1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT TỈNH YÊN BÁI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.78 MB, 101 trang )


các tỉnh bạn dọc sông Hồng và các tỉnh bạn Vân Nam- Trung Quốc. Yên

Bái là một tỉnh có nguồn lực về Văn hoá du lịch như:

- Vùng du lịch sinh thái Thác Bà nằm trên tuyến sông Chảy thuộc hai

huyện Lục Yên và Yên Bình.

- Vùng kinh tế du lịch Mường Lò phía tây tỉnh Yên Bái thuộc địa

bàn huyện Văn Chấn; thị xã Nghĩa Lộ có cánh đồng Mường Lò, cánh đồng

Tú lệ, chè tuyết Suối giàng, dải núi Khau phạ dài 20 km.

- Di tích lịch sử nổi tiếng tham gia vào các hoạt động văn hoá du

lịch: Lăng mộ Nguyễn Thái Học, di tích Chiến khu vần, căng đồn Nghĩa lộ.

- 30 thành phần dân tộc phân bố ở khắp các huyện, thị, thành phố, Trong

đó 2 huyện Mù Cang Chải và Trạm Tấu có 98% dân số là dân tộc H’mông. Các

dân tộc thiểu số vẫn giữ nguyên bản và đậm màu sắc dân tộc mình. Các dịp lễ

hội lớn hàng năm của các dân tộc là dịp để khách thập phương đến với Yên Bái

tìm hiểu thưởng thức giá trị văn hoá đậm đà vùng cao.

- Nguồn nhân lực: Dân số 723.480 người

Nam 50,2% - Nữ 49,8%

Nông thôn 580.978 – Thành thị 142.502

Trình độ lao động nhìn chung là thấp. Tỉnh Yên Bái đã có chủ

trương “Chính sách phát triển nguồn nhân lực” trong đó chú trọng đầu tư

đào tạo nghề, đào tạo cán bộ đại học, cao đẳng và sau đại học đáp ứng nhu

cầu nhân lực.

Kinh tế: tỉnh Yên Bái hiện đang đứng thứ 7 về tốc độ tăng trưởng

kinh tế, đứng thứ 7 về thu nhập bình quân đầu người so với 10 tỉnh trong

vùng.

2.1.2. Tình hình giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái



29



Ngành Giáo dục - Đào tạo hiện nay đã phát triển thành một hệ thống.

Tỉnh Yên Bái tương đối hoàn chỉnh với các cấp học, bậc học từ mầm non,

phổ thông, các cơ sở dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng.

Trong 10 năm từ 1996 đến 2006 quy mô giáo dục và Đào tạo phát

triển ở tất cả các ngành học, bậc học. Năm 1997 tỉnh Yên Bái được công

nhận đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học – xoá mù chữ. Số liệu đến

tháng 9 năm 2006 có tổng số:

- 556 trường (gồm mầm non, phổ thông, chuyên nghiệp)

- 7.697 lớp – 247.189 học sinh – sinh viên

- 9.654 giáo viên trong biên chế

- 1.065 cán bộ quản lý hành chính

- 22 đơn vị trường giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề

- 15.165 học sinh, sinh viên

- 1 trường cao đẳng sư phạm

- 5 trường trung cấp chuyên nghiệp với 3.845 học sinh, sinh viên.

Bình quân 3,1 người dân có 1 người đi học. Một vạn dân có 2.348

học sinh phổ thông, 1 vạn dân có 207 học sinh Trung học chuyên nghiệp, 1

vạn dân có 57 học sinh, sinh viên Cao đẳng và có 48 sinh viên Đại học.

Ngân sách đầu tư cho đào tạo ở các cấp học của tỉnh Yên Bái gần

đây có sự ổn định. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đảm bảo nhiệm vụ

ngành, sẵn sàng đón nhận những cải cách về nội dung và phương pháp dạy

học trong bối cảnh mới. Phương hướng phát triển về giáo dục đào tạo của

tỉnh Yên Bái năm 2007: Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng giáo

dục đào tạo toàn diện. Duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập

giáo dục tiểu học – chống mù chữ, đẩy mạnh giáo dục phổ cập tiểu học

đúng độ tuổi, tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, tiếp

tục phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phấn đấu hoàn thành chương trình,



30



giáo trình theo kế hoạch. Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình giáo dục,

sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy ở các cấp học, bậc học. Triển

khai thực hiện chủ trương của Chính phủ quy định chế độ tự chủ về tài

chính áp dụng với các trường công lập có khả năng tự hạch toán chi phí,

trước hết là chi phí thường xuyên, gắn với chế độ. Tự chủ, tự chịu trách

nhiệm về sản phẩm đào tạo, tạo điều kiện cho các trường phát triển cả về

quy mô và chất lượng. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát

triển các trường dân lập, tư thục, chuyển một số trường công lập có đủ điều

kiện sang trường tư thục nhằm thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá, để hệ

thống trường này cùng với các trường công lập đáp ứng nhu cầu học tập

của xã hội.

2.1.3. Hoạt động văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái

Trước năm 1991 khi còn là tỉnh Hoàng Liên Sơn có 3 đoàn nghệ

thuật chuyên nghiệp: Đoàn kịch nói, Đoàn Nghệ thuật chèo, Đoàn ca múa

nhạc. Từ năm 1992 đến năm 2002 Yên Bái còn 02 Đoàn nghệ thuật: Đoàn

nghệ thuật chèo và Đoàn ca múa nhạc dân tộc. Từ tháng 2 năm 2002 đến

nay 2 đoàn sát nhập với tên gọi là Đoàn nghệ thuật Yên Bái. Diễn viên

Đoàn nghệ thuật Yên Bái ở nhiều độ tuổi khác nhau, nhiều diễn viên có quá

trình biểu diễn và thành đạt. Song, do rất nhiều năm không “thoát” ra được

cơ chế quan liêu bao cấp, nên hầu hết diễn viên (ca, múa, nhạc, chèo)

không được đào tạo cơ bản, chẳng hạn như diễn viên ca và nhạc nhưng lại

chưa được học qua xướng âm, nhạc lý, luyện thanh… làm hạn chế đến sự

phát triển của một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, sự đổi mới của đất nước

đưa đến việc thay đổi nhận thức, tư duy, phương pháp hoạt động của cán

bộ làm công tác văn hoá nghệ thuật. Những năm gần đây cán bộ văn hoá

làm công tác phong trào văn nghệ trên địa bàn tỉnh ngày một sôi nổi, nhưng

phương thức hoạt động thì hầu hết chưa được đáp ứng. Theo điều tra của

ngành Văn hoá Yên Bái, đến nay trên 80% cán bộ văn hoá – nghệ thuật



31



trong ngành chưa được bồi dưỡng về phương thức hoạt động. Tỷ lệ diễn

viên trẻ rất sôi nổi, hăng say trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật nhưng

chưa tiếp cận được với phong cách biểu diễn mới (kể cả nghệ thuật hiện đại

và nghệ thuật truyền thống). Hoạt động văn hoá nghệ thuật những năm qua

đã có những bước ngoặt đáng kể, ngành thường xuyên tổ chức hội diễn, lưu

diễn và đặc biệt ngành văn hoá đã tổ chức cho đội ngũ diễn viên được đi

biểu diễn giao lưu với các nước như Trung Quốc, Pháp và các tỉnh lân cận.

Hoạt động văn hoá nghệ thuật ở các địa phương cũng từng bước được chú

ý. Nhằm thực hiện xây dựng đời sống văn hoá Đài truyền thanh, truyền

hình Yên Bái kết hợp với Sở Văn hoá thông tin thường xuyên tổ chức cuộc

thi “Giọng hát hay trên sóng phát thanh truyền hình Yên Bái”. Năm 2006

tỉnh Yên Bái đề ra phương hướng tăng cường quản lý Nhà nước đối với các

dịch vụ văn hoá, văn nghệ thông tin, báo chí… thực hiện tốt phong trào Văn

hoá – Văn nghệ thông tin vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nâng cao chất lượng, thời lượng các chương trình phát thanh, truyền hình.

Đa dạng hoá các hình thức cung cấp thông tin với từng loại đối tượng sử

dụng thông tin. Tổ chức nhiều hoạt động văn hoá văn nghệ trên địa bàn toàn

tỉnh. Đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của

truyền thống văn hoá các dân tộc. Xây dựng nếp sống văn hoá là nhiệm vụ

của mọi người trong từng gia đình, đơn vị và toàn xã hội. Các tổ chức đoàn

thể chính trị, các cơ quan, đơn vị phải làm tốt công tác giáo dục mọi thành

viên của mình, trước hết là cán bộ Đảng viên gương mẫu đi đầu xây dựng

nếp sống văn hoá, phải tạo nếp sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật

một cách tự giác để tạo nền tảng cho sự hình thành các nét đẹp văn hoá khác.

2.2. Khái quát về trƣờng Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái

2.2.1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của trường Trung cấp Văn

hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái



32



Năm 1968 Ty Văn hoá – thông tin tỉnh Nghĩa Lộ (cũ) thành lập

Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ văn hoá thông tin Nghĩa Lộ.

Năm 1976 tỉnh Nghĩa Lộ sát nhập với các tỉnh Yên Bái, Lao Cai

thành lập tỉnh Hoàng Liên Sơn. Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ văn hoá thông tin

trở thành một bộ phận trực thuộc Phòng Nghiệp vụ Ty Văn hoá thông tin.

Ngày 17 tháng 7 năm 1985 Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn

ra Quyết định số 158/QĐ - UB khôi phục lại sự hoạt động của Trường Văn

hoá nghệ thuật Yên Bái.

Tháng 7 năm 1985 được xem là mốc tái lập trường, là khởi đầu của

nhà trường xây dựng và phát triển lâu dài.

Ngày 2 tháng 8 năm 1996 Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái ra Quyết

định số 111QĐ-UB nâng cấp thành Trường Trung học Văn hoá nghệ thuật

Yên Bái.

Hơn hai mươi năm thành lập, Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật

Yên Bái luôn nỗ lực phấn đấu, duy trì sự ổn định, từng bước đi lên, được

Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Văn hoá thông

tin đánh giá là một trường Trung cấp chuyên nghiệp văn hoá nghệ thuật

phát triển bền vững và sáng tạo, với những đặc điểm cơ bản sau:

- Đặc trưng về các chuyên ngành đào tạo: đào tạo các hệ Trung cấp,

Cao đẳng gồm các chuyên ngành Nhạc cụ phương tây, Thanh nhạc, Nhạc

cụ dân tộc, Sư phạm Nhạc- hoạ, Quản lý văn hoá, Nghệ thuật Múa.

- Đối tượng đào tạo (còn gọi là học sinh): học sinh của trường nghệ

thuật hầu hết có năng khiếu về âm nhạc, về hội hoạ. Tất cả các em đều

được tuyển một cách rất kỹ lưỡng, các em phải qua nhiều bước tuyển sinh:

sơ tuyển, trúng tuyển.

- Giáo viên: là những người được trang bị về kiến thức âm nhạc, hội

hoạ, quản lý văn hoá… kỹ năng sư phạm, kỹ năng thực hành, kỹ năng biểu



33



diễn, kỹ năng múa… có khả năng tự học, có năng lực sáng tạo nghệ thuật,

có năng khiếu nghệ thuật.

- Phương pháp giảng dạy: giảng dạy ở trường nghệ thuật mang tính

chuyên biệt. Giáo viên phải làm mẫu cho học sinh, phải kiên trì truyền thụ,

phải biết thể hiện tình cảm khi giảng dạy ở mỗi ca khúc hoặc bản nhạc.

- Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy

trong các trường nghệ thuật đòi hỏi có nhiều loại nhạc cụ, các thiết bị về

âm thanh, phòng tập phải được cách âm và nhiều thiết bị khác cần được

đầu tư thích đáng để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

2.2.2. Cơ cấu tổ chức của Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh

Yên Bái

Xuất phát từ quan điểm và nhận thức đúng đắn của nhà trường về

công tác đào tạo. Trong những năm qua nhà trường đã mở rộng ngành nghề

đào tạo. Đến nay nhà trường đã đào tạo cho tỉnh Yên Bái 100% cán bộ

quản lý văn hoá xã - phường có trình độ trung cấp cao, đang xúc tiến đào

tạo lên bậc Đại học quản lý văn hoá cấp xã, đào tạo cao đẳng nghệ thuật,

nhà trường đã liên kết với các trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Trường Đại

học Nghệ thuật Hà Nội, Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội…

Nhà trường đã đào tạo lực lượng cán bộ có trình độ kiến thức nghiệp

vụ văn hoá thông tin, diễn viên nghệ thuật, giáo viên sư phạm Âm nhạc –

Mỹ thuật, hướng dẫn viên du lịch và các nghệ sĩ cho địa phương Yên Bái

và các tỉnh bạn.

Cơ cấu tổ chức của nhà trường:

Tổng số cán bộ, giáo viên: 35 (Giáo viên: 25; Cán bộ hành chính:

10)

a- Quản lý điều hành:

- Chi uỷ: 5 đồng chí (chi bộ 21 Đảng viên)



34



- Ban giám hiệu: 03 ( 01 hiệu trưởng; 02 hiệu phó)

- Ban chấp hành Công đoàn: 05 ( 35 đoàn viên công đoàn)

- Ban chấp hành Liên chi đoàn: 12 (340 đoàn viên)

b- Phòng, khoa chuyên môn:

- Phòng Đào tạo

- Phòng hành chính tổ chức quản trị

- Khoa Âm nhạc

- Khoa Thanh nhạc

- Khoa Nghệ thuật múa

- Khoa Mỹ thuật

- Khoa Nghiệp vụ Văn hoá

- Khoa bộ môn chung

Cơ cấu tổ chức của trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên

Bái được biểu thị bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức trƣờng TC Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái

Phòng Đào tạo



Phòng Tổ chức hành chính



Khoa âm nhạc

Ban

Giám

hiệu



Khoa nghiệp vụ văn hoá



Khoa Mỹ thuật



Khoa Bộ môn chung

35



Khoa Thanh nhạc



Nhiệm vụ của các phòng khoa:

- Phòng Đào tạo:

+ Xây dựng kế hoạch học tập – quản lý toàn bộ công tác đào tạo của

nhà trường như: chương trình khung, kế hoạch thực hiện chương trình cụ

thể của từng chuyên ngành, theo dõi tiến độ chương trình, kiểm tra đôn đốc

việc lên lớp của giáo viên, giảng viên, theo dõi kiểm tra giờ giấc học tập và

lên lớp của học sinh, sinh viên toàn trường. Cùng với Ban Giám hiệu nhà

trường tổ chức thi tuyển sinh đầu vào, thi tốt nghiệp ra trường cho các học

sinh, sinh viên có đủ điều kiện. Tổ chức kiểm tra giữa kỳ đối với học sinh

trung học, kiểm tra điều kiện đối với sinh viên cao đẳng. Làm các thủ tục

và tổ chức cho học sinh thi lại, học lại. Là đơn vị chuẩn bị phôi bằng tốt

nghiệp cho học sinh, sinh viên.

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên,

giảng viên trong từng học kỳ, từng năm học.

+ Kết hợp với các phòng chức năng như Phòng Quản lý học sinh,

sinh viên, Phòng Hành chính tổng hợp, phòng tổ chức… theo dõi quá trình

học tập và rèn luyện mọi mặt của học sinh, sinh viên trong toàn trường.

+ Cùng với chủ nhiệm các khoa, có kế hoạch mời cộng tác viên là

các giáo viên, giảng viên và cộng tác viên đã hoàn thành tiến độ giảng dạy

để phòng tài vụ có cơ sở thanh toán tiền giờ cho các cộng tác viên và trả

tiền năng suất vượt giờ cho các giáo viên, giảng viên trong trường.



36



- Phòng Hành chính tổ chức quản trị:

+ Quản lý nhân sự bao gồm số lượng cán bộ, giáo viên. Quản lý hồ

sơ để tuyển chọn cán bộ, giáo viên có nguyện vọng vào công tác tại trường.

Quản lý hồ sơ của cán bộ, giáo viên đã đến tuổi nghỉ hưu và các chế độ

chính sách xã hội khác. Quản lý số lượng học sinh, sinh viên đã trúng tuyển

vào trường.

+ Chịu trách nhiệm về cơ sở vật chất, các thiết bị phục vụ giảng dạy

như mua sắm nhạc cụ, âm thanh, mẫu vẽ, phòng lớp, bàn ghế… và các

công việc hành chính quản trị khác phục vụ cho hoạt động giảng dạy và các

hoạt động khác của nhà trường.

+ Phòng tài vụ xây dựng các kế hoạch chi tiêu trong toàn trường;

chuẩn bị tiền lương, tiền giờ cho các giáo viên giảng dạy, các cộng tác

viên; là nơi cấp phát học bổng và thu học phí cho học sinh, sinh viên.

Các phòng ban là các đơn vị hỗ trợ cùng Ban giám hiệu nhà trường

thực hiện tốt các nhiệm chính trị theo phương hướng của Chi Bộ Đảng đề

ra. Mỗi khoa có những đặc điểm và chuyên môn khác nhau, nhưng đều

thực hiện một nhiệm vụ chung là đào tạo và đáp ứng các nhu cầu về cán bộ

văn hoá nghệ thuật cho tỉnh Yên Bái.

Ngoài các phòng, ban chuyên môn đã nêu trên, nhà trường còn có

các tổ chức phụ trợ sau:

- Ban bồi dưỡng tạo nguồn

- Ban vì sự tiến bộ phụ nữ

- Ban công tác học sinh sinh viên

- Hội khuyến học

- Câu lạc bộ thể chất

- Câu lạc bộ văn hoá nghệ thuật

2.2.3. Cơ sở vật chất của trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái

37



- Diện tích 7000m2

- Phòng học 27 phòng với tổng diện tích 1.800 m2 trong đó 80% xây

dựng kiên cố và 20% bán kiên cố. Những phòng học bán kiên cố chủ yếu

phục vụ cho học thực hành của các môn chuyên ngành Mỹ thuật (xưởng

vẽ), Âm nhạc, thanh nhạc (phòng học cá nhân, giảm âm). Các phòng học

tập thể đều có đủ điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy

của giáo viên và học tập của học sinh.

- Sân chơi bãi tập khoảng 3000m2 hiện được sử dụng là nơi học các

môn thể chất, giáo dục quốc phòng, sinh hoạt câu lạc bộ thể thao.

- Khu Hiệu bộ 2 tầng diện tích 800m2

- Phòng làm việc chuyên môn gồm 01 phòng đào tạo và 6 khoa

chuyên môn, tổng diện tích 300m2

- Thư viện, phòng tin học, phòng sinh hoạt văn hoá là nơi cho học

sinh cập nhật thông tin hàng ngày, vừa là nơi cho học sinh thực hành các

giờ chuyên ngành.

Về phương tiện dạy học: năm học 2006- 2007 nhà trường bổ sung 01

máy in kẽm phục vụ cho chuyên ngành Mỹ thuật. Các phương tiện khác

như đàn Piano, Organ, Ghita, các loại nhạc cụ phương tây, nhạc cụ dân tộc

cũng có nhưng chưa đủ về số lượng và chất lượng. Giáo trình, tài liệu giảng

dạy từ năm 2002 nhà trường đã đảm nhiệm 30% việc soạn thảo các môn

chuyên ngành bậc Trung cấp, phù hợp với đặc thù miền núi. Từ năm 2005

bắt đầu đi vào soạn thảo giáo trình theo đề cương chương trình khung của

Bộ Văn hoá thông tin.

Sau hơn 20 năm tái lập trường (1985-2007) Trường Trung cấp

Văn hoá nghệ thuật Yên Bái đã nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu

kế hoạch và trưởng thành toàn diện. Đến nay nhiều khoá học sinh - sinh

viên học tại Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái đã tốt



38



nghiệp hoặc đang học đều đạt hiệu quả về chất lượng chuyên môn, có tư

chất cán bộ văn hoá - giáo dục đáp ứng từng bước nhu cầu hoạt động văn

hoá tinh thần cho tỉnh Yên Bái và cho vùng Tây Bắc. Nhà trường đã

được Bộ Văn hoá thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá cao về

phương pháp tổ chức đào tạo thích ứng với xu thế đổi mới. Từ năm 2000

đến nay nhà trường liên tục nhận bằng khen của Bộ Văn hoá thông tin,

Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cờ thi đua của

Bộ Văn hoá thông tin, của Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí

Minh, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Trường Trung cấp Văn hoá

nghệ thuật tỉnh Yên Bái đã không ngừng phấn đấu vươn lên, trở thành

trường Cao đẳng đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân tỉnh

Yên Bái cũng như các tỉnh bạn trong khu vực.

2.3. Thực trạng công tác đào tạo ở trƣờng Trung cấp văn hoá nghệ thuật

tỉnh Yên Bái

2.3.1. Sự phát triển của các chuyên ngành đào tạo

Ngay sau khi nâng cấp thành trường Trung cấp chuyên nghiệp đến

nay, trước xu thế phát triển của sự nghiệp Văn hoá thông tin tỉnh Yên

Bái, ngày càng đòi hỏi nhà trường phải biết nắm lấy cơ hội và mở rộng

ngành nghề đào tạo.

- Đào tạo cán bộ quản lý nghiệp vụ văn hoá, cán bộ thông tin tuyên

truyền cơ sở cho tỉnh Yên Bái và liên kết đào tạo cho tỉnh bạn như Lào Cai, Hà

Giang.

- Đào tạo diễn viên các loại hình nghệ thuật mà trọng tâm là nghệ

thuật âm nhạc dân tộc, múa dân gian, hát dân ca, hội hoạ đặc trưng miền

núi.

- Đào tạo giáo viên sư phạm Nhạc- hoạ ở bậc Trung cấp, Cao đẳng

chính quy. Liên kết đào tạo các ngành nghề ở bậc Trung cấp, Cao đẳng,



39



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

×