1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO LIÊN KẾT QUỐC TẾ BẬC CỬ NHÂN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.77 MB, 88 trang )


1.1.2 Chức năng của quản lý: Các chức năng quản lý gồm: Kế hoạch

hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.

Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành

tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được

mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch:

(a)Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức, (b) xác định và đảm bảo về

các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này, (b) quyết định xem

những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó

Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành

viên, giữa các bộ phân trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành

công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ

chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn

vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng

lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và kết

quả.

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành thì cần phải

có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết,

liên hệ người khác và động viên họ hoành thành những nhiệm vụ nhất định để

đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu

sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh

hưởng quyết định tới hai chức năng kia.

Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một các nhân, một

nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến

hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động

phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành

những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh,

diễn ra có tính chu kỳ.



12



1.1.3 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên

cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung. Cách phổ biến trong sự

phát triển lý thuyết là áp dụng các mô hình quản lý công nghiệp vào bối cảnh

giáo dục. Vào giữa những năm 1990, quản lý giáo dục từ chỗ là một lãnh vực

nghiên cứu mới mẻ đã trở thành một lãnh vực có lý luận riêng và có dữ liệu

thực nghiệm với độ tin cậy được kiểm tra.

Quản lý giáo dục có thể khái quát là hệ thống những tác động có mục

đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm điều hành, phối hợp

các lực lượng xã hội thúc đẩy công tác giáo dục theo yêu cầu của xã hội.

Ngày nay, theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo

dục không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người. Với ý

nghĩa đó, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc

dân nhằm thực hiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài.

Theo lý luận giáo dục hiện đại, quản lý giáo dục được hiểu như là việc

thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục. Trong thực tế, cũng giống như các

hoạt động quản lý khác, quá trình quản lý giáo dục cần phải có những quyết

định đúng đắn, điều chỉnh linh hoạt và xử lý thông tin về các hoạt động giáo

dục một cách kịp thời.

1.2 Một số khái niệm cơ bản về đào tạo đại học và đảm bảo chất

lƣợng giáo dục đại học

1.2.1 Khái niệm đào tạo đại học

Giáo dục đại học là một phần của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo

dục đại học đa dạng về chuyên môn, có tính khoa học cao và tính tự chủ đặc

thù. Sứ mạng cốt lõi của giáo dục đại học là đào tạo người học có kiến thức

và năng lực nghiên cứu, kỹ năng thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình



13



độ đào tạo; có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề

thuộc chuyên ngành được đào tạo; có phẩm chất chính trị, đạo đức; có ý thức

phục vụ nhân dân; có tinh thần đổi mới và trách nhiệm nghề nghiệp; thích

nghi với môi trường công tác; có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc.

1.2.2 Đào tạo đại học liên kết quốc tế.

1.2.2.1 Định nghĩa

Đào tạo đại học liên kết quốc tế hay hợp tác quốc tế về giáo dục đại học

là hình thức liên kết đào tạo giữa nhiều nước và vùng lãnh thổ. Đào tạo hợp

tác quốc tế phối hợp hoạt động giáo dục đào tạo để thúc đẩy sự phát triển về

chất và lượng của giáo dục đại học..

1.2.2.2. Mục tiêu phát triển hợp tác quốc tế

Tiếp cận chuẩn mực giáo dục đại học tiên tiến của thế giới phù hợp với

yêu cầu phát triển của Việt Nam, tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế

giới.

Hợp tác quốc tế góp phần tích cực thực hiện mục tiêu đào tạo, nghiên

cứu khoa học chất lượng cao, ngang tầm khu vực, từng bước đạt trình độ quốc

tế.

Hợp tác quốc tế bình đẳng trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu

khoa học và sản xuất có hiệu quả nhằm nâng cao nội lực và đem lại nguồn thu

cho nhà trường.

1.2.2.3. Phương hướng liên kết đào tạo quốc tế.

- Đa phương hoá, đa dạng hoá loại hình hợp tác, tăng cường hội nhập

khu vực và quốc tế. Chú trọng đẩy mạnh hợp tác với các cường quốc trên thế

giới về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học (các nước Bắc Mỹ, Liên

minh Châu Âu, các nước Đông Bắc Á, Đông Âu).

- Tăng cường, mở rộng và chính thức hóa các hoạt động hợp tác trao

đổi giảng viên và sinh viên với các trường đại học trên thế giới, có thể cùng



14



liên kết với các trường đại học và các cơ sở giáo dục liên quan trong nước để

triển khai mô hình hợp tác này.

- Phát triển hoạt động liên doanh, liên kết với các trường đại học trên

thế giới trong việc tuyển sinh, đào tạo đại học cho sinh viên Việt Nam tại Việt

Nam và tại các nước khác như mô hình nhiều trường Đại học của Việt Nam

đã áp dụng.

- Phát triển các dự án nghiên cứu liên quốc gia nhằm tăng cường học

tập và trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.

- Từng bước triển khai các hoạt động dịch vụ, tăng nguồn thu cho nhà

trường thông qua hợp tác quốc tế. mở rộng quyền tự chủ, có cơ chế chính

sách khuyến khích các đơn vị và cá nhân về hợp tác quốc tế trong khuôn khổ

luật pháp.

- Tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các trường đại học để

tìm kiếm các nguồn học bổng tài trợ cho cán bộ - giảng viên đi đào tạo, bồi

dưỡng để nâng cao trình độ, tài trợ học bổng cho sinh viên xuất sắc hoặc hoàn

cảnh khó khăn. Tìm kiếm các nguồn kinh phí để tài trợ cho nghiên cứu khoa

học, cử cán bộ- giảng viên đi giao lưu khoa học với nước ngoài.

- Khuyến khích các giảng viên, các nhà khoa học làm công tác hợp tác

quốc tế nhằm tạo ra mạng lưới cộng tác viên trong hợp tác quốc tế với chính

sách động viên, khen thưởng kịp thời; đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ

cán bộ chuyên trách.

1.2.2.4 Các hình thức liên kết đào tạo quốc tế bậc đại học

Để thực hiện phương hướng và mục tiêu hợp tác quốc tế nêu trên, các

trường đại học đều có phòng Quan hệ Quốc tế nhằm thực thi và vận hành các

chương trình hợp tác quốc tế

- Chương trình hợp tác đào tạo quốc tế theo hình thức 1+3 (+4): Đây

là chương trình liên kết đào tạo trong đó có 1 năm học dự bị tại một trường sở

tại và 3 năm hoặc 4 năm học đại học tại nước ngoài. Sau khi kết thúc khóa



15



học dự bị ngôn ngữ, sinh viên có thể chuyển học đại học tại các trường đối

tác.

- Chương trình hợp tác đào tạo quốc tế theo hình thức 2+2: Đây là

chương trình liên kết đào tạo cho phép sinh viên học theo chương trình đào

tạo được thống nhất giữa hai trường đại học. Sau khi học hết 2 năm tại trường

sở tại, sinh viên được chuyển tiếp vào năm thứ 3 của trường đối tác. Kết thúc

khóa học, sinh viên được trường đối tác cấp bằng đại học.

- Chương trình liên kết đào tạo 3+1: Đây là chương trình liên kết đào

tạo 3 năm tại Việt Nam và 1 năm tại nước ngoài hoặc ngược lại. Chương trình

đào tạo 3 năm tại Việt Nam được đối tác nước ngoài công nhận trong đó tập

trung vào những kiến thức chuyên ngành chủ yếu và học ngôn ngữ.

- Chương trình liên kết đào tạo tại chỗ: Đây là chương trình liên kết

đào tạo 3 năm hoặc 4 năm hoàn toàn tại Việt Nam, đào tạo theo chương trình

thống nhất giữa trường đại học của Việt Nam và trường đại học đối tác dưới

sự cho phép của Bộ giáo dục 2 nước. Sau khi kết thúc khóa học, sinh viên sẽ

được trường đối tác cấp bằng đại học.

- Chương trình liên kết đào tạo đồng cấp bằng (song bằng): Đây là

chương trình liên kết đào tạo 4 năm hoàn toàn tại Việt Nam, đào tạo theo

chương trình thống nhất giữa trường đại học của Việt Nam và trường đại học

đối tác dưới sự cho phép của Bộ giáo dục 2 nước. Sau khi kết thúc khóa học,

sinh viên sẽ được cả hai trường cùng cấp bằng đại học (song bằng)

1.2.3 Khái niệm chất lượng đào tạo đại học

Khá nhiều các học giả, nhà quản lý giáo dục hiện nay tạm chấp nhận:

“Chất lượng là sự trùng khớp với mục tiêu”. Mục tiêu của khóa học, môn

học... được xây dựng trên cơ sở xác định chất lượng bên trong là sự phù hợp

với mục tiêu đào tạo và chất lượng bên ngoài là sự thỏa mãn nhu cầu xã hội

hoặc người thụ hưởng dịch vụ giáo dục. Nói cách khác, chất lượng giáo dục

đại học với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường đại học vừa



16



là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Như vậy, một trường đại học có chất

lượng cao là trường tuyên bố rõ ràng sứ mạng (mục đích) của mình và đạt

được mục đích đó một cách hiệu quả và hiệu suất nhất đồng thời sứ mạng,

mục đích đó đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng dịch vụ giáo dục của

trường đó. Trường đại học chất lượng cao là trường giải quyết được mâu

thuẫn giữa một bên là nhu cầu của người thụ hưởng dịch vụ giáo dục và một

bên là khả năng đáp ứng được nhu cầu đó một cách hiệu quả nhất với nguồn

lực nội tại của mình.

Chất lượng giáo dục trường đại học mà cụ thể là chất lượng đào tạo đại

học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục

tiêu giáo dục đại học của Luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn

nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.

1.2.4 Khái niệm đảm bảo chất lượng đào tạo đại học.

Trong đào tạo đại học, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ

thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ

trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng.

Theo Warren Piper (1193), đảm bảo chất lượng trong đào tạo đại học

được xem là “tổng số các cơ chế và quy trình được áp dụng nhằm đảm bảo

chất lương đã được định trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tục – bao

gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyến khích, đánh giá và kiểm soát chất

lượng”.

Trong bối cảnh về sứ mạng và tầm nhìn của các trường đại học, đảm

bảo chất lượng nghĩa là quy trình đảm bảo rằng các hoạt động thực tiễn, các

nguyên tắc hay hành động đều hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đặc

biệt chú trọng đến các lãnh vực chính như giảng dạy, học tập, nghiên cứu và

các dịch vụ cộng đồng. Mục tiêu tổng quát là liên tục đẩy mạnh và cải tiến

chất lượng chương trinh, cách phân phối chương trình và trang thiết bị hỗ

trợ....



17



Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế định nghĩa “Đảm

bảo chất lượng có thể liên quan đến một chương trình, một cơ sở hay một hệ

thống giáo dục đại học tổng quát. Trong mỗi trường hợp, đảm bảo chất lượng

là tất cả các quan điểm, đối tượng, hoạt động và quy trình mà đảm bảo rằng

các tiêu chuẩn thích hợp về mặt giáo dục đang được duy trì và nâng cao trong

suốt sự tồn tại và sử dụng; cùn với các hoạt động kiểm soát chất lượng trong

và ngoài mỗi chương trình. Đảm bảo chất lượng còn là việc làm cho các tiêu

chuẩn và quá trình đều được cộng đồng giáo dục và công chúng biết đến rộng

rãi”.

Tóm lại, đảm bảo chất lượng đào tạo đại học được xác định như các hệ

thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ

trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng giáo dục ở mức

chuẩn cho phép nhất định và tìm ra những giải pháp để không ngừng nâng cao

chất lượng giáo dục; đảm bảo để trường đại học hoàn thành sứ mạng.

1.3 Các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo của một trƣờng đại

học

Chất lượng đào tạo đại học không thể tách rời hiệu quả xã hội. Việc đòi

hỏi chất lượng và chính sách nhằm đảm bảo chất lượng có nghĩa là tìm cách

hoàn thiện hơn những thành tố của cơ sở đào tạo. “Tất cả đường lối, hệ thông

tiến trình đều được lãnh đạo để nhằm đảm bảo sự duy trì và việc tăng chất

lượng sản phẩm giáo dục của trường đại học. hệ thống đảm bảo chất lượng là

một phương tiện mà các trường đại học sử dụng để tự khẳng định mình trong

đó có các điều kiện được đưa ra để sinh viên có thể đạt được những tiêu

chuẩn mà trường đặt ra”.

Như vậy, khái niệm đảm bảo chất lượng có thể được hiểu như là một sự

điều chỉnh trong quá trình đào tạo cho ăn khớp, đáp ứng với những điều kiện

cụ thể, những dự báo và có nghĩa là mục đích được đặt ra đạt được một cách

nghiêm túc với những tiêu chí về chất lượng đã được xác định đáp ứng yêu



18



cầu và phù hợp của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Để đảm bảo chất

lượng đào tạo của một trường đại học thì cần thiết phải nghiên cứu các yếu tố

hay điều kiện cấu thành chất lượng đào tạo. Các điều kiện này gồm:

(a): Chương trình đào tạo

(b): Nguồn học liệu

(c): Công tác tuyển sinh

(d): Đội ngũ giảng dạy và cán bộ phục vụ

(e): Tổ chức hoạt động dạy và học

(f): Tổ chức quá trình kiểm tra, đánh giá

(g): Hồ sơ học tập và công tác người học

(h): Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo.

1.3.1 Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo của trường đại học được xây dựng trên cơ sở

chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Chương trình giáo dục

được xây dựng với sự tham gia của các giảng viên, cán bộ quản lý, đại diện của

các tổ chức, hội nghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động theo quy định.

Chương trình đào tạo có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được

thiết kế một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của

đào tạo trình độ đại học và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của thị trường

lao động.

Chương trình đào tạo chính quy và giáo dục thường xuyên được thiết

kế theo quy định, đảm bảo chất lượng đào tạo.

Chương trình đào tạo được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sở

tham khảo các chương trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà

tuyển dụng lao động, người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức

khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của địa

phương hoặc cả nước.

Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng đảm bảo liên thông với



19



các trình độ đào tạo và chương trình giáo dục khác.

Chương trình đào tạo được định kỳ đánh giá và thực hiện cải tiến chất

lượng dựa trên kết quả đánh giá.

1.3.2 Nguồn học liệu

Thư viện của trường đại học có đầy đủ sách, giáo trình, tài liệu tham

khảo tiếng Việt và tiếng nước ngoài đáp ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ,

giảng viên và người học.

Trường đại học có thư viện điện tử được nối mạng, phục vụ dạy, học và

nghiên cứu khoa học có hiệu quả.

1.3.3 Công tác tuyển sinh

Hằng năm, các trường được Nhà nước giao chỉ tiêu tuyển sinh đại học,

cao đẳng hệ chính quy tổ chức tuyển sinh một lần.

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn đề thi tuyển sinh dùng chung

cho các trường. Giám đốc các đại học, học viện, Hiệu trưởng các trường Đại

học sử dụng đề thi chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm tổ

chức sao in, đóng gói đề thi, bảo quản, phân phối, sử dụng đề thi; tổ chức kỳ

thi; chấm thi và phúc khảo; xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển.

Đối với các ngành năng khiếu của các trường và một số trường tổ chức

thi tuyển sinh theo đề thi riêng của trường mình, hiệu trưởng các trường chịu

trách nhiệm tổ chức thực hiện các khâu: ra đề thi, tổ chức kỳ thi, chấm thi và

phúc khảo; xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển.

Những trường không tổ chức thi tuyển sinh được lấy kết quả thi tuyển

sinh Đại học theo đề thi chung của thí sinh cùng khối thi, trong vùng tuyển

quy định của trường để xét tuyển. Hiệu trưởng các trường này chịu trách

nhiệm tổ chức thực hiện việc xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển.

Hằng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố danh sách các trường được

phép tổ chức thi tuyển sinh theo đề thi riêng và các trường chỉ xét tuyển

không tổ chức thi.



20



1.3.4 Đội ngũ giảng dạy và cán bộ phục vụ

Có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên và

nhân viên; quy hoạch bổ nhiệm cán bộ quản lý đáp ứng mục tiêu, chức năng,

nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện cụ thể của trường đại học; có quy trình,

tiêu chí tuyển dụng, bổ nhiệm rõ ràng, minh bạch.

Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên được đảm bảo các

quyền dân chủ trong trường đại học.

Có chính sách, biện pháp tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý và

giảng viên tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ở trong và ngoài

nước.

Đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý chuyên

môn, nghiệp vụ và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Có đủ số lượng giảng viên để thực hiện chương trình giáo dục và

nghiên cứu khoa học; đạt được mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục

nhằm giảm tỷ lệ trung bình sinh viên / giảng viên.

Đội ngũ giảng viên đảm bảo trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo

theo quy định. Giảng dạy theo chuyên môn được đào tạo; đảm bảo cơ cấu

chuyên môn và trình độ theo quy định; có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng

yêu cầu về nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Đội ngũ giảng viên được đảm bảo cân bằng về kinh nghiệm công tác

chuyên môn và trẻ hoá của đội ngũ giảng viên theo quy định.

Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên đủ số lượng, có năng lực chuyên môn

và được định kỳ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ có hiệu quả cho

việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học.

1.3.5 Tổ chức hoạt động dạy và học

Áp dụng tổ chức dạy và học theo học chế tín chỉ.

Có kế hoạch và phương pháp đánh giá hợp lý các hoạt động giảng dạy

của giảng viên; chú trọng việc triển khai đổi mới phương pháp dạy và học,



21



phương pháp đánh giá kết quả học tập của người học theo hướng phát triển

năng lực tự học, tự nghiên cứu và làm việc theo nhóm của người học.

Người học được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên

khi kết thúc môn học, được tham gia đánh giá chất lượng đào tạo của trường

đại học trước khi tốt nghiệp.

1.3.6 Tổ chức quá trình kiểm tra, đánh giá

Phương pháp và quy trình kiểm tra đánh giá được tổ chức đa dạng hoá,

đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp với hình

thức đào tạo, hình thức học tập, mục tiêu môn học và đảm bảo mặt bằng chất

lượng giữa các hình thức đào tạo; đánh giá được mức độ tích luỹ của người học

về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và năng lực phát hiện, giải quyết

vấn đề.

Có kế hoạch đánh giá chất lượng đào tạo đối với người học sau khi ra

trường và kế hoạch điều chỉnh hoạt động đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của

xã hội.

1.3.7 Hồ sơ học tập và công tác người học

Kết quả học tập của người học được thông báo kịp thời, được lưu trữ

đầy đủ, chính xác và an toàn. Văn bằng, chứng chỉ được cấp theo quy định và

được công bố trên trang thông tin điện tử của nhà trường. Có cơ sở dữ liệu về

hoạt động đào tạo của nhà trường, tình hình sinh viên tốt nghiệp, tình hình

việc làm và thu nhập sau khi tốt nghiệp.

Người học được hướng dẫn đầy đủ về chương trình giáo dục, kiểm tra

đánh giá và các quy định trong quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Người học được đảm bảo chế độ chính sách xã hội, được khám sức khoẻ theo

quy định y tế học đường; được tạo điều kiện hoạt động, tập luyện văn nghệ, thể

dục thể thao và được đảm bảo an toàn trong khuôn viên của nhà trường. Công

tác rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học được thực

hiện có hiệu quả.. Công tác Đảng, đoàn thể có tác dụng tốt trong việc rèn



22



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

×