1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ – KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 109 trang )


Xây dựng cơ sở cho một ngành công nghiệp CNTT, làm ra được các

sản phẩm và dịch vụ tin học có giá trị, ưu tiên phát triển công nghiệp “phần

mềm”, đồng thời tận dụng các khả năng chuyển giao công nghệ để phát triển

một cách thích hợp các cơ sở sản xuất linh kiện và thiết bị tin học hiện đại.

Chỉ thị 58 - CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh

ứng dụng và phát triển CNTT đã nêu rõ các chỉ tiêu đào tạo nguồn nhân lực

CNTT có trình độ quốc tế. “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác

giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình

thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt

tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết

nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”

Để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của ngành CNTT ngày 29/6/2006

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê duyệt và thông

qua luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 nhằm tạo hành lang pháp lý

cho việc phát triển, ứng dụng và khai thác trong lĩnh vực CNTT.

Tại “Điều 5. Chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển

công nghệ thông tin” nêu rõ:

“1. Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước.

2. Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát

triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,

đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp công nghệ

thông tin phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu

thị trường nội địa và xuất khẩu.

3. Khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin.

4. Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để ứng dụng công

nghệ thông tin trong một số lĩnh vực thiết yếu, tạo lập nền công



61



nghiệp công nghệ thông tin và phát triển nguồn nhân lực công nghệ

thông tin.

5. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc

gia.

6. Có chính sách ưu đãi để tổ chức, cá nhân có hoạt động ứng dụng

và phát triển công nghệ thông tin đối với nông nghiệp; nông thôn,

vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; người dân tộc thiểu số, người

tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn.

7. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng

và phát triển công nghệ thông tin.

8. Tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với

tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ

thông tin.”

Như vậy các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong các

Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định đã khẳng định vị trí, vai trò to lớn của ứng

dụng và phát triển CNTT ở nước ta, góp phần giải phóng sức mạnh vật

chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện sự

nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước.

Từ những quan điểm, những vấn đề đã nêu trên, việc ứng dụng

CNTT vào quản lý đặc biệt là quản lý giáo dục và đào tạo là hết sức bức

thiết khi mà nền kinh tế đang chuyển dịch theo hướng nền kinh tế tri thức,

kinh tế thông tin.

3.1.2. Các quan điểm chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo và các cơ quan

ban ngành

Để thực hiện những nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho về việc phát

triển, ứng dụng CNTT, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị số

29/2001 ngày 30/7/2001 về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng

dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005 đã nêu rõ “ Ứng

62



dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra bước chuyển

cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng

dạy, học tập và quản lý giáo dục”

Ngày 4/4/2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với Bộ Bưu chính,

Viễn thông đã cùng ký kết Biên bản ghi nhớ về việc hợp tác phát triển

mạng giáo dục EduNet.

Chỉ thị số 08/2003 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông ngày

2/6/2003 là “đưa Internet đến tất cả các trường đại học, cao đẳng, trung

học chuyên nghiệp, trung học phổ thông trên phạm vi cả nước và kết nối

tới các trường trung học cơ sở và tiểu học ở những nơi có điều kiện”

3.1.3. Thực tiễn tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I

Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước cùng

với sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Công nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với

thực tiễn việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý ở Trường Cao đẳng

Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I đã được triển khai nhưng những kết quả

thu được chưa đáp ứng được với những đầu tư về nguồn nhân lực, cơ sở vật

chất, hệ thống thông tin. Cụ thể:

 Nguồn nhân lực ứng dụng CNTT đã được đào tạo có trình độ nhưng

chưa đồng đều, cán bộ giáo viên chưa thấu hiểu hết những tiềm năng

của ứng dụng CNTT trong công tác quản lý cũng như trong giảng

dạy do vậy ý thức ứng dụng CNTT còn chưa cao.

 Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư nhưng chưa đồng bộ và chưa có giải

pháp đồng bộ hoá hạ tầng hiện có.

 Nhà trường đã có hệ thống máy chủ, có mạng nội bộ, nhưng cơ sở dữ

liệu dùng chung chưa được xây dựng một cách bài bản, chưa có cấu

trúc hệ thống và chưa có sự phần quyền và trách nhiệm trong mỗi

tầng, lớp dữ liệu.



63



 Các máy tính của Nhà trường đã được kết nối Internet nhưng cán bộ

giáo viên chưa có được những kỹ năng đầy đủ để khai thác được

những thông tin trên Internet phục vụ công tác quản lý và giảng dạy.

 Hệ thống phần mềm đã được xây dựng và triển khai nhưng chưa có

sự thống nhất giữa các phần mềm. Các phần mềm hoạt động riêng lẻ

theo yêu cầu tự phát của mỗi đơn vị, mỗi cá nhân.

Từ thực tiễn ứng dụng CNTT&TT của Nhà trường vào công tác

quản lý như vậy yêu cầu phải có những biện pháp cụ thể, thiết thực để tổ

chức ứng dụng CNTT&TT vào công tác quản lý một các hiệu quả, phát

huy được hết tiềm năng của CNTT&TT trong quản lý cũng như trong các

hoạt động khác của Nhà trường.

3.2. Đề xuất một số biện pháp tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin vào

công tác quản lý ở trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Công nghiệp I.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý và

việc tổ chức ứng dụng CNTT trong quản lý ở trường Cao đẳng Kinh tế kỹ

thuật Công nghiệp I, tôi xin đề xuất một số biện pháp sau đây

3.2.1. Nâng cao ý chí của lãnh đạo trong công tác tổ chức ứng dụng công

nghệ thông tin vào công tác quản lý

Mục đích

Củng cố niềm tin của lãnh đạo Nhà trường vào công tác tổ chức ứng

dụng CNTT vào các hoạt động đặc biệt trong hoạt động quản lý giáo dục.

Giúp cho lãnh đạo thấy rõ được xu thế tất yếu của việc ứng dụng các khoa

học kỹ thuật hiện đại vào quản lý trong giai đoạn hiện nay và tương lai. Từ

đó nâng cao ý chí của lãnh đạo trong việc chỉ đạo ứng dụng CNTT trong

quản lý giáo dục.

Tổ chức triển khai

Đúc kết những kinh nghiệm và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT &

TT trong công tác quản lý của các đơn vị khác báo cáo lãnh đạo Nhà

trường để lãnh đạo Nhà trường thấy được những ưu điểm của việc ứng

64



dụng CNTT & TT trong quản lý. Củng cố niềm tin của lãnh đạo trong việc

tổ chức triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý.

Thường xuyên báo cáo những thành tựu của khoa học kỹ thuật đặc

biệt là những thành tựu của ngành CNTT&TT để lãnh đạo Nhà trường thấy

được sự bức thiết của việc ứng dụng công nghệ này vào quản lý.

Nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ về các ứng dụng

CNTT&TT, xây dựng những dự án khả thi có tính thuyết phục cao về việc

ứng dụng CNTT&TT để lãnh đạo Nhà trường có những cơ sở thực tế trong

quyết tâm triển khai các biện pháp ứng dụng CNTT&TT vào quản lý.

3.2.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về ứng dụng

công nghệ thông tin trong quản lý Nhà trường

Mục đích

Nâng cao nhận thức của cả đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên để họ

nhận thức đúng và hiểu được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT

trong quản lý Nhà trường. Sự ảnh hưởng của ứng dụng CNTT đối với công

việc của nhà quản lý cũng như đối với mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạy.

Để họ nhận ra việc ứng dụng CNTT là yêu cầu tự thân và là công cụ hữu

ích để giúp họ đạt được hiệu quả tốt hơn trong học tập, nghiên cứu và giảng

dạy “Với con người, công cụ là phương tiện dùng để đạt kết quả hoạt động.

Nhờ công cụ, con người trở lên chủ động trước hoàn cảnh, tích cực trong

mọi quan hệ”

Thực hiện đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới quản lý giáo dục

nói riêng trước hết phải tạo ra được phong trào đổi mới giáo dục, tin tưởng

vào biện pháp tổ chức triển khai của Nhà trường, cùng với nhà trường

ngành giáo dục nỗ lực thực hiện các mục tiêu đổi mới như: Chuẩn hoá cơ

sở vật chất, xây dựng đội ngũ giáo viên, xây dựng môi trường giáo dục,

tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá khách quan công bằng

chính xác. Làm cho đội ngũ cán bộ giáo viên hiểu được đổi mới phải được

thực hiện trong tất cả các thành khâu, các khía cạnh của quá trình giáo dục.

65



Đó là mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức thực hiện,

kiểm tra, đánh giá và tổ chức quản lý.

Nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà trường là vô cùng quan

trọng bởi vì: “Nói cho cùng tất cả phụ thuộc vào người đứng đầu, mọi thay

đổi đều xuất phát từ đây”

Để trở thành người quản lý, lãnh đạo Nhà trường, người cán bộ, giáo

viên đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới hiện nay, mỗi cán bộ,

giáo viên phải được đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo thường xuyên. Phải

thông qua hoạt động giảng dạy, hoạt động quản lý lãnh đạo của mình.

CNTT thực sự là công cụ để làm cuộc cách mạng về giáo dục, hỗ trợ việc

đổi mới cách dạy và học, đổi mới quản lý giáo dục, đổi mới tư duy về

phương pháp giảng dạy. Bởi vì, xét cho cùng công tác quản lý chính là quá

trình thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết định.

Tổ chức triển khai

Bằng nhiều hình thức và biện pháp, lãnh đạo trường Cao đẳng Kinh

tế – Kỹ thuật Công nghiệp I yêu cầu giáo viên, cán bộ Nhà trường phải học

để trang bị cho mình những kiến thức về Công nghệ thông tin và truyền

thông phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và quản lý. Đến nay

07/2007 100% giáo viên Nhà trường đã biết sử dụng máy vi tính. Đây là

một thành công đáng kể của lãnh đạo Nhà trường trong công tác vận động

làm thay đổi nhận thức của giáo viên trong Nhà trường bởi vì với cơ cấu về

tuổi tác khác nhau, có nhiều giáo viên, cán bộ lớn tuổi đã quen với những

phương pháp giảng dạy và quản lý truyền thống, rất ngại thay đổi, ngại sử

dụng những phương tiện, thiết bị hiện đại vào trong giảng dạy và quản lý.

Trong những năm tới, Nhà trường sẽ tiếp tục làm chuyển biến nhận

thức của cán bộ giáo viên trong toàn trường, khắc phục tình trạng ngại khó,

trì trệ, bảo thủ ăn sâu vào tiềm thức giáo viên bằng nhiều biện pháp vừa có

tính chất động viên khuyến khích nhưng cũng đồng thời có những biện

pháp cứng rắn bắt buộc cho sự nghiệp đổi mới giáo dục, coi đây là nhiệm

66



vụ quan trọng không thể thiếu được trong nhà trường. Để khắc phục tình

trạng lạc hậu của cán bộ giáo viên trước yêu cầu đổi mới của giáo dục nói

riêng và dối với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung. Cụ thể

trong các năm học tới, Nhà trường sẽ tổ chức các hội thảo, các lớp tập huấn

tin học cho tất cả giáo viên Nhà trường nhằm nâng cao nhận thức của Cán

bộ, giáo viên và công nhân viên Nhà trường về việc ảnh hưởng của ngành

Công nghệ thông tin đến nền kinh tế đất nước, đến Nhà trường và đến cuộc

sống của mỗi người dân nhằm nâng cao ý thức và năng lực sử dụng hệ

thống và khai thác hệ thống thông tin Nhà trường. Nhà trường phấn đấu

trong Những năm tới đây sẽ thực hiện triệt để việc tin học hoá vào quá

trình quản lý và giảng dạy và tất cả các cán bộ, giáo viên và công nhân viên

đều có trách nhiệm trong việc xây dựng, phát triển và khai thác hệ thống.

Trong thời đại ngày nay, mỗi thầy cô giáo không thể đứng nhìn,

đứng ngoài để nói về vai trò to lớn của CNTT mà ngay từ lúc này, ngay từ

bây giờ phải bắt tay vào việc ứng dụng CNTT vào hoạt động giảng dạy,

quản lý của mình. Đặc biệt là các Nhà quản lý giáo dục phải có cái nhìn sâu

sắc về xu thế của nhân loại, chính họ phải là những người quyết định trong

việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ giáo viên trong trường về

tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy. Và

cũng chính họ sẽ ra những quyết sách để tổ chức các hoạt động tuyên

truyền đạt hiệu quả cao.

3.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên về mọi mặt đặc biệt

là bồi dưỡng trình độ tin học

Mục đích

Đội ngũ cán bộ giáo viên là lực lượng quyết định trực tiếp đến chất

lượng giáo dục của mỗi Nhà trường và quyết định trực tiếp đến sự thành

bại của sự nghiệp đổi mới giáo dục. Bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ,

giáo viên là giải pháp then chốt đối với trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật

Công nghiệp I. Để đội ngũ giáo viên, cán bộ nhà trường làm tốt được

67



nhiệm vụ của mình và sẵn sàng ứng phó kịp thời với sự thay đổi nhanh

chóng của CNTT hiện nay: “Giáo dục phải sẵn sàng thích ứng và ứng phó

kịp thời với những biến đổi”

Đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường là những người trực tiếp

quyết định đến chất lượng hoặc liên quan đến chất lượng dạy và học của

Nhà trường. Đồng thời chính họ cũng là những người có ảnh hưởng trực

tiếp đến việc phát triển Nhà trường trong tương lai. Thực tế đã cho thấy, có

kinh phí chúng ta có thể có ngay máy vi tính, có ngay hệ thống truyền

thông cũng như có ngay những phần mềm ứng dụng phục vụ cho các công

tác quản lý. Nhưng chúng ta không thể có ngay những con người có thể vận

hành hệ thống, cập nhật và khai thác hệ thống. Vì vậy để đáp ứng được yêu

cầu giảng dạy đào tạo con người lao động trong thế kỷ 21 – thế kỷ của nền

kinh tế tri thức, toàn cầu hoá và hội nhập, đòi hỏi giáo viên phải có tri thức

và kỹ năng ứng dụng, xử lý và khai thác thông tin. Việc đưa ứng dụng

CNTT vào quản lý nhà trường là hết sức thiết thực trong bối cảnh hiện nay.

Điều đó đòi hỏi không chỉ những người làm việc, công tác trong các phòng,

ban trực tiếp tham gia vào công tác quản lý phải có trình độ tin học nhất

định mà còn yêu cầu tất cả các cán bộ, giáo viên và công nhân viên nhà

trường cũng phải có kiến thức về tin học để cùng góp phần vào việc vận

hành, khai thác hệ thống một cách hiệu quả. Vì vậy lãnh đạo nhà trường

phải quan tâm đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên và công nhân

viên nhà trường để họ chủ động sử dụng tin học vào các công tác hằng

ngày như tham gia quản lý, xây dựng văn bản, xây dựng chương trình dạy

học.

Tổ chức triển khai

Trong Nhà trường việc đưa ứng dụng CNTT vào nhiệm vụ năm học

của Nhà trường, của các phòng chức năng, khoa chuyên môn và coi đây

như là một tiêu chí để đánh giá viên chức và thi đua của các đơn vị, cá nhân

trong Nhà trường. Nhà trường giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cho từng phòng,

68



khoa, trung tâm và các bộ môn trực thuộc ban giám hiệu. Đây là biện pháp

nhằm thúc đẩy sự phát triển của nguồn nhân lực trong Nhà trường.

Các bước xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ

Bước 1: Lập kế hoạch

Trên cơ sở đội ngũ cán bộ giáo viên Nhà trường cùng với những điều

kiện sẵn có như hệ thống thiết bị, hệ thống thông tin cùng với đội ngũ

giảng viên, giáo viên giảng dạy tin học của Nhà trường. Kế hoạch đào tạo

bồi dưỡng đối với cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường Như sau:

Kế hoạch dài hạn: Đến năm 2012 nhà trường có 100% cán bộ giáo

viên đạt trình độ C về tin học; 100% giáo viên ứng dụng tin học vào công

tác giảng dạy như khai thác Internet để nghiên cứu tài liệu, thiết lập bài

giảng điện tử và sử dụng bài giảng điện tử trên lớp.

Kế hoạch năm học: Hằng năm Nhà trường tổ chức các lớp tập huấn

nâng cao trình độ tin học cho tất cả cán bộ, giáo viên và công nhân viên

nhà trường trong dịp hè. Xây dựng kế hoạch cử cán bộ giáo viên đi tập

huấn, tham dự hội thảo về tin học và ứng dụng CNTT trong các hội thảo

trong và ngoài nước.

Bước 2: Triển khai các chương trình đào tạo

Phòng Tổ chức cán bộ – Học sinh sinh viên lập quy hoạch về đội ngũ

đến năm 2012. Trên cơ sở đó lựa chọn cử đi học tập nâng cao trình độ các

cán bộ, giảng viên có năng lực và chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt

động, đào tạo của Nhà trường và có trình độ tin học nhất định. Phối hợp

phòng Đào tạo, khoa Công nghệ thông tin tổ chức triển khai sát hạch phân

loại đối tượng cán bộ giáo viên về trình độ tin học, khả năng ứng dụng

CNTT và truyền thông để lập danh sách các lớp tập huấn hè.

Trung tâm Hợp tác đào tạo và Chuyển giao công nghệ phối hợp

phòng Đào tạo, Khoa Công nghệ thông tin xây dựng kế hoạch và chương

trình tập huấn hè cho tất cả cán bộ, giáo viên Nhà trường đối với các lớp đã

được phân loại. Xây dựng phương án mời giảng viên cho các lớp tập huấn.

69



Phòng Hành chính quản trị phối hợp khoa Công nghệ thông tin

chuẩn bị cơ sở vật chất, phòng học, hệ thống thiết bị phục vụ cho công tác

tập huấn.

Bước 3: Kiểm tra đánh giá

Việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy và trong các

công tác quản lý đào tạo được coi là một trong những tiêu chí đánh giá,

bình bầu các danh hiệu thi đua của Nhà trường. Vì vậy, hằng năm Nhà

trường phải có những kế hoạch và xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá đối

với tất cả các cán bộ, giáo viên và công nhân viên Nhà trường.

Tổ chức sát hạch kiến thức tin học: Hằng năm Nhà trường tổ chức

sát hạch trình độ tin học và ứng dụng CNTT trong giảng dạy và quản lý

dựa trên các nội dung:

- Tin học văn phòng.

- Mạng máy tính: Khai thác các thiết bị, tài nguyên dùng chung trong

mạng nội bộ; khai thác Internet để cập nhật kiến thức, thực hiện các kỹ

năng truyền tin như email, chat, Voice chat ...

- ứng dụng chuyên môn: Sử dụng những phần mềm chuyên ngành,

phục vụ công tác chuyên môn.

Căn cứ trên các sản phẩm ứng dụng CNTT như:

- Bài giảng điện tử (đối với giáo viên)

- Kết quả công tác từ việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý (đối

với các cán bộ làm công tác quản lý ở các phòng chức năng, các trung tâm)

Bước 4: Nghiệm thu và công nhận kết quả

Trên cơ sở kết quả thu được của khâu kiểm tra đánh giá như trên.

Nhà trường tiến hành nghiệm thu các công tác triển khai đào tạo, bồi dưỡng

đội ngũ cán bộ, giáo viên và công nhân viên của các đơn vị tham gia và của

chính bản thân những người được đào tạo bồi dưỡng. Những nỗ lực của

mỗi phòng ban, khoa trong công tác phát triển nguồn nhân lực Nhà trường

phải được đánh giá đúng đắn cả về những thành tích đạt được cũng như

70



những hạn chế còn tồn tại từ đó phải có những hình thức khen thưởng,

động viên hoặc có những chỉ đạo uốn nắn kịp thời. Có như vậy công tác

phát triển đội ngũ mới mà cụ thể là việc nâng cao khả năng ứng dụng tin

học của cán bộ, giáo viên và công nhân viên nhà trường mới đạt được kết

quả mong muốn.

3.2.4. Quản lý chặt chẽ việc ứng dụng công nghệ thông tin

Mục đích

Quản lý chặt chẽ việc ứng dụng CNTT nhằm nâng cao ý thức sử

dụng tin học và truyền thông phục vụ cho các công tác giảng dạy và quản

lý của Nhà trường.

Đảm bảo việc ứng dụng CNTT luôn đi đúng theo mục tiêu đào tạo

của Nhà trường.

Kịp thời phát hiện những thiếu sót, những khó khăn gặp phải trong

việc tổ chức triển khai ứng dụng CNTT và truyền thông vào các công tác

của Nhà trường để có những chỉ đạo, uốn nắn phù hợp.

Tổ chức triển khai

Quản lý luôn là công tác được xem trọng trong bất kỳ hoạt động của

Nhà trường nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đi đúng hướng và đạt được

những mục đích mong muốn. Để tăng cường việc quản lý ứng dụng CNTT

và truyền thông trong Nhà trường cần phải thực hiện Những công tác sau:

Xây dựng các chế tài, các quy định và các tiêu chí thi đua khen

thưởng: Để việc siết chặt việc quản lý ứng dụng CNTT và truyền thông tại

Nhà trường, trước tiên Nhà trường phải xây dựng các văn bản quy định

trực tiếp cũng như gián tiếp đến việc thúc đẩy việc ứng dụng CNTT và

truyền thông trong các công tác.

Quy định trực tiếp: Cụ thể như những quy định chức năng, nhiệm vụ

và trách nhiệm của mỗi đơn vị, cá nhân trong trường về khai thác sử dụng

máy tính, sử dụng tài nguyên dùng chung, quy định về quản lý, cập nhật và

khai thác hệ thống thông tin của Nhà trường

71



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×