1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Khoa học xã hội >

CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (173.15 KB, 21 trang )


cũ đang suy tàn. Tuy ông đã thấy được quy luật của sự chuyển hóa mâu thuẩn, nhưng

ông không chủ trương phát triển mâu thuẩn giải quyết mâu thuẫn mà lại chủ trương

ngăn cản mâu thuẫn phát triển, mong muốn các sự vật cứ giữ nguyên trạng. Vận dụng

quan điểm này vào sinh hoạt xã hội, ông cho rằng người ta nên ở vào chỗ “ yếu ớt thấp

kém”, “ giảm bớt dục vọng, ít giữ riêng tư:, có như vậy thì mới mong bảo toàn sinh

mạng, trành được những điều nguy hại.

Lão tử cho rằng càng cách xa đạo, xã hội càng chứa nhiều mẫu thuẫn. Mâu thuẫn

là tai họa của xã hội. Theo ông, khi đạo lớn bị phá bỏ thì xuất hiện nhân – nghĩa; Khi

trí tuệ ra đời thì sinh giả dối; khi nước loạn thì mới xuất hiện tôi trung; …. Vì vậy, để

xóa bỏ tai họa cho xã hội, phải thủ tiêu mọi mâu thuẫn mang tính chất xã hội, có

nguồn gốc chủ quan. Mâu thuẫn trong xã hội được thủ tiêu bằng cách đẩy mạnh một

trong hai mặt đối lập để tạo ra sự chuyển hóa theo quy luật phản phục, hay cắt bỏ một

trong hai mặt đối lập để làm cho mặt đối lập kia tự mất đi theo quy luật quân bình. Với

quan niệm này, ông cho rằng, trong đời sống xã hội, nếu dẹp bỏ trí tuệ thì dân sẽ chất

phác; nếu không tôn trọng người hiện thì dân không tranh nhau; nếu không coi trong

của cái quý bãu thì dân không trộm cắp.

Từ đó thấy rằng phép biện chứng của Lão Tử mang tính chất máy móc, đơn giản.

Vạn vật chỉ hoạt động tuần hoàn mà không có sự ra đời của cái mới, nghĩa là không có

sự phát triển.

2.3.



Quan niệm vô vi về nhân sinh



Theo Lão Tử, con người vô vi, tự nhiên vô bất vi, thánh nhơn vô vi, bách tánh

vô bất vi, thiên địa vô vi, trừ đi sai lầm của “ hành động tạo tác của con người”, thì sẽ

trở về với sự tốt đẹp của tự nhiên, đây cũng là ý “ vô vi nhi bất vi của Lão Tử”. Bản

chất của vô vi là vô bất vi, trong hạn định các khó khăn của nhơn sanh, cần có trí tuệ

để nhìn nhận về sanh mạng có thể phá trừ chấp trước và hóa giải hành vi tạo tác của

con người, sanh mạng con người là tạm thời, tự nhiên mới là trường cửu, cơ thể con

người có thể bị hủy hoại nhưng thiên đạo thì vĩnh hằng. Theo Lão Tử thái độ sống “vô

vi” của con người đó là con đường duy nhất trừ đi “tạo tác của con người” để trở về

với tự nhiên. Con đường này chính là “đạo pháp tự nhiên” cũng chính là vô vi.

Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không

gò ép bản thân mình ngược với bản tính tự nhiên; là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để

không làm mất đức. Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư lợi thì mới nhận thấy đạo; và chỉ



nhận thấy đạo mới có thể vô vi được. Lão tử phản đối mọi chủ trương hữu vi, vì ông

cho rằng hữu vi chỉ làm xáo trộn trật tự tự nhiên vốn mang tính hài hòa, làm mất bản

tính tự nhiên của con người, dẫn đến sự xa lánh và làm mất đạo. Từ thuyết vô vi Lão

Tử đã rút ra nghệ thuật sống cho con người là từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan

dung.

Cái Đạo “phi thường Đạo” được Lão Tử nói đến là thiên nhiên, năng lượng sức

sống và sự vận hành của thiên nhiên. Cũng có thể gọi là tự nhiên hoặc thiên lý. Và

Đức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận theo thiên lý mà lưu hành. Trong cái Đạo của

vũ trụ ấy, thiên nhiên và những qui luật của chúng tập hợp thành cái trụ cốt, cái bản

thể, còn đất trời và sinh linh, v.v. là những thực thể có vị trí thích hợp và chức năng

thích hợp, thao tác theo một thể thức tự nhiên. Đạo ấy chỉ được biết bằng trực quan,

không bằng lý trí. Lão Tử không lập luận về Đạo vì ông chống lý trí. Theo ông, lý trí

khiến ta nhìn cuộc đời với con mắt nhị nguyên, phân chia thế giới nội tâm và ngoại lai,

con người với thiên nhiên, thế gian với vũ trụ, thiện và ác, vinh và nhục, đúng và sai,

cao và thấp..., làm ta xa lìa đạo. Lão Tử không mất công giảng giải về Đạo, ông chống

tri thức và trí năng. Ông cho rằng tri thức không giúp cho người ta sống theo Đạo và

Đức. Nó chỉ làm cuộc sống thêm phức tạp; nó chế tạo cơ khí khiến sinh ra “cơ tâm”;

nó bày đặt lý thuyết này nọ khiến đưa tới xung khắc... Trí năng khiến người ta phân

biệt cái hay cái dở nên sinh ra ham muốn. Ông chủ trương bỏ trí năng, bỏ văn tự, bỏ

việc dạy dỗ dân, để dân chúng sống mộc mạc, tự nhiên. Lão Tử không chịu nói nhiều

về Đạo vì ông hiểu rõ giới hạn truyền đạt của ngôn ngữ.

2.4.



Tư tưởng vô vi đối với vấn đề quốc trị an dân



Lão Tử sinh trưởng trong giai đoạn chiến tranh triền miên cho nên rất ưu tư về

vấn đề quốc trị. Ông thấy là “dân đói vì người trên lấy thuế nhiều cho nên dân đói, dân

khó trị vì người trên theo hữu vi cho nên dân khó trị,”.. “thiên hạ nhiều kiêng kỵ thì

dân càng nghèo; dân nhiều lợi khí thì quốc gia thêm mờ tối, người càng nhiều xảo

thuật thì vật kỳ lạ càng xuất hiện, pháp luật càng sáng tỏ thì trộm cướp càng nhiều.”

Và vì nhận xét như vậy cho nên Lão Tử chủ trương rằng người lãnh đạo quốc gia phải

áp dụng sách lược vô vi để trở về (phản phục) với đạo hay cái gốc tự nhiên ban đầu thì

mới có thể an bang tế thế.

Ông cho rằng với đường lối vô vi: lo cho dân no ấm, mạnh khỏe và dạy cho

dân sống tự nhiên hợp với môi trường chung quanh, không suy nghĩ hay thèm thuồng



mỹ vật. Một khi dân được ấm no, không bệnh tật và không ham chuộng của quý vật lạ

cũng như không có nhu cầu khoe tài hay ganh đua để được lãnh tụ yêu mến thì dân đã

thấm nhuần tinh thần vô vi (không làm); và khi đã theo vô vi rồi thì dẫu có kẻ tài trí,

tham lam xách động nhân dân nổi loạn thì họ cũng không làm (vô vi). Như vậy, nếu

muốn lòng dân không loạn thì người lãnh tựu của quốc gia phải biết lo cho dân, không

đặc ra sưu cao thế nặng, không bóc lột.

Lãnh tụ quốc gia phải biết thương dân, không thể chỉ đặt ra luật lệ và đợi dân

làm sai rồi hành hạ, giam cầm, xử trảm. Lãnh tụ quốc gia có nhiệm vụ chỉ bảo nhân

dân hướng thiện theo đạo chứ không thể đem cái chết ra hăm dọa nhân dân. Tương tự

như con thú khi bị dồn vào chân tường thì cắn lại, nhân dân khi bị bóc lột, khổ sở hết

mức thì hết sợ chết; mà khi nhân dân hết sợ chết thì sự dọa nạt của lãnh tụ trở nên vô

dụng. Kẻ nào dùng bạo lực để trị quốc thì “hiếm khi không bị thương ở tay”. Thương

dân thì phải lo cho dân no ấm, tránh sưu thuế cao và không ép buộc dân phục dịch.

Nếu kẻ ở trên sống xa xỉ, thâu sưu thuế cao mà còn bắt dân phục dịch thì nhân dân chỉ

có thể chịu đựng đến một mức độ nào đó rồi trở nên loạn bởi vì họ không còn sợ chết

nữa. Lãnh tụ quốc gia không nên đam mê cái bề ngoài xa xỉ mà ngược lại phải biết

thương dân, lo cho dân no bụng và tránh những hành động ép dân vào cái thế khinh tử.

Bậc thánh nhân chủ trương trị quốc theo phương pháp vô vi nhằm giảm thiểu

phép tắc vốn được đặt ra để áp bức và trừng phạt nhân dân. Lãnh tụ quốc gia theo đạo

sẽ hướng dẫn nhân dân noi theo gương của mình, dùng cái thanh liêm của mình để dạy

dỗ dân bỏ đi lòng tham dục cũng như các hành động xấu. Dần dần nhân dân trở thành

thuần hậu và sống theo tự nhiên, chất phác mà không bị phép tắc chính trị gò bó. Luật

lệ hà khắc được đặt ra (hữu vi) nhằm khiến người ta sợ nhưng hiếm khi tiêu diệt hết

được các tệ nạn xã hội; trong khi đó đường lối vô vi không dựa trên phép tắc rườm rà

lại có thể cảm hóa nhân dân để họ theo con đường thiện hợp với cái đạo của tạo hóa.

Lão Tử không chủ trương dùng pháp luật để trị quốc mà cổ võ cho sách lược

đạo trị (vô vi) để vạn vật phát triển tự nhiên (không bày ra phép tắc, xảo thuật để gò ép

nhân dân). Theo ông, nếu muốn hướng thiện thì đừng trừng phạt kẻ xấu mà nên dùng

tư cách thánh nhân để cảm hóa kẻ xấu.

Chính sách quốc trị cao nhất là đạo trị, rồi mới đến đức trị (nhân trị), và rồi đến

pháp chế; chính sách xảo trị (dùng xảo thuật để cầm quyền) là phương pháp thấp nhất

vì lãnh tụ không còn được nhân dân tin tưởng nữa mới dùng đến xảo thuật. Lãnh tụ



không tin dân cho nên mới bày kế để gò ép dân; dân không tin lãnh tụ cho nên phải

đóng kịch sợ sệt hay cung kính để lừa gạt lãnh tụ. Hai bên đều dùng bề ngoài xảo trá

để làm bình phong che giấu sự bất tín.

Quốc gia lý tưởng trong nhãn quan của Lão Tử là một quốc gia nhỏ mà trong

đó nhân dân sống thuận với thiên nhiên, biết vừa đủ mà không ham biết nhiều, không

muốn tư dục, không ganh đua bề ngoài, mà chỉ sống theo đạo vô vi. Trong quốc gia lý

tưởng này, người dân sống chất phác, hiền lành, thuần phục với thiên nhiên; bởi vì hài

lòng với cuộc sống thiên nhiên, con người không lìa xa nơi sinh trưởng, không có lòng

tham để tranh giành quyền lợi. Con người không tranh giành quyền lợi thì thiên hạ

không có chiến tranh cho nên quốc gia dẫu có xe cộ, thuyền bè, binh giáp cũng không

dùng đến. Khi người dân có đời sống thái hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc

gia có thể “giũ áo, chắp tay, không làm (vô vi)” mà thiên hạ cũng được thái bình.



CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC NƯỚC CHÂU Á ĐẶC BIỆT LÀ

VIỆT NAM

Sự khác biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo - được dùng ở đây vì

những nguyên nhân thực tiễn - có thể được hiểu như sau: Đạo giáo triết học theo lí

tưởng của một Thánh nhân, thực hiện Đạo bằng cách gìn giữ một tâm thức nhất định,

trong khi Đạo giáo tôn giáo tìm cách đạt Đạo qua việc ứng dụng những phương pháp

như Tĩnh toạ (Khí công, Thái cực quyền), sự tập trung cao độ, thiết tưởng

(visualization), hình dung, thuật luyện kim, nghi lễ và huyền học để tạo một thế giới vi

quan từ thân tâm - một ánh tượng của đại vũ trụ - và qua đó đạt được sự hợp nhất với

vũ trụ.

3.1.



Ảnh hưởng đến chính trị



Vào thời Đinh Lê Lý Trần trong triều đình luôn có các tăng sư đạo sĩ làm cố

vấn, được vua hỏi ý kiến về việc quan trọng, ví dụ pháp sư Đỗ Pháp Thuận thời vua Lê

Đại Hành.

Nếu Nho giáo là công cụ của giai cấp thống trị để tổ chức an ninh xã hội, để cai

trị thì Đạo giáo lại xây dựng tư tưởng cho kẻ phản kháng chống lại chính quyền. Trung

Quốc và Việt Nam đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy mà kẻ lãnh đạo lợi dụng tôn

giáo đạo giáo, bua chú phép thuật để lôi kéo người nông dân nghe theo như đeo bùa thì

tên giáo, súng đạn bất xâm...( khởi nghĩa Hoàng Cân - giặc khăn vàng, nổi dậy của

Phan Xích Long...)

Lão tử chủ trương rằng người người lãnh đạo quốc gia áp dụng sách lược sách

lược vô vi để trở về ( phản phục) với đạo hay cái gốc tự nhiên ban đầu thì mới có thể

an bang tế thế. Tư tưởng này đã có những ảnh hưởng rất tích cực đến chế độ chính trị

ngày nay: lãnh tụ quốc gia phải biết thương dân, khong thể chỉ bảo nhân dân hướng

thiện theo đạo chứ không thể đem những đạo luật, hình phạt ra hăm dọa nhân dân. Bộ

máy lãnh đạo quốc gia chăm lo cho đời sống của nhân dân để người người có một

cuộc sống ấm no, hạnh phúc, hướng thiện, không tranh chấp, trộm cướp… Các lãnh

đạo cấp cao có sự mệnh phải là tấm gương sáng để nhân dân noi theo, dùng cái thanh

liêm của mình để dạy dỗ dân bỏ đi tham dục cũng như các hành động xấu; dần dần

nhân dân trở thành thuần hậu và sống theo tự nhiên, chất phác mà không bị phép tắc

chính trị gò bó.



3.2.



Về mặt y dược học và các môn khoa học cổ



Từ việc tìm thuốc trường sinh, các vị đạo gia đã từng bước hoàn thiện hiểu biết

về các loài thảo mộc, cách bào chế thuốc, và từ đó các kinh nghiệm này được truyền

bá vào đời sống, trở nên có giá trị thực sự đối với con người. Các phương pháp luyện

tập nội đan của Đạo giáo khi được truyền ra dân gian thì trở thành các môn khí công,

dưỡng tâm, dưỡng thân, môn châm cứu, và thực sự đã chứng minh được tính thần diệu

của nó.

Mặt khác, nguyên lý “con người và vũ trụ là một” của Đạo giáo đã trở thành cơ

sở để hình thành y lý của Đông Y, dùng mô hình vũ trụ để giải thích các quan hệ trong

cơ thể con người, làm nguyên tắc chẩn trị bệnh (con người là tiểu vũ trụ, các quan hệ

sinh khắc áp dụng trong thế giới vật chất cũng được sử dụng để chẩn đoán và trị bệnh

trong cơ thể con người).

Ngoài ra, một mảng ảnh hưởng sâu đậm của Đạo giáo mà không thể không

nhắc tới là lĩnh vực phong thủy, tiên tri, chiêm bốc, tướng số, mà hiện nay vẫn đang

tồn tại và được gọi bằng cái tên “hiện đại” hơn là “các môn khoa học dự báo”. Đây là

các lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của rất đông đảo người dân, không chỉ dân

thường mà trước hết là tầng lớp quý tộc, cung đình. Ngay cả các học giả lớn của Việt

nam như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nổi tiếng với môn Thái Ất và những

lời sấm truyền trứ danh của ông. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan cũng là một ví dụ.

Hoặc như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng từng nổi tiếng là một nhà phong thủy

với nhiều truyền thuyết ly kỳ về tài tầm long điểm huyệt của ông. Vua Quang Trung

từng phải viện tới ông xem đất để đặt Phượng Hoàng Trung Đô. Hoặc như nhà bác học

Lê Quý Đôn cũng đã từng trước tác nhiều tác phẩm về chủ đề này (ví dụ cuốn “Thái

Ất dị giản lục”, “Dịch kinh phu thuyết”).

Tuy rằng triết lý lý âm dương ngũ hành, kinh Dịch, Thái Ất, và các hệ thống

kiến thức cơ bản khác của triết lý Đông phương không phải là sản phẩm khởi nguồn từ

Đạo giáo, nhưng không thể phủ nhận một điều rằng chính các các Đạo gia nổi tiếng

của Đạo giáo đã góp phần đáng kể vào việc phát triển, hoàn thiện, và truyền bá các

kiến thức ấy ra ngoài cuộc sống.

3.3.



Về mặt tư tưởng văn học



Về nếp sống và văn thơ, mặc dầu không mấy ai thật sự là tín đồ một phái nào

của Đạo Giáo, nhưng hầu hết các nhà Nho Việt Nam, qua Đạo Đức Kinh, Nam Hoa



Kinh, hay thi văn cổ Trung Hoa, đều chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp những tư

tưởng của Lão Tử, Trang Tử.

Trong những nhà Nho đã thoát ra khỏi cuộc đời, đi ở ẩn để tiêu diêu tự tại giữa

thiên nhiên, trước hết có Nguyễn Trãi (1380-1442). Ông cáo quan về ẩn tại Côn Sơn

(Hải Dương), có nhiều câu thơ ca tụng thú thanh nhàn (một bầu phong nguyệt) tiêu

dao tự tại giữa thiên nhiên, đúng với lời dạy bảo trong Đạo thường mà không còn nghĩ

đến sự đua tranh

Qua thế kỷ 15-16, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), đã theo phép xuất xử của

Nho giáo (Gặp thời có chính nghĩa thì ra giúp đời, không thì đi ở ẩn, mà cáo quan về ở

ẩn, nhưng tư tưởng của ông lại thấm nhuần thuyết “tính-tự-nhiên” của Trang Tử: tiêu

diêu hưởng nhàn giữa cảnh hữu tình (thiên nhiên), không tranh đua, không cần ai khen

chê:

Nhưng quan trọng nhất là Nguyễn Công Trứ (1778-1858), ra làm quan, bận rộn

với việc khẩn hoang lập làng nuôi sống cho dân nghèo, cầm quân đánh giặc chống

loạn Cao Miên, mà vẫn tìm cách sống theo các thuyết Đạo giáo, như ‘tri túc, tiêu diêu

xoay xở để hưởng nhàn’ (ngao du sơn thủy). Ông viết: biết đủ thì có đủ, còn đợi cho

đủ, biết bao giờ mới đủ? biết nhàn thì có nhàn, còn đợi cho nhàn, biết bao giờ mới

nhàn?

Theo thuyết ‘tri túc bất nhục‘ của Lão tử: nghĩa là “biết đủ thì khỏi bị nhục”

(Đạo Đức Kinh, chương 44), và theo thuyết Tiêu Diêu hưởng lạc thỏa thích giữa thiên

nhiên của Trang Tử. Dù được, dù mất, ông vẫn bình thản như người thượng cổ, thiên

hạ khen chê thế nào, ông vẫn là ông, trong tâm hồn có sự hòa đồng với vũ trụ, thoát

tục thần tiên, vui thuận theo tính-tự-nhiên trời phú cho.

Phải chăng, Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho đã dung hòa được cái hữu vi của

Khổng giáo với cái vô của Lão Trang, trong tinh thần Việt hóa cố hữu của dân tộc ta.

Đề tài đời và mộng lẫn lộn nhau, ảnh hưởng của chuyện Trang Chu chiêm bao

làm bướm, đã được bao nhiêu văn thi sĩ lặp đi lặp lại, nhưng đặc biệt nhất có Tản Đà

Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939) là dông dài và sâu sắc hơn hết.

3.4.



Về ứng xử với thời cuộc



Các nhà Nho ngày xưa thường theo chủ trương “Công toại, thân thoái” (Đạo

Đức Kinh, Chương 9). Trong lịch sử có nhiều vị quan, tướng sau khi phò giúp vua dẹp

loạn, lên ngôi, cảm thấy đã hoàn thành nhiệm vụ của mình thì lập tức rút lui thoái ẩn,



không màng đến danh phận như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi…

3.5.



Về mặt tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng



Sau giai đoạn thịnh hành ở thời Lý – Trần, Đạo giáo ở Việt nam bị Nho giáo

bài xích và phải ẩn vào trong chính Nho giáo và Phật giáo. Trên một phương diện nào

đó, có thể coi đó cũng là ảnh hưởng của Đạo giáo đối với Nho và Phật, mặc dù dưới

hình thức khá thụ động.

Học giả Phan Ngọc cũng cho rằng Đạo giáo khi du nhập vào Việt nam chỉ làm

thay đổi về mặt hình thức các tín ngưỡng bản địa đã có sẵn, còn nội dung thì không

thay đổi bao nhiêu.

Để phân biệt rạch ròi đâu là dấu hiệu của Đạo giáo trong các tín ngưỡng mang

tính dân gian thì rất khó. Bởi vì tín ngưỡng dân gian từ xa xưa của người Việt cũng

mang rất nhiều yếu tố phù thủy, và cũng rất nhiều yếu tố thần tiên. Vì vậy, điều dễ

thấy hơn là sự dung hòa Tam giáo trong tâm linh người Việt. Ví như biểu tượng chim

hạc, linh quy xuất hiện rất nhiều trong đình chùa miếu mạo và cả từ đường của tư gia.

Hạc hay rùa là các biểu tượng của tiên đạo, trường sinh.

Hoặc như thuật ngữ “buhda” vốn có nghĩa là “phật”, nhưng khi du nhập vào

nước ta và được bản địa hóa thành “bụt” thì lại không được dùng để chỉ “phật” mà

dùng để chỉ một ông tiên với nhiều phép biến hóa cứu giúp người nghèo khổ. Hình

tượng ông bụt, ông tiên, bà tiên, hay cô tiên đã trở nên rất quen thuộc và phổ biến

trong các câu chuyện cổ tích dành cho trẻ em và cũng xuất hiện khá phổ biến trong các

hình thức văn học dân gian khác, như “Việt điện u linh”, “lĩnh nam chích quái”,

“truyền kỳ mạn lục”, “truyền kỳ tân phả” và các tác phẩm tương tự như thế.

Các khái niệm vốn đặc hữu của Đạo giáo như Bồng Sơn, Nhược Thủy, Bồng

Lai (nơi tiên ở) cũng xuất hiện khá nhiều trong đời sống của người Việt, đặc biệt là đối

với giới sỹ phu, có chữ nghĩa. Tương tự, khái niệm “tiên” cũng vậy. Những thành ngữ

kiểu như “được voi đòi tiên” hay “sướng như tiên” hoặc có liên quan tới “tiên” được

sử dụng khá thường xuyên trong đời sống. Thậm chí trong nhiều bài văn khấn gia tiên,

câu kết thường là “xin tiễn vong linh, lại về tiên giới”.

Đó đều mang bóng dáng của Đạo giáo.

Như vậy, có thể cho rằng Đạo giáo đã thẩm thấu một cách tự nhiên vào trong

đời sống tâm linh, và các tôn giáo tín ngưỡng của người Việt, mặc dù nếu nói rằng đó

hoàn toàn là ảnh hưởng của Đạo giáo thì cũng là khiên cưỡng nhưng cũng không thể



phủ nhận sự hiện diện của Đạo giáo ở đó.

Ngày nay các phái Phù thủy, Thần tiên của Đạo giáo chắc là không còn tồn tại

nữa. Các thành phần trẻ và có học nước ta cũng không ai tin tưởng những chủ trương

vô vi nhi trị (trị quốc theo lối vô vi, kệ nó tự vận hành theo quy luật tự nhiên), trở về

đời sống thái thượng dân số ít, dân trí kém do Lão Tử đề xướng, nhưng rất có thể bị lôi

cuốn theo lập trường không phân biệt thiện ác, đúng sai, khiến cho cuộc sống sinh ra

bừa bãi, vô trách nhiệm, hoặc lẫn lộn hưởng nhàn với hành lạc sa đọa, hoặc theo

gương Trang Tử, phản đối tất cả những luật lệ, thể chế chính trị, học thuyết, tín

ngưỡng do người đời bày ra, đến mức có thể bị mất hết niềm tin, sống ngoài lề xã hội,

không biết quí trọng giá trị thiêng liêng của đời sống mà Trời đã phú cho.

Vì vậy, rất cần giúp lớp trẻ tìm hiểu và đánh giá đúng mức những chủ trương,

tư tưởng, học thuyết Lão Trang trong Đạo giáo để gạt bỏ những gì lỗi thời và tìm mọi

cách Việt hóa những gì có thể giúp cho sự tiến bộ về tư tưởng cũng về khoa học cho

dân tộc Việt Nam chúng ta.



CHƯƠNG IV: NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA ĐẠO GIA

Những tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia tuy đã được xây dựng cách đây

hơn hai ngàn năm, và có không ít hạn chế, nhưng đến nay vẫn còn ý nghĩa thiết thực

về mặt phương pháp luận, gợi mở cho chúng ta nhiều điều cả trong hoạt động nhận

thức lẫn trong hoạt động thực tiễn.

4.1.

-



Giá trị



Trong hoạt động nhận thức



Giúp nhìn nhận thế giới là sự chuyển hóa, dung hòa của 2 mặt đối lập, thế giới

luôn có sự chuyển hóa va bài trừ lẫn nhau và trong bản thân từng sự vật.

Giúp con người hướng thiện, hướng đến tự nhiên, dung hòa với tự nhiên, tĩnh tâm

và tự tại, tránh được những ham muốn đua chen của dục vọng, biết bằng lòng với cái

hiện có.

Về tư tưởng, chủ trương bất tử, tức là quan niệm lúc chết, sự sống con người được

thay đổi chứ không bị mất đi, cho nên con người có một thái độ tích cực đối với thân

phận chính mình.

Trong hoạt động nhận thức, con người cần tránh lối tư duy gán ghép, máy móc,

siêu hình, áp đặt chủ quan đối với mọi sự vật hiện tượng tự nhiên… Mà phải nhận thức

cái khách quan, cái bản tính tự nhiên thuần phác, vốn có của nó.

Đồng thời, thông qua luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo gia đã cung

cấp nhân sinh quan và nghệ thuật sống mang tính nhân văn sâu sắc, có tác dụng an ủi

con người hài lòng và hạnh phúc với những gì mình có trong cuộc sống, không nên

ham muốn, mơ tưởng hão huyền.

Đạo gia còn dạy con người phải biết sống khiêm tốn, giản dị, mà vẫn ung dung, tự

tại, không lo sợ, không đau buồn… trước mọi biến động xảy ra trong đời; không tham

lam, vụ lợi, giả dối; không đấu tranh, giành giật; không đua đòi, bon chen, đố kỵ… Mà

cần phải sống hòa nhã, trung dung, ngay thẳng, tự nhiên thuần phác, “thản nhiên mà

đến, thản nhiên mà đi”…

-



Trong hoạt động thực tiễn



Đạo gia hướng con người về với tự nhiên, vì thế trong hoạt động thực tiễn giúp

con người điều chỉnh hành vi (hoạt động) của mình cho phù hợp với tự nhiên và cuộc

sống, tôn trọng các quy luật, tránh lỗi hành xử lỗ mãng, bất chấp.

Những quan điểm triết học cơ bản của Đạo gia đã góp phần chỉ ra cho chúng ta,



trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải tôn trọng quy luật khách quan, nắm

vững và vận dụng phù hợp các quy luật tự nhiên vào cuộc sống, nếu không sẽ phải trả

giá và chuốc lấy hậu quả khôn lường, như Lão Tử cảnh báo: “Lưới trời lồng lộng, thưa

mà khó lọt”.

Đặc biệt, Đạo gia yêu cầu trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải “thuận

theo tự nhiên”, không được làm trái quy luật tự nhiên, không được cải tạo tự nhiên

theo những toan tính lợi ích tầm thường của mình. Điều này có tính thời sự đặc biệt và

sâu sắc trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, với thiên tai và dịch bệnh

luôn đe dọa nghiêm trọng, cộng thêm những bất ổn về chính trị - xã hội, một hệ lụy

trực tiếp từ quá tr.nh con người “nhân tạo hóa thiên nhiên”, tạo dựng một nền “văn

minh” không tương thích với bản tính tự nhiên của vũ trụ vạn vật.

Đồng thời, trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải biết quí trọng mọi sự

sống nói chung, gắn với quí trọng môi trường tự nhiên, không được tàn sát sinh vật và

hủy hoại môi trường một cách tùy tiện.

Bên cạnh đó, với việc chỉ ra luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo gia đòi

hỏi con người cần tránh mọi cực đoan, thái quá, nóng vội, chủ quan duy ý chí… Mà

phải luôn luôn tạo dựng sự cân bằng, hợp lý, tự nhiên; khách quan nhưng không ỷ lại,

thụ động trước các điều kiện khách quan.

4.2.



Hạn chế



Tuy nhiên, nếu xét ngược lại, với những mặt tiêu cực và hạn chế, thì Đạo gia chủ

trương con người không nên tăng cường các hoạt động sáng tạo, không cần mở mang

trí tuệ, chấm dứt cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội, mà quay về sống như thời nguyên

thủy, đúng với bản tính tự nhiên thuần phác của một loài động vật bậc cao được sinh

ra từ “đạo”… phủ nhận mọi hoạt động thực tiễn của con người.

- Trong hoạt động nhận thức

Tư tưởng Đạo gia sẽ dẫn chúng ta đến với chủ nghĩa duy tâm thần bí về “đạo”, tư

tưởng biện chứng tuần hoàn thô thiển, chủ nghĩa khách quan tuyệt đối, thuyết bất khả

tri…Lão tử cho rằng: “Không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khe

cửa mà biết đạo trời”. Có yếu tố duy tâm trong tư tưởng, thể hiện ở chỗ đề cao tư duy

trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể.

Đạo gia đã đề cập đến nguồn gốc, cách thức và khuynh hướng của sự vận động

biến đổi, nhưng còn hết sức đơn giản, tuần tự khép kín, chuyển hóa hình thức, không



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

×