1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.65 MB, 140 trang )


CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC

1.1. Sự ra đời của khoa học quản lý – xu hƣớng tất yếu của xã hội

Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con ngƣời, xét

từ những phạm vi cá nhân, tập đoàn, đến quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Đây

cũng là một hoạt động có ý nghĩa quyết định, mang tính sống còn của các chủ

thể tham dự vào hoạt động xã hội và nhân loại. Quản lý đúng, dẫn đến thành

công, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững; còn quản lý sai sẽ dẫn đến thất

bại, suy thoái, lệ thuộc và đổ vỡ.

Nhà xã hội không tƣởng ngƣời Anh là Robert OWen (1771 – 1858 ), là

một trong những ngƣời tiên phong trong việc nhận ra tầm quan trọng của

nguồn nhân lực. Quan điểm quản lý của ông mặc dù còn đơn giản nhƣng đã

bƣớc đầu chuẩn bị cho sự ra đời một bộ môn khoa học quản lý độc lập.

Andrew Ure (1778-1857) là ngƣời đã sớm nhìn thấy vai trò của quản lý

và việc đào tạo kiến thức cho nhà quản lý. Ông cho rằng quản lý là một nghề.

Charler Babbage (1792-1871) là ngƣời đầu tiên đề xuất phƣơng pháp

tiếp cận có khoa học trong quản lý và ông cũng là ngƣời có đóng góp tích cực

trong việc đƣa quản lý thành một bộ môn khoa học độc lập.

Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) xuất hiện trong

cuốn sách “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principes of Scientific

Management) của Frederick Winlow Taylor (1856 - 1915) xuất bản năm

1911. F.W. Taylor đƣợc coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học với các

nguyên tắc cơ bản của quản lý khoa học.

Trong thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, trƣớc những biến đổi sâu sắc về

kinh tế, xã hội, một thuyết khác trong quản lý đã xuất hiện; đó là quan điểm

về hành vi (quan điểm hệ con ngƣời). Học thuyết này giúp ngƣời quản lý ứng

xử có hiệu quả hơn với những khía cạnh con ngƣời và khía cạnh nhân bản

trong một tổ chức. Thay vì quá chú trọng đến chức năng của ngƣời quản lý,



6



thuyết này gắng hƣớng dẫn cách ngƣời quản lý thực hiện cái họ phải làm, tức

là họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hƣớng dẫn ngƣời dƣới quyền và giao tiếp

tốt với những ngƣời dƣới quyền.

Trong các giai đoạn từ thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay, các nhà

quản lý phƣơng Tây, tiêu biểu là P.Drucker đại diện khởi đầu cho trƣờng phái

hệ thống, xây dựng nhiều lý thuyết quản lý hiện đại và để tiếp tục sau đó,

ngƣời ta đƣa vào sử dụng các thành quả của toán kinh tế (quy hoạch toán, xác

xuất thống kê, điều tra xã hội học…) và tin học trong quản lý, đƣa ra các

thành quả vƣợt bậc trong quản lý; đƣa ra các dự báo chính xác hơn, các

phƣơng án tối ƣu hơn và đƣợc tính toán chặt chẽ và nhanh chóng hơn.

1.2. Lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục

Cho đến những năm cuối của thập kỷ 80, trong các sách báo khoa học

về tâm lý học sƣ phạm, về giáo dục học, "quản lý giáo dục" vẫn còn đƣợc

xem nhƣ một bộ phận của "giáo dục học". Khi Viện sĩ Kôn- đa- cốp hoàn

thành công trình nghiên cứu đồ sộ của mình về quản lý giáo dục ở Liên xô

(cũ) vào năm 1982, ông cũng rất khiêm tốn đặt cho nó cái tên "Những cơ sở

lý luận của quản lý nhà trƣờng". Các giáo sƣ Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt

khi biên soạn sách giáo khoa "Giáo dục học" năm 1987, cũng có cách tiếp cận

tƣơng tự đối với quản lý giáo dục. Trong chuyên luận "Sáng tạo một nhà

trƣờng xuất sắc" xuất bản năm 1989, các học giả H. Bear, B. Caldwell và R.

Millikan vẫn khẳng định rằng quản lý giáo dục nhƣ là một sự "ánh xạ" các ý

tƣởng quản lý kinh tế, quản lý xã hội vào hoạt động giáo dục với sự hoà trộn

các tri thức tâm lý học, xã hội học và giáo dục học.

Kể từ cuối thế kỷ XIX, thực tiễn quản lý giáo dục đã đƣợc "pháp điển"

hoá đến mức độ cao bằng sự ra đời của các bộ luật giáo dục từ Tây sang

Đông, với Pháp và Nhật bản là những điển hình. Trong hơn một thế kỷ qua,

giáo dục trên toàn cầu đã tiến dài gấp nhiều lần toàn bộ lịch sử loài ngƣời

cộng lại. Giáo dục cơ bản đã phổ cập ở khắp nơi trên địa cầu, từ những quốc

gia giầu có nhất cho đến những nơi còn phải sống dƣới ngƣỡng nghèo khó.



7



Thời gian gần đây, các dịch giả và những nhà nghiên cứu khoa học

quản lý giáo dục ở Việt Nam đã dịch thành công và giới thiệu nhiều công

trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phƣơng tây về quản lý giáo dục,

trong số đó có các công trình: “Hành vi tổ chức giáo dục” (Organnization

Behavior in Education) của Robert J. Owens (1995), “Quản lý giáo dục, lý

thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” (Educational Administration - Theory,

Resarch and Practice) của Wayne.K Hoy, Cecil G. Míkel (1996)

Hội nghị cấp cao toàn cầu về “Giáo dục cho mọi ngƣời” ở Jomtiem Thái Lan (tháng 3/1990) đã khẳng định vai trò của giáo dục và đề ra “chƣơng

trình hành động” trên toàn thế giới về giáo dục cơ bản cho mọi ngƣời. Nhƣ

vậy, cả lý thuyết và thực tiễn đều đã song hành thúc đẩy để “Quản lý giáo

dục” có quy mô toàn cầu và biểu thị một sự thật về sự tồn tại có tính toàn cầu

của “Thực tiễn quản lý giáo dục”

1.3. Khái quát những nghiên cứu quản lý giáo dục ở Việt Nam

1.3.1. Quản lý giáo dục ở Việt Nam

Từ ngày đầu lập quốc đến nay, Đảng và Nhà nƣớc ta đã không ngừng

quan tâm đến thực tiễn quản lý giáo dục với mức độ cao, và ngày càng sâu

sắc, toàn diện hơn. Từ "Thƣ gửi các em học sinh nhân ngày khai trƣờng" vào

tháng 9 năm 1945 của Bác Hồ - nhƣ một "chỉ thị nhiệm vụ năm học mới" ở

cấp lãnh đạo cao nhất của đất nƣớc, đến nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng

Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ 2 (khoá VIII), tháng 12 năm 1996, về giáo

dục và đào tạo; Đảng và Nhà nƣớc ta đã tiến hành trên thực tiễn hoạt động

"quản lý giáo dục" liên tục trong hơn nửa thế kỷ.

Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã

hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nƣớc ta coi “giáo dục thực sự là quốc sách hàng

đầu”, Có nhiều văn bản chỉ đạo quản lý và phát triển đội ngũ nhà giáo nhƣ:

- Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Chính phủ về

việc phê duyệt Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001 – 2010;



8



- Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thƣ về việc xây

dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục và

đào tạo;

- Quyết định số 09/2005/QĐ – TTg ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt

Đề án Xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo

dục giai đoạn 2005 – 2010;

1.3.2. Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục

Vào những năm 70 - 80 thế kỉ XX, ở nƣớc ta đã có một số nhà giáo dục

nhƣ. Hà Thế Ngữ, Nguyễn Lân, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm

Minh Hạc có những bài viết và những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này.

Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu đã có các nhà khoa học nhƣ: PGS.TS. Đặng

Quốc Bảo, PGS.TS. Nguyễn Quốc Chí, GS.TS Nguyễn Đức Chính, PGS.TS.

Trần Khánh Đức, GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, PGS.TS. Đặng Bá Lãm…

Trong những năm gần đây ở nƣớc ta, việc nghiên cứu về phát triển và quản lý

nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đã đƣợc quan tâm đặc biệt; trong đó

có những nghiên cứu của Đặng Ứng Vận về “Công tác quản lý chất lƣợng

giáo dục” (2004); Nguyễn Thị Hồng Yến về “Vấn đề đào tạo và phát triển

nguồn nhân lực cho giáo dục hoà nhập ở Việt Nam” (2005).

Khái quát trên về những công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc

liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu của luận văn cho thấy nhiều nghiên cứu

đã đi sâu giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục,

quản lý nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, với chủ trƣơng xã hội hóa giáo dục,

hình thức trƣờng đại học tƣ thục đƣợc ra đời, nhƣng những nghiên cứu về

biện pháp quản lý và phát triển cũng nhƣ các vấn đề liên quan đến ĐNGV của

hệ thống giáo dục ngoài công lập vẫn còn rất ít và chƣa hệ thống. Việc nghiên

cứu đề tài “Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trƣờng đại học Thành

Đô” mong muốn có những đóng góp nhất định trong công tác quản lý giáo

dục ngoài công lập và là sự tổng kết thực tiễn giúp Nhà trƣờng nâng cao hơn

nữa hiệu quả quản lý ĐNGV.



9



1.4. Một số khái niệm cơ bản

1.4.1. Quản lý

Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào

tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều cần đến một sự chỉ đạo để

tiến hành các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung phát sinh

từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của những khí quan

độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, nhƣng

một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng.”[26]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động

quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời

quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm

làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức”.[5]

Để hoạt động quản lý đạt đƣợc hiệu quả cao thì quá trình quản lý không

thể thiếu các phƣơng pháp tác động vào đối tƣợng quản lý. Mỗi phƣơng pháp

có sự tác động riêng tới từng mặt của ngƣời lao động. Do đó, không có biện

pháp nào là chìa khoá vàng để quản lý tốt tất cả các hoạt động của tổ chức.

Chủ thể quản lý không nên tuyệt đối hóa một phƣơng pháp, mà phải biết kết

hợp để phát huy hết những ƣu điểm của từng phƣơng pháp và khắc phục

những mặt hạn chế.

Các khái niệm quản lý trên có những dấu hiệu chủ yếu sau:

- Đối tƣợng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh, giống

nhƣ một cơ thể sống. Nó đƣợc cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theo

một quy luật nhất định; phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh khách quan.

- Hệ thống quản lý gồm hai phân hệ. Đó là sự liên kết hữu cơ giữa chủ

thể quản lý và khách thể quản lý.

- Tác động quản lý thƣờng mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác động

quản lý gồm nhiều giải pháp khác nhau, thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng tổng

hợp của một cơ chế quản lý.



10



- Cơ sở của quản lý là các quy luật khách quan và điều kiện thực tiễn

của môi trƣờng. Quản lý phải gắn liền và phải phù hợp với quy luật.



Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý

1.4.2. Quản lý giáo dục

Cũng nhƣ quản lý xã hội, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của

con ngƣời nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Nói đến quản lý giáo

dục là nói đến quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội:

“Quản lý giáo dục là việc đảm bảo sự hoạt động của tổ chức trong điều

kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống giáo dục và môi trƣờng, là chuyển hệ

thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới.” [5]

“Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý giáo dục

nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,...một cách có hiệu

quả các nguồn lực giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng

yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.” [16]

Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí thì: “Quản lý giáo dục là

hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp

quản lý giáo dục tác động tới toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ

thống đạt đƣợc mục tiêu của nó.”[5]

Khái niệm về quản lý giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau, nhƣng

cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung, bản chất, dù ở cấp vĩ mô hay vi

mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố cơ bản của quản lý giáo dục, đó là: chủ thể

quản lý tác động đến đối tƣợng quản lý và khách thể quản lý (thông qua việc



11



thực hiện các chức năng quản lý bằng những công cụ và phƣơng pháp) nhằm

đạt đƣợc mục tiêu quản lý. Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau:



Sơ đồ 1.2: Sơ đồ khái niệm quản lý giáo dục



- Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục;

- Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trƣờng học;

- Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa ngƣời học và ngƣời

dạy; quan hệ giữa ngƣời quản lý với ngƣời dạy, ngƣời học; quan hệ giữa báo

giới - cộng đồng… Các mối quan hệ đó có ảnh hƣởng đến chất lƣợng đào tạo,

chất lƣợng hoạt động của nhà trƣờng, của toàn bộ hệ thống giáo dục.

Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây dựng và

chỉ đạo thực hiện chiến lƣợc: Quy hoạch; kế hoạch; chính sách phát triển giáo

dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục,

tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trƣờng học; tổ chức bộ

máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo bồi dƣỡng cán bộ quản lý,

giáo viên; huy động quản lý sử dụng các nguồn lực…

Cũng nhƣ các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, quản lý giáo dục có

hai chức năng tổng quát sau:

- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện

hành của nền kinh tế - xã hội



12



- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh

tế - xã hội.

* Quản lý nhà nƣớc về giáo dục

Nhà nƣớc quản lý mọi hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục. Quản

lý về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật đƣợc thể chế hoá bằng

pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý từ trung

ƣơng đến tỉnh – thành và quận - huyện để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết

quả cuối cùng là chất lƣợng và hiệu quả đào tạo. Bộ máy quản lý giáo dục ở

các cấp từ Trung ƣơng đến cơ sở đảm bảo thống nhất quản lý theo ngành và

theo lãnh thổ;

Quản lý nhà nƣớc về giáo dục là một loại hình hoạt động. Tuy chuyên

biệt nhƣng ảnh hƣởng đến toàn xã hội. Mọi quyết định, thay đổi của giáo dục

đều có ảnh hƣởng đến đời sống xã hội.

1.4.3. Quản lý Nhà trƣờng

Nhà trƣờng là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ

thống Giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của

nhà trƣờng. Mọi hoạt động đa dạng, phức tạp khác đều hƣớng vào hoạt động

trung tâm này.

Tác giả Phạm Minh Hạc đã quan niệm nhƣ sau: “Quản lý nhà trƣờng là

thực hiện đƣờng lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,

tức là đƣa nhà trƣờng vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu

giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng

học sinh” [ 12 ]

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Trƣờng học là một thiết chế xã hội

trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tƣơng tác của hai

nhân tố Thầy – trò. Trƣờng học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng

máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”: [ 1 ]

Quản lý nhà trƣờng là những công việc của nhà trƣờng mà ngƣời cán

bộ quản lý nhà trƣờng thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện nhiệm



13



vụ công tác của mình. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và

hƣớng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trƣờng

nhƣ: Quản lý giảng viên, quản lý sinh viên, quản lý quá trình dạy và học,

quản lý cơ sở vật chất và thiết bị trƣờng học nhằm thực hiện các chức năng,

nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học.

Quản lý nhà trƣờng còn là những tác động quản lý của các cơ quan

quản lý giáo dục cấp trên, đồng thời quản lý nhà trƣờng cũng gồm những

hƣớng dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trƣờng có liên quan

trực tiếp đến nhà trƣờng nhƣ cộng đồng đƣợc đại diện dƣới hình thức Hội

đồng giáo dục, nhằm định hƣớng, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhà trƣờng phát

triển. Nhƣ vậy ta có thể hiểu công tác quản lý nhà trƣờng bao gồm sự quản lý

các quan hệ nội bộ của nhà trƣờng và quan hệ giữa nhà trƣờng với xã hội.

Chất lƣợng của giáo dục nói chung là do chất lƣợng của các nhà trƣờng

tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục thì cũng là nói tới quản lý nhà

trƣờng cùng với hệ thống giáo dục.

1.4.4. Giảng viên – Đội ngũ giảng viên

Khái niệm “Giảng viên” đƣợc khẳng định trong Điều 70 Luật Giáo dục

2005 “Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trƣờng đại học và

sau đại học gọi là giảng viên”.

Nền kinh tế tri thức trong xã hội thông tin ngày nay đặt ra cho giáo dục

đại học những yêu cầu cao về năng lực, phẩm chất đạo đức đối với ngƣời

giảng viên đại học. Giảng viên là nhà giáo nghĩa là phải có trình độ chuyên

môn cao về lĩnh vực mình giảng dạy, có trình độ sƣ phạm nhất định, nắm

đƣợc nguyên tắc cơ bản của giáo dục học, tâm lý học, đặc điểm của đối tƣợng

giáo dục, vận dụng một cách mềm dẻo và khoa học các phƣơng thức, phƣơng

pháp trong quá trình tiến hành giáo dục…Bên cạnh đó ngƣời giảng viên cũng

phải luôn luôn có ý thức trau dồi, rèn luyện không những về kiến thức chuyên

môn mà còn phải rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong… để mình thực sự

là một ngƣời thầy, đúng nghĩa cho ngƣời học noi theo.



14



Giảng viên là nhà khoa học nghĩa là họ phải là ngƣời có trình độ

chuyên môn cao, có khả năng tƣ duy khoa học của nhà nghiên cứu và thƣờng

xuyên tham gia nghiên cứu khoa học, kịp thời nắm bắt các thông tin khoa học

mới để truyền thụ cho sinh viên. Yêu cầu đối với ngƣời giảng viên hiện nay là

vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu khoa học, đây là nhiệm vụ chính yếu của họ.

Giảng viên phải là ngƣời tâm huyết với nghề: đối với nghề “thầy giáo”

thì yêu cầu “tâm huyết” phải đặt lên hàng đầu vì sản phẩm của giáo dục là

hàm lƣợng trí thức, phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống….của con ngƣời.

Nếu ngƣời thầy không có tâm huyết với nghề thì hậu quả thật khó lƣờng, bởi

vì sự tâm huyết này thể hiện ở lòng say mê nghề nghiệp và là động lực rất lớn

cho hoạt động sáng tạo và phấn đấu vƣơn lên trong mỗi ngƣời thầy, cũng nhƣ

truyền lại sự tâm huyết ấy cho các thể hệ học trò.

Giảng viên đƣợc phân chia thành 3 ngạch: giảng viên, giảng viên chính

và giảng viên cao cấp.

Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là khối đông ngƣời đƣợc tập hợp có

cùng chức năng, nghề nghiệp, cùng một nhiệm vụ, tập hợp thành một lực

lƣợng” [ 36 ]

Đội ngũ đƣợc tạo thành bởi các yếu tố cơ bản sau:

- Là một tập hợp ngƣời

- Hoạt động theo một nguyên tắc

- Gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất, tinh thần

ĐNGV là một tập thể ngƣời có cùng chung một mục đích, đó là thực

hiện giảng dạy đạt chất lƣợng và hiệu quả cao trên những cơ sở vật chất, trang

thiết bị đƣợc giao để, phục vụ nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục của ĐNGV đó.

Có thể định nghĩa: ĐNGV là tập thể những nhà giáo đƣợc tổ chức

thành một lực lƣợng cùng chung nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục

đã đặt ra cho tập thể ngƣời đó. Đƣợc tổ chức thành một lực lƣợng tập hợp các

GV của một trƣờng đại học, cao đẳng và đƣợc gọi là ĐNGV của trƣờng đó.



15



ĐNGV là nhân tố quyết định chất lƣợng đào tạo: Họ là ngƣời trực tiếp

thực hiện và quyết định việc đổi mới nâng cao chất lƣợng đào tạo và nghiên

cứu trong các trƣờng đại học. ĐNGV là lực lƣợng chủ yếu, giá trị cơ bản cũng

nhƣ vốn quý nhất của trƣờng đại học, cao đẳng. Với tri thức, tài nghệ và kinh

nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc, ĐNGV là nhân vật trung tâm trong nhà trƣờng,

quyết định chất lƣợng và hiệu quả giáo dục - đào tạo của nhà trƣờng.

Vì GV có vai trò quan trọng nhƣ vậy trong nhà trƣờng, nên cần thiết

phải có chính sách đào tạo, bồi dƣỡng nghiệp vụ cũng nhƣ quản lý ĐNGV để

đảm bảo ngƣời giảng viên giỏi về chuyên môn, có lƣơng tâm nghề nghiệp, có

đạo đức lối sống trong sáng và xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội.

1.4.5. Quản lý đội ngũ giảng viên

Quản lý đội ngũ giảng viên là tác động có định hƣớng, có chủ đích của

nhà quản lý đến đội ngũ giảng viên nhằm đạt đƣợc mục tiêu phát triển đội ngũ

giảng viên đạt 3 tiêu chí :

- Đảm bảo về số lƣợng ;

- Đảm bảo về chất lƣợng ;

- Có cơ cấu phù hợp.

1.5. Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của giảng viên trong trƣờng đại học

1.5.1. Chức năng của giảng viên trong trƣờng đại học

Chức năng cơ bản của giảng viên là dạy học và giáo dục sinh viên.

Trong giảng dạy, GV không những truyền đạt thông tin, kiến thức cho sinh

viên, mà còn hƣớng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của sinh viên, tạo

điều kiện để họ có thể hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực cần

thiết cho việc lao động và sinh hoạt trong một xã hội không ngừng phát triển.

Ngoài ra, giảng viên còn NCKH và tham gia nhiều hoạt động xã hội khác.

1.5.2. Nhiệm vụ của giảng viên trong trƣờng đại học

Nhiệm vụ của GV quy định tại điều 72, Luật Giáo dục – 2005:



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (140 trang)

×