1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 111 trang )


Chƣơng 1.

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ



1.1. Quản lý và các chức năng quản lý

C.Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào

được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định của

quản lý ”[1, tr.23].



1.1.1. Quản lý

Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin khẳng định:“Quản lý xã hội một cách

khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay

những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận

dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó, nhằm đảm bảo cho

nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”.[1, tr.28]

Xã hội ngày càng phát triển, quản lý càng có vai trò hết sức quan trọng

trong việc điều khiển các hoạt động của xã hôi và khoa học quản lý, do đó là

nhu cầu tất yếu...Các nhà khoa học F.W.Taylor (1856-1915), H.Fayol (18411925), M.Weber (1864-1920)…là những người đặt nền móng cho lý luận

khoa học quản lý.

“Quản lý là tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý

(người quản lý, hay tổ chức quản lý) lên đối tượng quản lý về mặt chính trị,

văn hoá xã hội, kinh tế,.. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các

nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi

trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [dẫn theo 21, tr.7].

Từ đó, có thể hiểu:



5



- Quản lý là hoạt động có tính tổ chức, có định hướng theo những quy luật,

những nguyên tắc và những phương pháp cụ thể. Nhưng khi vận dụng lý

thuyết quản lý vào công việc cần được nghiên cứu trong sự kết hợp và tác

động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau, trong những điều kiện cụ thể của

đời sống xã hội.

- Chủ thể quản lý (người quản lý) và khách thể quản lý (người bị quản lý) có

sự tác động tương hỗ lẫn nhau. Chủ thể tạo ra các hoạt động quản lý, còn

khách thể thì tạo ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng

nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích quản lý của chủ thể.



1.1.2. Các chức năng cơ bản của quản lý.

Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí, quản lý

là hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá (planning); tổ chức

(organizing); lãnh đạo / chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (controlling).

- Chức năng lập kế hoạch: bao gồm việc xác định sứ mệnh, dự báo tương

lai của tổ chức trên cơ sở thu thập thông tin về thực trạng của tổ chức từ đó xác

định mục tiêu dựa trên việc tính toán các nguồn lực, các giải pháp. Đây là quá

trình xác định mục tiêu, xác định các bước đi để đạt được mục tiêu.

- Chức năng tổ chức: Là quá trình tổ chức sắp xếp, liên kết giữa các yếu tố

công việc – con người – bộ máy sao cho phù hợp ăn khớp với nhau cả trong nội bộ

từng yếu tố, nhằm lựa chọn phương án cụ thể, hợp lý các phương tiện vật chất (vật

tư, vốn, lao động, ...). Yếu tố trung tâm của tổ chức là con người.

- Chức năng lãnh đạo (chỉ huy): Là hoạt động dẫn dắt, điều khiển của

người quản lý đối với các hoạt động của các thành viên của tổ chức để đạt

được mục tiêu quản lý. Hoạt động lãnh đạo là khích lệ, động viên, tạo dựng

bầu không khí tâm lý tích cực trong đơn vị.

- Chức năng kiểm tra: là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý, bao

gồm các yếu tố cơ bản: Xem xét, thu thập thông tin ngược, đo lường và điều

6



chỉnh các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức. Để công tác kiểm tra đánh

giá chính xác, cần xây dựng các tiêu chí (chuẩn) để thực hiện kiểm tra đánh

giá.

Bên cạnh đó, trong mỗi chu trình quản lý, thông tin luôn là yếu tố xuyên

suốt trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết

định trong quản lý. Người quản lý phải luôn nắm bắt thông tin, xử lý thông tin

và tiến hành việc quản lý theo các chức năng trên đến mục tiêu cần đạt được. Cơ

sở thông tin chính là mạch máu của chu trình quản lý.

Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ người ta đã

khẳng định thông tin cũng là một chức năng của quản lý; hơn thế chức năng

này còn có tính chất hỗ trợ cho các chức năng khác.

Trong một chu trình quản lý cả năm chức năng trên có liên quan mật

thiết với nhau, phối hợp, bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa các chu trình

theo hướng phát triển. Có thể sơ đồ hoá chu trình quản lý như sau:



Sơ đồ 1.1: Quan hệ của các chức năng quản lý.

Lập kế

hoạch



Kiểm tra

đánh giá



Thông

tin



Tổ chức



Lãnh đạo,

chỉ đạo



7



1.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trƣờng

1.2.1. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục (QLGD) là quá trình thực hiện các tác động quản lý

trong lĩnh vực giáo dục. Để đạt được mục đích của giáo dục, quản lý được coi

là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế, mục đích giáo dục, cũng như

việc lựa chọn và thực thi các phương pháp, biện pháp giáo dục.

Khái niệm QLGD đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, có

thể điểm đến các khái niệm:

- QLGD là cách thức điều hành hệ thống giáo dục, nhất là các quy trình,

thủ tục, quy định, quy chế … và cách thức vận hành của hệ thống giáo dục,

tất cả các cấu phần hoạt động của hệ thống (UNESCO).

- QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy

luật của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý (hệ giáo dục, quá trình giáo

dục, người được giáo dục…) nhằm làm cho hệ vận hành tốt, tiến lên trạng

thái mới về chất nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đơn vị, của tổ

chức... mà tâm điểm hội tụ là quá trình giáo dục dạy học thế hệ trẻ [M.I.

K«n®ak«p, 35].

- QLGD (quản lý trường học nói riêng) là hệ thống những tác động có mục

đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm

cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện

được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm

hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu

dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn

Quốc Chí, 42, tr. 35].

Khi nói “Quản lý giáo dục”, cần xác định các cấp độ quản lý sau đây :

 Quản lý một hệ thống giáo dục

 Quản lý một cơ sở giáo dục- đào tạo(quản lý nhà trường)



8



 Quản lý một hoạt động (quá trình) giáo dục- dạy học (đào tạo)

Nội dung cơ bản của QLGD bao gồm:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chính

sách phát triển giáo dục.

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo

dục, ban hành các quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục.

- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn CSVC

và trang thiết bị trường học…

- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục.

- Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển giáo dục.

- Tổ chức chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng quản lý nhà giáo và cán bộ

QLGD.

- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh

vực giáo dục.

- Tổ chức quản lý quan hệ quốc tế về giáo dục.

- Tổ chức các hoạt động thi đua, khen thưởng và kỉ luật

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục, giải quyết

khiếu nại tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về giáo dục.

Tuỳ từng cấp độ, các nội dung cơ bản trên đây sẽ được quy định cụ thể

cho phù hợp phạm vi chức trách.



1.2.2. Quản lý nhà trường

1.2.2.1.Khái niệm “Quản lý nhà trường”

Nhà trường (trường học) là một loại tổ chức chuyên biệt trong xã hội, thực

hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của

xã hội bằng các con đường giáo dục cơ bản. Đó là tổ chức cơ sở trực tiếp làm

9



công tác giáo dục- đào tạo, thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ. Hoạt động

trung tâm của nhà trường là hoạt động dạy- học.

Giáo dục nhà trường là loại hình hoạt động giáo dục chuyên trách, có nội

dung chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do đội ngũ các nhà

sư phạm thực hiện; là nơi có môi trường giáo dục thuận lợi, với tập thể học sinh

cùng nhau học tập, rèn luyện.

Do đó, khi nói đến quản lý giáo dục phải nghĩ ngay đến quản lý nhà

trường, cũng như hệ thống các nhà trường. Nhiệm vụ cơ bản trung tâm của

QLGD trong nhà trường là quản lý các hoạt động giáo dục- dạy học. Mục tiêu

chất lượng giáo dục - dạy học cũng là mục đích cơ bản của quản lý nhà

trường nói riêng, của quản lý giáo dục nói chung.

Như vậy, Quản lý nhà trường (QLNT) chính là QLGD trong một phạm vi

xác định, đó là QLGD trong một đơn vị giáo dục (nhà trường); là vận dụng tất

cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường

theo mục tiêu đào tạo. Nhà trường vừa là khách thể chính của mọi cấp quản lý

từ trung ương đến địa phương, vừa là hệ thống độc lập trong xã hội, song

trước hết và cơ bản là chức trách của Ban lãnh đạo nhà trường.

Quản lý nhà trường là công tác chuyên biệt của Hiệu trưởng tổ chức thực

hiện đường lối giáo dục của Nhà nước trong phạm vi trách nhiệm của mình,

huy động các nguồn lực nhằm đảm bảo các hoạt động của nhà trường vận

hành theo nguyên lý giáo dục và đạt được các mục tiêu giáo dục, mục tiêu

phát triển của nhà trường .

QLNT có tính đặc thù, bởi được quy định bởi bản chất lao động sư phạm

của người giáo viên, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể

sáng tạo chủ động vừa là đối tượng quản lý . Sản phẩm của các hoạt động

trong nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình

học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội.



10



Trên cơ sở đó, ở nước ta có thể xác định: QLNT là một hệ thống hoạt

động có mục đích có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm

cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thể

hiện tính chất nhà trường XHCN, mà điểm hội tụ là hoạt động dạy học, giáo

dục thế hệ trẻ nói riêng và người học nói chung.

1.2.2.2. Nội dung quản lý nhà trường

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo [18, tr134], trong QLNT có 10 nhân tố

cơ bản và mối liên hệ tương tác của chúng.

+ Mục tiêu đào tạo



M)



+ Hình thức tổ chức đào tạo. (H)



+ Nội dung đào tạo (tri thức)



(N)



+ Điều kiện đào tạo.



(Đ)



+ Phương pháp đào tạo.



(P)



+ Môi trường đào tạo.



(Mô)



+ Lực lượng đào tạo (thầy).



(Th)



+ Quy chế đào tạo.



(Qi)



+ Đối tượng đào tạo (trò).



(Tr)



+ Bộ máy đào tạo.



(Bô)



Mô hình dưới đây có thể khái quát mối quan hệ của 10 nhân tố trên:

Sơ đồ 1.2. Các nhân tố cơ bản trong quản lý nhà trường.



M



H



Đ



Th



Tr

NT





Qi

N



P





11



Các nhân tố đó liên hệ tương tác với nhau và đều hướng vào trung tâm đó

là sự phát triển của nhà trường.

Từ đó, kết hợp với nội hàm của quản lý giáo dục (mục 1.2.1) giúp ta có

thể xác định nội dung cơ bản của quản lý nhà trường gồm:

- Quản lý Mục tiêu giáo dục, chương trình giáo dục và chất lượng giáo

dục thực hiện trong phạm vi nhà trường

- Quản lý các hoạt động dạy học, trong đó trung tâm là quản lý hoạt động

học tập của HS (hoạt động đào tạo và sản phẩm đào tạo) .

- Quản lý học sinh và quá trình giáo dục toàn diện HS.

- Quản lý phát triển đội ngũ cán bộ - giáo viên

- Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường và

công tác xã hội hoá giáo dục

- Quản lý CSVC, tài chính

- Quản lý việc kiểm tra- đánh giá...

Như vậy, quản lý nhà trường là một chuỗi hoạt động quản lý mang tính

tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến

các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho quá trình

giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tiến tới mục tiêu dự kiến.



1.2.3. Quản lý nhà trường Phổ thông DTNT

1.2.3.1. Đặc điểm của nhà trường Phổ thông DTNT

Đặc điểm của nhà trường Phổ thông DTNT (mục tiêu/ Nội dung chương

trình/ Đội ngũ GV/ CSVC/ Chế độ chính sách) được xác định theo Quyết định

số 2590/QĐ-GD&ĐT, ngày 14/8/1997 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, về tổ chức

và hoạt động của trường phổ thông Dân tộc nội trú, quy định một số điều:



12



 Mục tiêu đào tạo của trường PTDTNT (Theo Điều 2): chuẩn bị cho học



sinh sau khi học hết cấp ra trường có thể thích ứng nhanh chóng với sự phát

triển kinh tế-xã hội ở địa phương, cụ thể là:

- Học sinh phải được trang bị kiến thức để có hiểu biết về Tổ quốc, về

cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt nam, về nghĩa vụ và quyền lợi công dân,

về tinh thần làm chủ và nếp sống văn minh, về nền văn hoá vật chất và văn hoá

tinh thần của các dân tộc thiểu số, về những cuộc vận động lớn của Đảng và

Nhà nước đang tiến hành ở miền núi, vùng dân tộc.

- Học sinh phải được chuẩn bị để đạt được chuẩn kiến thức các môn học

ở các lớp như học sinh các trường phổ thông trong cả nước.

- Học sinh phải đợc rèn luyện hông qua các hoạt động trong và ngoài

nhà trường để sau khi ra trường có thể tham gia tổ chức và điều khiển các

hoạt động cải tạo và xây dựng xã hội trong cộng đồng các dân tộc ở địa

phương.

 Về Nội dung chương trình giảng dạy (Điều 13): giảng dạy, giáo dục



chủ yếu là nội dung chương trình sách giáo khoa của các trường phổ thông,

có diều chỉnh và bổ sung thêm những kiến thức về địa phương và về các dân

tộc thiểu số của Việt Nam. Hoạt động dạy và học của trường PTDTNT phải

hướng vào việc cải tiến nội dung phương pháp cho phù hợp với đặc điểm và

tính chất của trường. Trường PTDTNT được phép sử dụng một phần thời gian

ngoài giờ lên lớp để cùng cố, bổ sung, mở rộng kiến thức, bồi dưỡng học sinh

giỏi, phụ đạo học sinh kém.

 Về đội ngũ giáo viên các trường PTDTNT (Điều 25): ngoài chức trách



như mọi giáo viên khác, còn phải tích cực tìm hiểu tình hình thực tế ở các

vùng dân tộc nơi mình đang công tác, tôn trọng và bảo vệ quyền bình đẳng

giữa các dân tộc, thương yêu học sinh các dân tộc, có điều kiện và có khả

năng tham gia quản lý và giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp như hướng dẫn

và tổ chức học sinh tự học, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh kém, tổ

chức cho học sinh lao động sản xuất, vui chơi giải trí,...

13



 Về cơ sở vật chất: ngoài việc quy định chung về cơ sở vật chất chung



như đối với các trường phổ thông cùng cấp, trường phỏ thông DTNT phải có

đầy đủ các phòng ngủ, gường ngủ, đủ phòng ăn phù hợp, đủ các công trình vệ

sinh tối thiểu, tất cả đều phải sạch sẽ, thoáng mát, đủ diện tích theo quy định

chuẩn của Bộ GD&ĐT; Có đầy đủ các phòng để giúp các em sinh hoạt nội

trú, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, giải trí và các hoạt động

ngoài giờ lên lớp và đặc biệt là sinh hoạt cộng đồng bản sắc đặc thù của nhóm

các dân tộc thiểu sô.



Như vậy, các hoạt động giáo dục của trường PTDTNT phải nhằm mục

đích giáo dục cho học sinh tinh thần đoàn kết dân tộc, ý thức giữ gìn và phát

huy bản sắc văn hoá của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng và bảo vệ truyền

thống tốt đẹp của các dân tộc anh em, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,

tinh thần chịu khó học tập, nếp sống văn minh khoa học để sau khi ra trường

có thể tham gia quản lý lãnh đạo các hoạt động cải tạo và xây dựng quê

hương, cộng đồng.

1.2.3.2. Quản lý nhà trường PTDTNT

Quản lý nhà trường PTDTNT là quản lý một loại hình giáo dục phổ

thông đặc thù. Đó là quá trình giáo dục con em các dân tộc thiểu số theo chủ

trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, mà trọng tâm là quản lý hoạt động

học tập, ăn ở, sinh hoạt nội trú của học sinh trong môi trường giáo dục nội

trú, vừa đảm bảo đầy đủ các nội dung quản lý một trường nhà trường phổ

thông, vừa phải đảm bảo tính chuyên biệt của loại hình trường PTDTNT và

điều kiện đặc thù vùng khó khăn.

Để quản lý nhà trường PTDTNT, hiệu trưởng và phó hiệu trưởng các

trường PTDTNT phải nắm được chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước,

phải hiểu biết về phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc, phải có nhiệt

tình, năng lực và điều kiện làm công tác quản lý ở trường có học sinh nội trú.



14



- Quản lý các hoạt động của trường PTDTNT vừa phải đạt được các

mục tiêu giáo dục phổ thong, vừa nhằm mục đích giáo dục ý thức giữ gìn và

phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc để sau khi ra trường, HS của các trường

PTDTNT có thể tham gia các hoạt động cải tạo và xây dựng địa phương

mình.

Trường PTDTNT cấp huyện khác cơ bản với trường PTDTNT cấp tỉnh.

Do vậy, quản lý trường PTDTNT cấp huyện cũng gồm có 1 số khác biệt:

- Địa bàn tuyển sịnh và đối tượng giáo dục: Trường PTDTNT cấp

huyện chỉ tuyển HS là con em các dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú trên

địa bàn huyện đã tốt nghiệp (hoặc đã được công nhận học xong chương trình

tiểu học) và đào tạo học sinh bậc trung học cơ sở ( từ lớp 6 đến lớp 9 ).

- Nội dung và chương trình giảng dạy, về cơ bản là giống như nội dung

và chương trình sách giáo khoa phổ thông, nhưng khác cơ bản ở chỗ có bổ

sung, điều chỉnh và bổ sung thêm những kiến thức về địa phương (trong

huyện) và các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện.



1.3. Quản lý hoạt động dạy học trong trƣờng PTDTNT

1.3.1 Khái quát về hoạt động dạy học trong nhà trường

Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, con đường

quan trọng nhất là tổ chức dạy học. Theo Babansky “Chỉ có tác động qua lại

giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học. Nếu không có

sự tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó”.

Hoạt động dạy học đặc trưng của nhà trường, đó là hoạt động có tổ chức,

có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà giáo dục và có hoạt động tích cực, tự giác

của người học trong tất cả các loại hình hoạt động học tập.

Hoạt động dạy học là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng

thể, là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của con người trong đó có

hai hoạt động trung tâm là hoạt động dạy và hoạt động học.

15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

×