1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

4 Các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo liên kết quốc tế bậc cử nhân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.77 MB, 88 trang )


đều có sự tham gia giảng dạy trực tiếp, có rất ít chương trình được nhập khẩu

hoàn toàn 100%.

Giáo đục đại học luôn phải chấp nhận thái độ phản ứng của thị trường lao

động, đồng thời phân tích tiên đoán và chuẩn bị về sự phát hiện của thị trường

mới, những kiểu việc làm mới. Do vậy chương trình đào tạo theo các phương

thức liên kết quốc tế luôn được đánh giá là tiên tiến và có khả năng thích ứng cao

với thị trường nguồn nhân lực mới. Bởi hầu hết các chương trình được xây dựng

theo chuẩn các nước tiên tiến nơi có nền khoa học, kinh tế…. hiện đại hơn Việt

Nam. Tuy vậy, các chương trình giáo dục này cũng có hạn chế đó là được thiết

kế theo chuẩn của nước ngoài và các nhà thiết kết chương trình thì không phải

lúc nào cũng am hiểu thực tiễn Việt Nam vì vậy trong một số trường hợp được

đánh giá là chưa phù hợp nhu cầu của người học, người tuyển dụng và xã hội

Việt Nam.

Ngôn ngữ sử dụng cho chương trình đào tạo thường được sử dụng là

ngoại ngữ nếu trường nước ngoài cấp bằng. Do vậy, trước khi vào học 1 chương

trình đào tạo hoàn toàn bằng ngoại ngữ, sinh viên sẽ phải tốn rất nhiều công sức

để trau đồi vốn ngoại ngữ của mình trong thời gian dự bị đại học. Một số chương

trình liên kết đào tạo quốc tế khác được thiết kế song song tức là sinh viên vừa

học ngoại ngữ, vừa học các môn đại cương, cơ sở ngành bằng tiếng Việt. Đến

giai đoạn học các môn chuyên ngành, sinh viên sẽ học các môn này hoàn toàn

bằng ngoại ngữ do các giảng viên nước ngoài giảng dạy. Trong cả hai hình thức

thì đối với các chương trình đào tạo liên kết quốc tế, giờ ngoại ngữ chiếm tỷ

trọng rất lớn trong toàn bộ cơ cấu chương trình đào tạo.

1.4.2 Nguồn học liệu của các chương trình liên kết đào tạo quốc tế.

Thư viện phục vụ cho các chương trình liên kết đào tạo quốc tế cần

phải có đầy đủ sách, giáo trình, tài liệu tham khảo tiếng Việt và đặc biệt là

tiếng nước ngoài đáp ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ, giảng viên và người

học.



25



Các chương trình liên kết đào tạo quốc tế có thư viện điện tử được nối

mạng, phục vụ dạy, học và nghiên cứu khoa học có hiệu quả. Các đối tượng

có nhu cầu tham khảo tài liệu đều có thể truy cập thư viện điện tử của các

trường đối tác nước ngoài tại bất cứ đâu. Đây là một trong những lợi thế hơn

của các sinh viên khi tham gia các chương trình liên kết quốc tế so với sinh

viên trong nước. Bởi các sinh viên này theo danh nghĩa là sinh viên của 2

trường cùng quản lý, do vậy họ có thể khai thác các tài nguyên của 2 trường

cung cấp.

1.4.3 Công tác tuyển sinh chương trình liên kết đào tạo quốc tế

Các chương trình liên kết đào tạo quốc tế có phương thức tuyển sinh đa

dạng, linh hoạt và có tính đặc thù. Sinh viên tuyển chọn vào các chương trình

liên kết này phải đạt được yêu cầu tuyển chọn của trường Việt Nam và trường

của nước ngoài trong khi đối với các hình thức đào tạo khác thí sinh chỉ cần

đạt yêu cầu tuyển chọn của trường tại Việt Nam. Thông thường tùy thuộc vào

trường nào cấp bằng thì các yêu cầu tuyển chọn của trường đó sẽ khắt khe

hơn.

Yêu cầu tuyển sinh của các trường tại Việt Nam: Thí sinh cần phải đạt

điểm sàn của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao

đẳng chính quy hàng năm. Đây là một trong những yêu cầu phổ biến và quan

trọng nhất đối với các chương trình liên kết đào tạo quốc tế mà có sự cấp phép

của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Ngoài ra,một số chương trình liên kết

đào tạo quốc tế của 1 số trường đại học được tự chủ như đại học Quốc gia Hà

Nội, đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh chỉ yêu cầu thí sinh tốt nghiệp

phổ thông trung học.

Yêu cầu tuyển sinh của các trường nước ngoài: Thông thường quá trình

tuyển sinh của các trường nước ngoài thường được diễn ra sau khi các trường

đại học của Việt Nam đã tuyển sinh xong. Sinh viên thường được học 1 đến 2

năm trước khi các trường đối tác của Việt Nam tuyển sinh chính thức. Với



26



triết lý giáo dục của các quốc gia mà Việt Nam liên kết và phụ thuộc vào yêu

cầu tuyển sinh và đặc thù của từng trường thì hình thức tuyển sinh là khác

nhau, có thể là kiểm tra qua Internet, phỏng vấn trực tiếp, kiểm tra trắc

nghiệm, làm bài luận…. Nhưng hình thức tuyển sinh thông thường các trường

đối tác hiện này hay làm là thông qua phỏng vấn, kiểm tra trực tiếp về ngoại

ngữ, kiến thức đại cương thông qua hội đồng hỗn hợp hoặc hội đồng riêng

của trường đối tác.

Chỉ khi nào thí sinh được chính thức trường cấp bằng chấp nhận thì quá

trình tuyển sinh mới được coi là hoàn thành. Do vậy, tuyển sinh là một trong

những tiêu chuẩn quan trọng để đảm bảo chất lượng các chương trình liên kết

đào tạo quốc tế.

1.4.4 Đội ngũ giảng dạy và cán bộ phục vụ các chương trình liên kết

đào tạo quốc tế

Giảng viên, trợ giảng, biên dịch và phiên dịch: Giảng viên nước ngoài

tham gia giảng dạy trong chương trình đào tạo trình độ đại học phải là người

đã tốt nghiệp đại học trở lên ở chuyên ngành sẽ tham gia giảng dạy và có kinh

nghiệm công tác thuộc lĩnh vực giảng dạy ít nhất là 03 năm; Trước khi giảng

viên nước ngoài vào Việt Nam để tham gia giảng dạy phải gửi trước lý lịch

khoa học và tài liệu giảng dạy và tham khảo về chuyên ngành đó phù hợp với

khung chương trình đã được thống nhất khi ký kết các văn bản thỏa thuận

hoặc hợp đồng liên kết. Trong trường hợp phải dịch bài giảng, cơ sở đào tạo

cần bố trí cán bộ phiên dịch có hiểu biết về chuyên ngành để giúp học viên

nắm được bài giảng, hoặc giúp giảng viên giải đáp thắc mắc của học viên

trong quá trình giảng dạy.

Một trong những đặc thù về đội ngũ giảng dạy và cán bộ phục vụ các

chương trình liên kết đào tạo quốc tế là ngoài việc đảm bảo trình độ chuẩn

được đào tạo của nhà giáo theo quy định, giảng dạy theo chuyên môn được

đào tạo thì trình độ ngoại ngữ phải đáp ứng được yêu cầu về nhiệm vụ đào



27



tạo, nghiên cứu khoa học. Đội ngũ này phải thật sự có khả năng giao tiếp,

giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phục vụ bằng ngoại ngữ. Đây là điều kiện

tiên quyết để liên kết đào tạo quốc tế.

Lý lịch khoa học và cơ cấu đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy các

chương trình liên kết quốc tế phải được tuyển chọn, thống nhất và được giám

sát bởi trường đại học của Việt Nam và nước ngoài. Quá trình tuyển chọn và

cùng thống nhất này rất quan trọng để đảm bảo được chất lượng của các

chương trình liên kết.

Các chương trình liên kết đào tạo quốc tế có chính sách, biện pháp tạo

điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên tham gia các hoạt động

chuyên môn, nghiệp vụ ở ngoài nước để đảm bảo việc chuyển giao công nghệ sư

phạm, kiến thức chuyên môn. Đây là một trong những lợi ích rất to lớn của công

tác hợp tác quốc tế trong lãnh vực giáo dục.

Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên đủ số lượng, có năng lực chuyên môn

và được định kỳ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ có hiệu quả cho

việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học.

1.4.5 Tổ chức hoạt động dạy và học

Hoạt động dạy và học trong các chương trình liên kết quốc tế tại Việt

Nam thường được tổ chức tùy thuộc vào từng dự án, chương trình liên kết đào

tạo cụ thể và được cụ thể hóa trong các bộ hiệp định được ký kết giữa các

trường. Hiệp định liên kết đào tạo này sẽ quy định mỗi trường sẽ tổ chức

giảng dạy và học tập với tỷ lệ cụ thể.

Các chương trình liên kết đào tạo quốc tế có kế hoạch và phương pháp

đánh giá hợp lý các hoạt động giảng dạy của giảng viên; rất chú trọng việc

triển khai đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát triển năng lực tự

học, tự nghiên cứu và làm việc theo nhóm của người học. Một đặc điểm rất

khác của các chương trình liên kết đào tạo quốc tế là các môn học sẽ được

giảng dạy bằng ngoại ngữ hoặc có dịch thuật (Giảng viên giảng bằng tiếng



28



nước ngoài và có dịch thuật sang tiếng Việt). Và số môn học được giảng bằng

tiếng nước ngoài do giáo viên Việt Nam hay giáo viên nước ngoài phải được

quy định cụ thể trong hiệp định hoặc kế hoạch giảng dạy cụ thể hàng năm.

Người học được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên

khi kết thúc môn học, được tham gia đánh giá chất lượng đào tạo của trường

đại học trước khi tốt nghiệp.

Hoạt động dạy và học hiện nay được tổ chức hầu hết theo học chế tín chỉ

theo quy chế của trường cấp bằng. Tuy vậy, để phù hợp với hoàn cảnh thực

tiễn về thời gian các giảng viên nước ngoài sang công tác, địa điểm tổ chức

đào tạo… thì công tác tổ chức giảng dạy và học tập phải hết sức linh hoạt.

Sinh viên rất khó chọn lựa các học phần mà thường phải học các học phần

được thiết kế sẵn. Hoặc các môn học không được tổ chức kéo dài trong suốt

cả kỳ mà được bố trí học liên tục trong thời gian ngắn….Do vậy hoạt động tổ

chức dạy và học của các chương trình liên kết đào tạo quốc tế thường được tổ

chức theo hình thức niên chế áp dụng nguyên tắc tín chỉ.

1.4.6 Tổ chức quá trình kiểm tra, đánh giá của chương trình liên kết

đào tạo quốc tế.

Như luận văn đã phân tích ở mục 1.5.1.5, các môn học thường được tổ

chức trong thời gian ngắn và liên tục do vậy hình thức kiểm tra, đánh giá cũng

phải phù hợp với điều kiện thực tế đó. Không thể lấy phương pháp kiểm tra,

đánh giá của học chế tín chỉ chuẩn để áp dụng trong các chương trình liên kết

đào tạo quốc tế. Quá trình kiểm tra, đánh giá thường được tổ chức sau khi kết

thúc môn học thông qua bài kiểm tra, tiểu luận, bài thực hành hoặc có các hình

thức đánh giá theo tiêu chí của từng trường đại học cụ thể…. Song tựu chung

các phương pháp và quy trình kiểm tra đánh giá này phải được tổ chức đa dạng

hoá, đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp với

từng hình thức đào tạo liên kết quốc tế và phải đánh giá được mức độ tích luỹ

của người học về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và năng lực phát



29



hiện, giải quyết vấn đề.

Các chương trình liên kết đào tạo quốc tế có kế hoạch đánh giá chất

lượng đào tạo đối với người học sau khi ra trường và kế hoạch điều chỉnh

hoạt động đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của xã hội.

1.4.7 Hồ sơ học tập và công tác người học của các chương trình liên

kết đào tạo quốc tế

Hồ sơ học tập của người học trong các chương trình liên kết quốc tế

được lưu trữ đầy đủ, chính xác và an toàn. Hồ sơ cá nhân phải được dịch thuật

có công chứng bằng 2 ngôn ngữ: Tiếng Việt và tiếng nước ngoài mà chương

trình đó sử dụng làm ngôn ngữ giảng dạy. Hồ sơ học tập phải được cập nhật

trên hệ thống mạng thông tin giữa các trường liên kết và người học có thể truy

cập và biết được các thông tin bất cứ lúc nào. Chương trình liên kết đào tạo

quốc tế phải có cơ sở dữ liệu về tình hình sinh viên tốt nghiệp, tình hình việc

làm và thu nhập sau khi tốt nghiệp. Các dữ liệu này phải được bổ sung và cập

nhật thường xuyên làm cơ sở đánh giá hiệu quả và chất lượng của các chương

trình liên kết.

Sinh viên của các chương trình liên kết đào tạo quốc tế phải được được

hướng dẫn đầy đủ về chương trình giáo dục, kiểm tra đánh giá và các quy định

của trường Đại học Việt Nam và trường Đại học phía nước ngoài. Bộ chương

trình giảng dạy, quy chế đào tạo của chương trình liên kết phải được hướng dẫn

cụ thể trước khi thí sinh đăng ký tuyển sinh. Công tác sinh viên trong các

chương trình liên kết đào tạo quốc tế phải được thực hiện giống như công tác

sinh viên chính quy khác trong nhà trường.

1.4.8 Cơ sở vật chất của các chương trình liên kết đào tạo quốc tế

Ngoài các tiêu chí cơ bản về cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo bậc đại

học thì cơ sở vật chất phục vụ cho các chương trình liên kết đào tạo nói riêng

phải được tăng cường về chất lượng. Số lượng và chất lượng trang thiết bị,

phòng học, giảng đường lớn, phòng thực hành, thí nghiệm phục vụ cho dạy,



30



học và nghiên cứu khoa học phải đáp ứng tốt yêu cầu của từng ngành đào tạo.

Có đủ diện tích lớp học theo quy định cho việc dạy và học; có ký túc xá

cho người học, có trang thiết bị và sân bãi cho các hoạt động văn hoá, nghệ

thuật, thể dục thể thao….Có đủ phòng làm việc cho các cán bộ, giảng viên và

nhân viên phục vụ theo quy định. Có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ tài sản,

trật tự, an toàn cho cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên và người học.

Chương trình liên kết đào tạo quốc tế đòi hỏi các trang thiết bị máy tính

phải được nối mạng Interner, có các phương tiện viễn thông, liên lạc quốc tế

hiệu quả, có các phòng học E-Learning….để đạt được việc giao tiếp, liên lạc,

giảng dạy và học tập đạt được hiệu quả như mong muốn.

Tóm lại chương 1 luận văn đã tập trung nghiên cứu hệ thống và làm rõ

các vấn đề về chất lượng giáo dục đại học. Luận văn cũng làm rõ các thành tố

cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo liên kết quốc tế bậc cử nhân. Những

nội dung trên sẽ là cơ sở để đánh giá tình hình chất lượng và đảm bảo chất

lượng hệ đào tạo CNTH của trường Đại học Thương mại trong thời gian qua

và có các biện pháp nhằm quản lý tốt hơn các thành tố đó.



31



CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO

CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO HỆ CỬ NHÂN THỰC HÀNH

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THƢƠNG MẠI

2.1 Giới thiệu tổng quan về trƣờng Đại học Thƣơng mại và hoạt

động liên kết đào tạo quốc tế bậc cử nhân.

2.1.1 Tổng quan về trường Đại học Thương mại

Trường Đại học Thương mại (tên tiếng Anh là Vietnam University of

Commerce, tên giao dịch viết tắt là VCU) là trường đại học công lập thuộc hệ

thống giáo dục quốc dân nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trường

được thành lập năm 1960 với tên gọi trường Thương nghiệp Trung ương.

Năm 1965, trường được giao nhiệm vụ đào tạo đại học. Năm 1979, trường đổi

tên thành trường đại học Thương nghiệp. Năm 1994, trường đổi tên thành

trường đại học Thương mại.

Sứ mạng của Trường là: “Xây dựng trường Đại học Thương mại trở

thành một trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực có bản sắc thương mại với

phương pháp đào tạo và quản lý giáo dục tiên tiến, đạt chuẩn chất lượng cao

của quốc gia và tiếp cận đẳng cấp quốc tế; một “đại học hiệu” hàng đầu của

quốc gia, có uy tín quốc tế về kiến tạo tri thức và cung ứng giá trị thông qua

các dịch vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong các lĩnh

vực thương mại hiện đại, phù hợp và đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển

kinh tế - xã hội 2011-2020 của đất nước.” Trường chịu sự quản lý nhà nước

về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo; chịu sự quản lý về hành chính lãnh

thổ của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội.

Trường Đại học Thương mại có chức năng đào tạo cử nhân, thạc sĩ,

tiến sĩ các ngành/chuyên ngành đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo duyệt;

tổ chức nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng và chuyển giao công nghệ



32



trong các lĩnh vực thương mại (bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại

dịch vụ, thương mại các hoạt động đầu tư và sở hữu trí tuệ); xây dựng, phát

triển kết cấu hạ tầng Nhà trường, xây dựng đội ngũ, phát triển hợp tác quốc tế

và quản lý tài chính, tài sản tiến tới tự chủ về tài chính. Trường có nhiệm vụ

và quyền hạn như quy định tại Điều 5 của Điều lệ trường đại học.

Số cán bộ công chức toàn trường hiện có là 720 người. Trong đội ngũ

cán bộ, giảng viên có 06 nhà giáo ưu tú, 02 giáo sư, 36 Phó giáo sư, 72 tiến sĩ,

213 thạc sĩ, 02 giảng viên cao cấp, 133 giảng viên chính, 38 chuyên viên

chính. Nhiều cán bộ, giảng viên đã và đang học tập, nghiên cứu tại các nước

và vùng lãnh thổ như Nga, Anh, Ấn Độ, Nhật, Pháp, Hoa Kỳ, CHLB Đức,

Thụy Điển, Úc, Thái Lan, Indonesia, Đài Loan...

Hiện nay trường đang liên kết đào tạo với trên 30 trường đại học, cao

đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, sở giáo dục

và đào tạo ở các tỉnh, thành trong cả nước. Quy mô đào tạo của trường hiện

có trên 20.000 sinh viên, hàng trăm học viên cao học và hàng chục nghiên

cứu sinh.

Đến nay, trường đã cung cấp cho xã hội hàng chục nghìn cử nhân kinh

tế, trên 1000 Thạc sĩ, Tiến sĩ; bồi dưỡng nhiều cán bộ quản lý kinh tế cho

ngành Thương mại và các ngành khác, đã trực tiếp thực hiện và tham gia

nghiên cứu nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước, hàng trăm đề tài khoa học

cấp Bộ và hàng chục hợp đồng nghiên cứu với các cơ quan, doanh nghiệp

được Nhà nước, xã hội và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá ngày càng cao.

2.1.2 Khái quát các chương trình đào tạo quốc tế bậc cử nhân ở

trường Đại học Thương mại.

2.1.2.1 Khái quát các chương trình đào tạo quốc tế tại trường Đại học

Thương mại

Trường Đại học Thương mại là thành viên của Hiệp hội trường đại học

Việt Nam (VUZ), Hiệp hội các trường đại học Châu Á&Thái Bình Dương,



33



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

×