệp

ở nước ngoài để chuẩn bị nguồn nhân lực cho ngành Công nghiệp nhẹ và

sau này họ trở thành những cán bộ chủ chốt của Ngành

Năm 1960, Bộ Công nghiệp nhẹ được thành lập trên cơ sở tách ra từ

Bộ Công nghiệp. Trường được đổi tên thành Trường Trung cấp Kỹ thuật

Công nghiệp nhẹ và chuyển địa điểm về 353 Trần Hưng Đạo – Thành phố

Nam Định, chiếc nôi của ngành Công nghiệp Dệt. Quy mô đào tạo của Nhà

trường được mở rộng với gần 500 học sinh và 13 ngành nghề, gồm: Dệt,

Sợi, Nhuộm, Cơ khí, Lò hơi, Đường, Muối, Tinh bột, Mỳ chính, Giấy, Chế

biến gỗ, Kiến trúc, Thiết kế hội họa. Đây là sự khởi đầu cho giai đoạn đào

tạo mang tầm chiến lược của Nhà trường nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn

nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đát nước. Trong

thời kỳ này Trường vinh dự được mang tên ngoại giao – Trường Trung cấp

Kỹ thuật Sekou Touré (tương xứng với Trường Trung cấp Kỹ thuật Hồ Chí

Minh nằm cách thủ đô nước Cộng hoà Ghinê Bitxao 90 km, do tổng thống

Sekou Touré đặt tên.

Năm 1965 đế quốc Mỹ leo thang ném bom phá hoại miền Bắc,

trường phân chia thành 3 trường: Trường Cơ khí vật dụng sơ tán lên Hà

Bắc, Trường Trung học Muối sơ tán đi Đồ Sơn Hải Phòng. Trường Trung

học Kỹ thuật Dệt ở lại Nam Định và sơ tán ra ngoại ô thành phố. Mặc dù

chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ rất ác liệt, nhưng thầy trò vẫn quyết tâm

thi đua “Dạy tốt, Học tốt”

Sau khi đế quốc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, mùa hè năm 1969,

Trường trở về cơ sở cũ tại Nam Định, tiếp tục nhiệm vụ đào tạo của mình.

Từ năm 1971 khi Viện Công nghiệp Dệt sợi chuyển từ Hà Nội về

Nam Định và sáp nhập cùng với Trường trở thành Viện Dệt Sekou Touré



32



với nhiệm vừa nghiên cứu, vừa đào tạo các chuyên ngành Dệt, Sợi, Nhuộm.

Công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy đã gắn kết với nhau.

Năm 1972 Đế quốc Mỹ lại tiếp tục chiến tranh phá hoại Miền Bắc

lần thứ 2, bộ phận đào tạo lại phải đi sơ tán về xã Văn ấp – Huyện Bình

Lục. Bom Mỹ đã tàn phá trường sở rất nặng nề và gây thương vong cho cán

bộ giáo viên. Nhưng ngay sau khi Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc Thầy và

Trò lại trở về Trường, khôi phục nhà xưởng tiếp tục giảng dạy, học tập và

nghiên cứu khoa học.

Năm 1975, sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên

cứu khoa học và đào tạo cần phát triển nhanh và đáp ứng cho cả nước nên

Viện Công nghiệp Dệt Sợi lại được tách ra chuyển về Hà Nội, khi đó

trường trở lại tên cũ: Trường Trung học Kỹ thuật Dệt.

Đến năm 1982 trước yêu cầu sắp xếp lại tổ chức mạng lưới các

trường, trường mang tên mới: Trường Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ. Tại thời

điểm này, trường được phép đào tạo thử nghiệm Đại học tại chức, đào tạo

Kỹ sư thực hành một số ngành truyền thống như Dệt, Sợi, Nhuộm.

Tháng 6/1987 Bộ Công nghiệp nhẹ có quyết định hợp nhất Trường

Quản lý Xí nghiệp với Trường Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ lấy tên chung:

Trường Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ và đến năm 1991 trước yêu

cầu đào tạo mới, Trường được đổi tên thành Trường Kinh tế – Kỹ thuật

Công nghiệp nhẹ Nam Định và mở thêm các ngành đào tạo Kế toán và

Quản trị kinh doanh bậc Trung cấp chuyên nghiệp.

Tháng 8/1992 Bộ Công nghiệp nhẹ có quyết định hợp nhất Trường

Công nhân Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ Hà Nội (tức Trường Công nhân Dệt

8/3 trước đây) với Trường Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ Nam Định và

mang tên là Trường Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ. Từ đó Trường có

thêm phân hiệu tại 456 Minh Khai, Thành phố Hà Nội.

Trường chính thức được nâng cấp thành Trường Cao đẳng Kinh tế

Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ theo quyết định 478/TTg ngày 24/7/1996 của

33



Thủ tướng Chính phủ, và đến tháng 4/1998 Trường được đổi tên thành

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I cho đến nay.

Hiện nay trường đóng tại hai địa điểm với 02 cơ sở cách xa nhau về

vị trí địa lý.

Cơ sở 1: 456 Minh Khai – Quận Hai Bà - Hà Nội

Cơ sở 2: 353 Trần Hưng Đạo – Thành phố Nam Định.

Năm 2006 trường được UBND Tỉnh Nam Định cấp hơn 20 ha đất tại

Xã Mỹ Xá - Ngoại thành Nam Định.

Chặng đường hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Trường Cao đẳng

Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I đã 9 lần thay đổi tên gọi, nhưng mỗi lần

thay đổi là một lần Nhà trường thêm trưởng thành, đáp ứng tốt hơn nhu

cầu, nhiệm vụ được giao. Tập thể lãnh đạo, cán bộ, giáo viên, công nhân

viên và học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công

nghiệp I đã kiên trì bền bỉ phấn đấu tập trung trí tuệ và sáng tạo, vượt qua

mọi khó khăn gian khổ, đưa nhà trường tiếp tục phát triển bền vững và đạt

được nhiều thành tích vẻ vang trong sự nghiệp “trồng người”.

2.1.2. Tổ chức bộ máy của Nhà trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật

Công nghiệp I

+ Lãnh đạo Nhà trường gồm: Hiệu trưởng và 2 Phó Hiệu trưởng

Phó Hiệu trưởng phụ trách Đào tạo và Nghiên cứu khoa học.

Phó Hiệu trưởng phụ trách Nội chính.

+ Các Phòng chức năng có 5 phòng gồm:

Phòng Tổ chức Cán bộ - Học sinh, sinh viên;

Phòng Đào tạo;

Phòng Tài chính Kế toán;

Phòng Hành chính quản trị;

Phòng Quản lý khoa học.

+ Các Khoa, Tổ môn trực thuộc - Có 6 Khoa, 3 Tổ bộ môn trực

thuộc:

34



+ Các khoa:

Khoa Dệt may thời trang;

Khoa Hoá công nghiệp;

Khoa Kinh tế - Pháp chế;

Khoa Công nghệ Thông tin;

Khoa Điện - Điện tử;

Khoa Cơ khí.

+ Tổ bộ môn trực thuộc Ban Giám hiệu:

Tổ Mác – Lênin

Tổ Toán – Lý;

Tổ Ngoại ngữ;

Tổ Giáo dục thể chất – Quốc phòng.

+ Các trung tâm:

Trung tâm Tư vấn hợp tác Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ.

Trung tâm Tin học – Ngoại ngữ

Trung tâm Công nghệ sinh học và Vệ sinh an toàn thực phẩm

+ Các đơn vị trực thuộc các khoa là hệ thống nhà xưởng, phòng thí

nghiệm, khu thể thao …

+ Các tổ chức khác: Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Sinh viên, Hội

Cựu chiến binh, Hội phụ nữ.

+ Các lớp Học sinh, Sinh viên.



35



Sơ đồ 5. Cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I

HIỆU TRƯỞNG



TT Tin học - Ngoại ngữ



TT CN Sinh học & VS ATTP



Tổ môn Mac-Lênin



Tổ môn GDTC-QP



TT Tư vấn hợp tác

Tổ môn Toán lý



ĐT&BDCB



Phòng Tài chính kế toán

Khoa Hóa công nghiệp



Tổ môn ngoại ngữ



Phòng Quản lý khoa học

Khoa Điện - Điện tử



PHÓ HIỆU TRƯỞNG



Khoa Cơ khí



Phòng Đào tạo



Phòng TCCB-HSSV

Khoa Kinh tế pháp chế



Khoa Dệt may thời trang



Phòng Hành chính quản trị

KhoaCông nghệ thông tin



PHÓ HIỆU TRƯỞNG



Hệ thống Nhà xưởng, phòng Thí nghiệm, phòng Thực hành

Các lớp HSSV



2.1.3. Cơ cấu ngành nghề

Hiện nay trường được Nhà nước cho phép đào tạo các trình độ và

các ngành nghề sau:

Cao đẳng:

+ Hệ chính quy: Thời gian đào tạo là 03 năm với đối tượng tốt

nghiệp PTTH và 1,5 năm với đối tượng đã có bằng tốt nghiệp TCCN (đào

tạo liên thông).

36



+ Hệ vừa làm vừa học: Thời gian đào tạo 03 năm với đối tượng tốt

nghiệp PTTH.

Trung cấp chuyên nghiệp: Thời gian đào tạo 02 năm với đối tượng

tốt nghiệp PTTH.

Công nhân kỹ thuật: Thời gian đào tạo là 02 năm

Đào tạo bồi dưỡng: Thường xuyên mở các khóa đào tạo và bồi

dưỡng cán bộ ngắn hạn (1 đến 3 tháng) cập nhật kiến thức mới về kinh tế –

xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại ngữ, tin học, quản lý …

Ngoài ra, Trường còn liên kết đào tạo với nhiều trường đại học mở

các lớp liên thông, hoàn chỉnh kiến thức từ cao đẳng lên đại học trong thời

gian từ 1,5 đến 2 năm.

Các ngành nghề đào tạo: Trường đào tạo 15 ngành nghề ở tất cả các

trình độ cao đẳng, TCCN và dạy nghề.

+ Công nghệ Dệt

+ Công nghệ Sợi

+ Công nghệ May và Thiết kể Thời trang

+ Công nghệ Da giày

+ Công nghệ Hoá nhuộm

+ Công nghệ Hoá Thực phẩm

+ Kế toán

+ Quản trị kinh doanh

+ Công nghệ Thông tin

+ Công nghệ Kỹ thuật Điện (Tự động hoá)

+ Công nghệ Cơ khí

+ Công nghệ Điện tử

+ Công nghệ Cơ - Điện tử

+ Công nghệ Kỹ thuật Ô tô

+ Tài chính ngân hàng



37



2.1.4. Quy mô đào tạo của trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công

nghiệp I

Mục tiêu đào tạo của Nhà trường theo hướng kỹ thuật và công nghệ,

do vậy sau khi tốt nghiệp người kỹ sư công nghệ phải nắm vững kiến thức

chuyên môn, kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập,

sáng tạo và giải quyết các vấn đề chuyên môn thuộc ngành đào tạo. Đào tạo

người có phẩm chất, chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có

kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào

tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Với mục tiêu trên Nhà trường chú trọng đào tạo gắn lý thuyết với thực

hành, bố trí thời gian thực hành phù hợp để HSSV ra trường có tay nghề

nhất định đảm nhận nhiệm vụ được giao – là người kỹ thuật viên “miệng

nói, tay làm”.

Kết hợp phương pháp đào tạo gắn lý thuyết với thực hành đặc biệt các

lĩnh vực công nghệ tiên tiến theo phương châm “đi tắt, đón đầu”, kết hợp

các phương tiện, thiết bị thực hành, thí nghiệm hiện đại và phương pháp

đào tạo truyền thống. Đảm bảo đủ các điều kiện về trang thiết bị, đặc biệt là

thiết bị phù hợp với công nghệ tiên tiến cho HSSV thực hành.

Hiện nay, nhà trường có hệ thống các nhà xưởng thực hành cho HSSV

từng chuyên ngành đào tạo. Đồng thời Nhà trường liên kết đào tạo và thực

tập tại các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu để HSSV

có thể nắm bắt được tiến bộ khoa học kỹ thuật đặc biệt các thiết bị, công

nghệ tiên tiến khi nhà trường chưa đủ điều kiện đáp ứng kịp thời.

Quán triệt mục tiêu trên, thực tế cho thấy trong những năm gần đây,

Nhà trường có những bước phát triển ổn định về ngành nghề, chất lượng

cũng như quy mô đào tạo trở thành một địa chỉ đào tạo có uy tín trong cả

nước, Hàng năm, trường tuyển mới từ 3000 đến 5000 học sinh sinh viên và

thường xuyên mở các lớp ngắn hạn, cập nhật kiến thức mới về kinh tế, kỹ



38



thuật công nghệ cho cán bộ trong ngành, với lưu lượng khoảng 500 lượt

người.

Lưu lượng học sinh, sinh viên hiện nay đang học tại trường đạt trên

23.000.

Bảng 1. Quy mô đào tạo của trường từ năm 2005 đến năm 2007

Hệ đào tạo

Năm



Đại học



Cao đẳng



TCCN



CNKT



Cộng



2005

2006

2007



0

0

1000



4050

5850

6500



5500

6850

7500



1000

1000

1200



10550

13700

15200



(Nguồn: số liệu phòng Đào tạo)

Bảng 2. Dự kiến quy mô đào tạo từ năm 2008 đến năm 2015

Hệ đào tạo

Năm



Đại học



Cao đẳng



TCCN



CNKT



Cộng



2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015



2100

3200

4000

4800

5600

6400

7200

8000



7000

8000

9000

10000

10500

11000

11500

12000



3500

3700

3900

4000

4200

4500

4700

5000



2000

2080

2100

2120

2140

2160

2170

2190



14600

16980

19000

20920

22440

24060

25570

27190



(Nguồn: số liệu phòng Đào tạo)

Qua bảng 1 và bảng 2 về quy mô đào tạo hiện nay và dự kiến quy mô

đào tạo của Nhà trường trong những năm sắp tới chúng ta cũng dễ nhận ra

rằng quy mô đào tạo của Nhà trường ngày càng được mở rộng cả về số

lượng và các loại hình đào tạo. Nhà trường ngày càng trú trọng đến chất

lượng đào tạo, đặc biệt ở các bậc học cao như cao đẳng, đại học.



39



2.2. Điều kiện địa lý, môi trường xã hội, nguồn nhân lực và cơ sở vật

chất của trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I

2.2.1. Điều kiện địa lý, môi trường xã hội

Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I ngày nay đang

hoạt động trên hai cơ sở

Cơ sở Hà Nội: Số 456 Minh Khai, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

Cơ sở Nam Định: Số 353 Đường Trần Hưng Đạo, Phường Bà Triệu,

Thành phố Nam Định.

Cơ sở Hà Nội tại 456 Minh Khai - Quận Hai Bà Trưng - Thành phố

Hà Nội. Với địa thế nằm tại thủ đô của cả nước. Cơ sở Hà Nội có lợi thế

thu hút được nguồn nhân lực tài năng trong cả nước. Vì vậy việc phát triển

đội ngũ giáo viên là rất khả quan. Thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận

như Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương ... hiện nay có rất nhiều các khu công

nghiệp, các nhà máy xí nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Nhà trường đào

tạo. Do vậy nhu cầu nhân lực đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp,

các nhà máy xí nghiệp này là rất lớn. Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi

trong việc thu hút học sinh sinh viên của Nhà trường. Đồng thời với lợi thế

nằm tại thủ đô, trung tâm kinh tế, chính trị xã hội Nhà trường có điều kiện

rất lớn trong việc thu hút đầu tư của các dự án quốc tế và quốc gia và cũng

có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển ứng dụng công nghệ, khoa học

kỹ thuật đặc biệt là CNTT&TT

Cơ sở Nam Định tại 353 Trần Hưng Đạo – Thành phố Nam Định –

Tỉnh Nam Định: Tại cơ sở này, Nhà trường có lợi thế là nằm trên vị trí

trung tâm của khu vực nam đồng bằng sông Hồng. Đây là khu vực có

truyền thống văn hoá hiếu học. Nhà trường có ưu thế trong việc thu hút học

sinh sinh viên của các tỉnh trong khu vực các tỉnh phía nam thủ đô Hà Nội,

bao gồm các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nghệ An



40



... Hơn nữa, tại cơ sở Nam Định Nhà trường được sự ủng hộ rất lớn từ lãnh

đạo và nhân dân trong tỉnh Nam Định.

Tuy nhiên, bên cạnh các ưu thế mà vị trí địa lý, văn hoá xã hội mang

lại Nhà trường cũng có những khó khăn nhất định. Với hai cơ sở đào tạo

cách biệt nhau hàng trăm cây số, việc triển khai các công tác cũng gặp

nhiều mặt hạn chế. Việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất cũng gặp nhiều

khó khăn trên cả phương diện kỹ thuật cũng như kinh phí triển khai.

2.2.2. Điều kiện về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất

Trong những năm gần đây Nhà trường đã rất trú trọng đến việc phát

triển đội ngũ giáo viên cả trên phương diện số lượng và chất lượng. Cho

đến thời điểm này Nhà trường đã có một đội ngũ giáo viên hùng hậu, đủ về

số lượng và đáp ứng chất lượng cho công tác giảng dạy hiện tại và đáp ứng

khả năng nâng cấp trường trong tương lai không xa.

Hiện nay Nhà trường có tổng số 358 cán bộ, giáo viên và công nhân

viên. Số giáo viên trực tiếp giảng dạy và kiêm nhiệm giảng dạy là 305

người. Trong đó:

- Cán bộ, giáo viên có trình độ tiến sĩ: 14 người.

- Cán bộ, giáo viên có trình độ thạc sĩ: 124 người.

- Cán bộ, giáo viên có trình độ đại học: 166 người.

- Cán bộ, giáo viên và công nhân viên có trình độ cao đẳng: 15

người.

- Công nhân viên có trình độ TCCN: 30 người.

Số giáo viên tham gia giảng dạy đều có trình độ đại học trở lên, chỉ

còn 4 giáo viên thực hành có trình độ cao đẳng nhưng hiện nay cũng đang

được Nhà trường cử đi học tập nâng cao trình độ. Số có trình độ cao đẳng,

trung cấp còn lại chủ yếu tập trung vào nhân viên phục vụ giảng dạy.

Với trình độ cán bộ, giáo viên và công nhân viên được chuẩn hoá

ngày càng cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức ứng dụng

41



CNTT&TT vào các hoạt động giảng dạy cũng như các hoạt động quản lý

của Nhà trường. thể hiện qua bảng thống kê sau:

Bảng 3. Số lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên của trường

TT



Đơn vị



1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.



Ban Giám hiệu

Phòng HCQT

Phòng Đào tạo

Phòng TCCB-HSSV

Phòng TCKT

Phòng QLKH

Trung tâm tư vấn Đào

tạo & Hợp tác quốc tế

Trung tâm Tin học –

Ngoại ngữ

Trung tâm Công nghệ

sinh học

Khoa CNTT

Khoa Điện - Điện tử

Khoa Cơ khí

Khoa Hoá Công nghiệp

Khoa Dệt May–Thời

trang

Khoa Kinh tế pháp chế

Bộ môn Mác - Lênin

Bộ môn Toán –Lý

Bộ môn Ngoại ngữ

Bộ môn Giáo dục thể

chất – Quốc phòng

Cộng



8.

9.

10.

11.

12.

13.

14.

15.

16.

17.

18.

19.



Số

lượng



Trình độ đào tạo

Trung Cao

cấp

đẳng



Đại

học



Thạc

sỹ



Tiến

sỹ



Giáo

viên



3

53

18

13

7

4

4



0

27

2

0

1

0

0



0

10

1

0

0

0

0



1

15

6

8

4

2

1



0

1

8

5

2

2

3



2

0

1

0

0

0

0



3

5

15

12

6

4

4



2



0



0



1



1



0



2



3



0



0



1



0



2



3



28

24

18

17

43



0

0

0

0

0



1

1

0

1

1



16

9

8

6

33



10

11

10

8

9



1

3

0

2

0



28

24

18

17

43



67

22

11

15

6



0

0

0

0

0



0

0

0

0

0



34

12

6

0

3



31

10

4

6

3



2

0

1

0

0



67

22

11

15

6



358



30



15



166



124



14



305



(Nguồn: Phòng TCCB-HSSV)

Song hành với việc phát triển đội ngũ Nhà trường cũng tiến hành các

biện pháp trẻ hoá đội ngũ thông qua công tác tuyển dụng mới, thuyên

chuyển công tác. Cụ thể được thể hiện qua bảng thống kê sau:



42



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×