1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.77 MB, 88 trang )


- Nội dung: Phiêu khảo sát về mức độ cần thiết và khả thi của nhóm biện

pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo hệ CNTH của trường

Đại học Thương mại. Mức độ cần thiết gồm 3 mức độ: Rất cần thiết, cần

thiết, không cần thiết. Mức độ khả thi gồm 3 mức độ: Rất khả thi, khả thi,

không khả thi.

- Đối tƣợng khảo sát: Giảng viên, cán bộ quản lý tham gia giảng dạy hệ

CNTH, sinh viên CNTH đang được đào tạo.

- Kết quả khảo sát: Trong số 71 phiếu thu về gồm giảng viên: 29 (trong

đó có 7 cán bộ quản lý, 22 giảng viên tham gia giảng dạy), sinh viên: 42.

Số liệu khảo sát về mức độ cần thiết và khả thi của từng nhóm biện

pháp cho thấy:



83



TT



Nhóm biện pháp



Mức độ cần thiết

Rất CT Cần thiết Không CT



Mức độ khả thi

Rất KT

Khả thi Không KT



1 Nhóm biện pháp quản lý chương trình đào tạo



41



28



2



30



38



3



2 Nhóm biện pháp quản lý học liệu



19



42



10



29



39



2



3 Nhóm biện pháp quản lý công tác tuyển sinh



53



18



0



46



24



1



Nhóm biện pháp quản lý đội ngũ giảng dạy và

cán bộ phục vụ



40



30



1



32



38



1



5 Nhóm biện pháp quản lý hoạt động dạy và học



55



15



1



20



43



8



6



Nhóm biện pháp quản lý quá trình kiểm tra,

đánh giá



24



46



3



15



49



7



7



Nhóm biện pháp quản lý hồ sơ học tập và

công tác sinh viên



26



39



6



37



32



2



59



12



0



18



43



10



4



8 Nhóm biện pháp quản lý cơ sở vật chất



Bảng 3.1: Khảo sát về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ CNTH



84



1) Biện pháp quản lý chương trình đào tạo.

Có 69 phiếu đánh giá là rất cần thiết và cần thiết; 68 phiếu đánh giá

là khả thi và rất khả thi. Mức độ chênh lệch giữa tính cần thiết và khả thi

chỉ là 1 phiếu. Như vậy đại đa số các đối tượng khảo sát đều cho rằng

biện pháp quản lý chương trình đào tạo là cần thiết và có thể làm được.

2) Biện pháp quản lý học liệu.

Có 61 phiếu đánh giá là cần thiết và rất cần thiết; 68 phiếu đánh giá

là khả thi và rất khả thi. Mức độ chênh lệch giữa tính cần thiết và khả thi

là 7 phiếu nghiêng về tính khả thi. Như vậy là nhóm biện pháp quản lý

học liệu được đánh giá với tính khả thi cao song mức độ cần thiết thì

được đánh giá thấp hơn (86%). Các đối tượng đánh giá thấp biện pháp

quản lý học liệu chủ yếu là sinh viên. Điều này lưu ý cần phải đề cao ý

nghĩa, tầm quan trọng của nguồn học liệu cho sinh viên CNTH. Nếu

nguồn học liệu có thể cung cấp cho sinh viên CNTH một cách nhanh

chóng, thuận tiện, đầy đủ sẽ đảm bảo được việc tự học, tự nghiên cứu của

sinh viên đạt hiệu quả cao.

3) Biện pháp quản lý công tác tuyển sinh.

Có 53 phiếu đánh giá là rất cần thiết; 18 phiếu đánh giá cần thiết;

70 phiếu đánh giá khả thi và rất khả thi. Mức độ chênh lệch giữa tính cần

thiết và khả thi là 1. Kết quả này cho thấy biện pháp quản lý công tác

tuyển sinh cần phải được triển khai ngay trong thời gian tới và chắc chắn

sẽ thu hái được thành công trong việc nâng cao chất lượng và số lượng

đầu vào sinh viên CNTH.

4. Biện pháp quản lý đội ngũ giảng dạy và cán bộ phục vụ.

Có 70 phiếu đánh giá là cần thiết và rất cần thiết; 70 phiếu đánh giá

là khả thi và rất khả thi. Mức độ chênh lệch giữa tính cần thiết và tính khả

thi là 0 phiếu. Kết quả cho thấy biện pháp quản lý đội ngũ giảng dạy và

cán bộ phục vụ trong tương lai cần được thực hiện và nếu thực hiện thì sẽ

thành công.

85



5. Biện pháp quản lý hoạt động dạy và học.

Có 70 phiếu đánh giá là cần thiết và rất cần thiết; 63 phiếu đánh giá

là khả thi và rất khả thi. Mức độ chênh lệch giữa tính cần thiết và khả thi

là 7. Có lẽ công tác đổi mới phương pháp giảng dạy đã được khởi xướng

từ khá lâu trong ngành giáo dục và là cụm từ có thường xuyên trong các

văn bản chỉ đạo của nhà trường song hiệu quả thực tiễn thì còn nhiều hạn

chế. Do vậy khi triển khai biện pháp quản lý này cần lưu tâm tới sự nhận

thức chưa thông suốt, thói quen giảng dạy khó bỏ của 1 bộ phận giảng

viên, tính đồng bộ của biện pháp và cơ sở vật chất phục vụ dạy học.

6. Biện pháp quản lý quá trình kiểm tra, đánh giá.

Có 70 phiếu đánh giá là cần thiết và rất cần thiết; 64 phiếu đánh giá

là khả thi và rất khả thi. Mức độ chênh lệch là 6 phiếu nghiêng về không

khả thi. Khoa học quản lý đã chứng mình điều chỉnh và thay đổi tổ chức

tất yếu sẽ có những hành động chống lại sự thay đổi đó. 7 phiếu đánh giá

không khả thi phản ánh khi áp dụng các biện pháp quản lý quá trình kiểm

tra, đánh giá phải được ban hành dưới các quyết định, quy định, quy chế

có tính bắt buộc pháp lý cao để mọi đối tượng phải thực hiện.

7. Biện pháp quản lý hồ sơ học tập và công tác sinh viên.

Có 65 phiếu đánh giá là cần thiết và rất cần thiết; 69 phiếu đánh giá

là khả thi và rất khả thi. Mức độ chênh lệch là 4 phiếu nghiêng về không

cần thiết. Kết luận rút ra là cần nâng cao nhận thức, ý nghĩa, tầm quan

trọng công tác quản lý hồ sơ học tập và sinh viên trong việc đảm bảo chất

lượng đào tạo nhằm vận động và thu hút các đối tượng vào quá trình triển

khai các biện pháp này

8. Biện pháp quản lý cơ sở vật chất

Có 71 phiếu đánh giá cần thiết và rất cần thiết; 61 phiếu đánh giá

khả thi và rất khả thi. Mức độ chênh lệch là 10 nghiêng về không khả thi.

Khi triển khai biện pháp quản lý cơ sở vật chất và tăng cường trang thiết

bị, nhà trường cần phải lên kế hoạch cụ thể và tính toán trên cơ sở cân đối

nguồn thu tài chính để đảm bảo mức độ thành công

86



KẾT LUẬN

Hợp tác đào tạo quốc tế được Bộ Giáo dục & Đào tạo nói chung và

trường Đại học Thương mại xác định là một nhiệm vụ quan trọng để đổi

mới, phát triển giáo dục đại học Việt Nam và là một tiêu chí đánh giá chất

lượng giáo dục đại học nói chung.

Tính đến nay, đã có rất nhiều dự án, chương trình hợp tác quốc tế

về đào tạo được thực hiện tại trường Đại học Thương mại với nhiều

chuyên ngành hình thức liên kết đào tạo khác nhau mà nổi bật là hệ đào

tạo Cử nhân thực hành. Hệ đào tạo Cử nhân thực hành góp phần tạo ra

môi trường đào tạo quốc tế để cải thiện năng lực giảng dạy của giảng

viên, củng cố và phát huy vốn kiến thức ngoại ngữ, chuyên môn và

phương pháp sư phạm của họ nhằm đổi mới nội dung, phương pháp giảng

dạy, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo; đồng thời tạo động lực thúc

đẩy trường Đại học Thương mại tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị,

thu hút đầu tư của xã hội cho đào tạo trong nước, cung cấp cho xã hội

một lực lượng lao động có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của

xã hội, đẩy nhanh quá trình hội nhập của các trường đại học trong nước

với khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển theo quy mô, chất lượng và

hiệu quả giáo dục còn nhiều bất cập. Sự trăn trở, băn khoăn của xã hội nói

chung và trường Đại học Thương mại nói riêng về giáo dục nhiều nhất là

việc đầu tư của gia đình và xã hội sao cho hiệu quả. Nhằm giải quyết các

vấn đề đặt ra, luận văn đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản chất

lượng giáo dục đại học và các yếu tố đảm bảo chất lượng giáo dục liên

kết quốc tế bậc cử nhân; đi sâu vào phân tích đặc điểm, hình thức đào tạo

hệ CNTH và thực trạng của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

của hệ CNTH trường Đại học Thương mại thời gian qua. Trên cơ sở đó,

luận văn đã đưa ra những các biện pháp quản lý đảm bảo chất lượng đào

87



tạo hệ CNTH của trường Đại học Thương mại đó là: 1) Quản lý chương

trình đào tạo; 2) Quản lý học liệu; 3) Quản lý công tác tuyển sinh; 4)

Quản lý đội ngũ giảng dạy và cán bộ phục vụ; 5) Quản lý hoạt động dạy

và học; 6) Quản lý quá trình kiểm tra, đánh giá; 7) Quản lý hồ sơ học tập

và công tác sinh viên; 8) Quản lý cơ sở vật chất.

Luận văn cho rằng các biện pháp quản lý đã được đề xuất sẽ giúp

cho trường Đại học Thương mại khắc phục được các tồn tại và sẽ góp

phần tăng cường hiệu quả đào tạo hệ CNTH. Do vậy, hơn lúc nào hết, vai

trò của công tác đảm bảo chất lượng hệ CNTH của trường Đại học

Thương mại càng cần được tăng cường chặt chẽ theo các đề xuất, đảm

bảo quyền lợi chính đáng của người học và các bên tham gia chương trình

liên kết đào tạo.



88



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn về quan hệ quốc tế trong giáo

dục và đào tạo, Giáo dục, 2002

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới giáo dục đại học

Việt Nam hội nhập và thách thức, Lưu hành nội bộ, Hà Nội, 2003

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 43/2005/QĐ-BGDĐT ngày

15/8/2007 ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính qui

theo hệ thống tín chỉ, 2007

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01

tháng 11 năm 2007 Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất

lượng giáo dục trường đại học, 2007

5. Nguyễn Đức Chính. Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học.

Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2002.

6. Nguyễn Hoàng. Xây dựng quy trình chuẩn quản trị các dự án đào tạo

quốc tế hệ cử nhân thực hành (Vận dụng trong quản trị dự án Cử nhân

thực hành Tài chính - Ngân hàng đào tạo bằng tiếng Anh của trường Đại

học Thương mại), Dự án R&D cấp trường, 2010

7. Ngô Quang Hiền. Một số giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng

đào tạo của trường Đại học Thương mại theo tiếp cận mô hình kiểm định

chất lượng. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 2005

8. Trƣờng Đại học Thƣơng mại. Chiến lược và mô hình chiến lược phát

triển Nhà trường đến 2015, tầm nhìn 2020.

9. Vũ Cao Đàm. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (Xuất bản lần

thứ IX). Nhà xuất bản KH & KT, 2003

10. Kỷ yếu Hội thảo. Tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ của trường

Đại học Thương mại - Lộ trình và giải pháp. 2007



89



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

×