1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.43 MB, 110 trang )


Matsumoto (1999), Borko và Putnam (1995), Darling – Hammond (1999) và

Báo cáo của ủy ban quốc gia về Giáo dục và Tương lai của Hoa Kỳ các năm

1996, 1997 cho thấy các xu hướng chính trong nghiên cứu các vấn đề này là

[29]; [30]:

(i) Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển

nghề nghiệp giáo viên để chuẩn hóa đội ngũ giáo viên

(ii) Nghiên cứu hỗ trợ cho các hoạt động thực tiễn để phát triển nghề

nghiệp giáo viên, hỗ trợ giáo viên nâng cao mức độ đáp ứng với chuẩn nghề

nghiệp đã đặt ra

Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của vấn đề phát triển nghề nghiệp

giáo viên, nhiều tổ chức trên thế giới đã đặt hàng các nghiên cứu về vấn đề

này với mục đích xác định các con đường hiệu quả để hỗ trợ các chương

trình, các đề án phát triển nghề nghiệp giáo viên một cách hiệu quả;

(iii) Nghiên cứu cải tiến các kỹ năng và tăng cường hiểu biết nghề

nghiệp cho giáo viên. Xu hướng nghiên cứu này được thể hiện rõ trong những

nỗ lực của APEC để cải thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Các

nước (18 nước) Châu á khu vực Thái Bình Dương đã xác định đào tạo bồi

dưỡng giáo viên là một trong những vấn đề then chốt trong phát triển kinh tế

của họ. Theo đó, các nghiên cứu để nâng cao chất lượng công tác này theo

quan điểm phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo viên rất được coi trọng.

(iv) Nghiên cứu phát triển giáo viên như là một yêu cầu của tiến trình

thay đổi.

Hầu hết các cải cách giáo dục hiện nay đều gồm có một phần là phát

triển giáo viên. Nói cách khác, phát triển giáo viên là một yêu cầu then chốt

của tiến trình thay đổi, cải cách giáo dục. Các nghiên cứu về phát triển giáo

viên phục vụ yêu cầu này của cải cách giáo dục.

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về quản lý, phát triển đội ngũ

giáo viên tương đối phong phú. Các công trình nghiên cứu hướng vào giải



7



quyết các vấn đề về phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo

dục phổ thông. Do chuẩn nghề nghiệp giáo viên các cấp học, đặc biệt là chuẩn

nghề nghiệp giáo viên trung học mới được ban hành trong thời gian gần đây

nên những công trình nghiên cứu theo hướng chuẩn hóa và từng bước nâng

cao chất lượng đội ngũ GV THPT; nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn nghề

nghiệp của GV THPT còn rất hạn chế.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Giáo viên THPT

Theo Điều 70 của Luật Giáo dục năm 2005 được Quốc hội nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14

tháng 6 năm 2005, cho rằng “ Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy,

giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở

giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo

viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên ” [22]

Do vậy, giáo viên được hiểu là “ nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục

mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp”. Giáo viên trong các

cơ sở giáo dục có nhiệm vụ, quyền lợi, vai trò và trách nhiệm được qui định

tại Luật Giáo dục, Điều lệ và quy chế trường học.

Giáo viên THPT là nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục THPT, trong

đó có trường THPT.

Theo điều 26, Luật giáo dục 2005 : Giáo dục THPT được thực hiện

trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười

phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi. [22]

Vị trí của trường trung học trong hệ thống giáo dục quốc dân được nêu

rõ tại điều 2, Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ

thông có nhiều cấp học của Bộ giáo dục và đào tạo: “Trường trung học là cơ

sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách

pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”.



8



Luật giáo dục 2005 qui định: Mục tiêu của giáo dục THPT là nhằm

giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ

sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ

thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn

hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi

vào cuộc sống lao động.[22]

Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục THPT được qui định trong

Luật giáo dục 2005: “Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung

đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội

dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và

hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học

để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh” .[22]

THPT là bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là cầu nối giữa

giáo dục phổ thông với giáo dục đại học, sau đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Như vậy trường trung học phổ thông có vai trò rất quan trọng trong hệ thống

giáo dục quốc dân. Số học sinh tốt nghiệp THPT sẽ bước vào cuộc sống lao

động hoặc tiếp tục vào học các trường nghề, trung học chuyên nghiệp, cao

đẳng và đại học.

Các giáo viên tập hợp thành một đội ngũ. Đó là đội ngũ giáo viên. Theo

quan niệm hiện nay, đội ngũ giáo viên là tập hợp những nhà giáo giảng dạy ở

cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp có chung

nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục được quy

định tại Luật giáo dục, Điều lệ và Quy chế trường học [3]; [5]; [10].

Theo điều 30 và điều 31 của Điều lệ trường THPT, giáo viên trường

trung học phổ thông là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà

trường, gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm

công tác Đoàn TNCSHCM (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn

đoàn). Giáo viên bộ môn ở trường THPT có các nhiệm vụ:



9



+ Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài;

thực hành thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học

bạ đầy đủ, lên lớp đúng giờ, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do

nhà trường tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;

+ Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;

+ Rèn luyện đạo đức, học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;

+ Thực hiện điều lệ nhà trường; thực hiện nghị quyết của Hiệu trưởng,

chịu sự kiểm tra của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;

+ Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học

sinh, thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các

quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp;

+ Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học

sinh, đoàn TNCSHCM trong dạy học và giáo dục học sinh;

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Giáo viên phổ thông có vị trí, vai trò rất quan trọng trong thành phần của

đội ngũ giáo viên nói chung. Họ vừa là người chuyển giao kiến thức và nhân

cách cho những học sinh để học sinh hoàn thiện học vấn phổ thông và có những

hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng

lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung

cấp, học nghề… vừa chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động.

Giáo viên phổ thông không chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức

mà phải là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho

các hoạt động học tập tìm tòi, khám phá, giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến

thức mới và tạo cho họ năng lực đi vào cuộc sống của bản thân sau khi hoàn

thành chương trình phổ thông. Trong bối cảnh kỹ thuật công nghệ phát triển

nhanh tạo ra sự chuyển dịch định hướng giá trị, giáo viên trước hết phải là nhà

giáo dục có năng lực phát triển ở học sinh về cảm xúc, thái độ, hành vi bảo



10



đảm người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lý tri thức học được vào

cuộc sống bản thân, gia đình, cộng đồng. Bằng chính nhân cách của mình,

giáo viên tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách của học sinh, giáo

viên phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã hội, hăng hái

tham gia sự phát triển của cộng đồng.. Giáo viên phải có năng lực giải quyết

những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học, giáo dục bằng con đường tổng

kết kinh nghiệm, phát huy sáng kiến thực nghiệm sư phạm.

1.2.2. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học

Điều 3, Thông tư số: 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009

qui định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học

phổ thông:

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học là hệ thống các yêu cầu cơ bản

đối với giáo viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực

chuyên môn, nghiệp vụ. [2]

Chuẩn nghề nghiệp GVTH 2009 là văn bản qui định hệ thống các yêu

cầu cơ bản đối với người GVTH về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống,

năng lực chuyên môn và nghiệp vụ trong thời kì đổi mới giáo dục phục vụ

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên đáp ứng sự phát triển mang tính khách

quan, theo xu hướng chung của thế giới và sự phát triển giáo dục của nước ta.

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên là sự tiếp cận đối với thế giới trong quản lý giáo

dục hiện đại ở thời kỳ đất nước hội nhập quốc tế- Việt Nam ra nhập tổ chức

Thương mại thế giới (WTO).

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên có cấu trúc theo các lĩnh vực, mỗi lĩnh

vực có các tiêu chuẩn, tiêu chí và mức độ cụ thể.[2]

Tiêu chuẩn là quy định về những nội dung cơ bản, đặc trưng thuộc mỗi

lĩnh vực của chuẩn. Chuẩn nghề nghiệp GVTH gồm 6 tiêu chuẩn và trong

mỗi tiêu chuẩn có các tiêu chí khác nhau.



11



Tiêu chí là yêu cầu và điều kiện cần đạt được ở một nội dung cụ thể

của mỗi tiêu chuẩn.

Mỗi tiêu chí có 4 mức để đánh giá kết qủa đạt được của GV. Mức 1 là

mức thấp nhất, phản ánh yêu cầu tối thiểu GV phải đạt; mức 4 là mức yêu cầu

cao nhất về tiêu chí đó. Việc phân biệt các mức độ cao thấp dựa vào số lượng

và chất lượng các hoạt động giáo viên thực hiện.

1.2.3. Mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT

Theo từ điển Tiếng Việt:

- “Mức độ là bậc gần hay xa một cơ sở so sánh (trong lĩnh vực cụ thể

hay trừu tượng) dùng làm tiêu chuẩn cho hành động".

- “Đáp lại theo đúng như đòi hỏi, yêu cầu”

Trong lao động nghề nghiệp, mỗi công việc đều có những yêu cầu đòi

hỏi người thực thi công việc phải đáp ứng được những yêu cầu đó. Đáp ứng

với công việc được hiểu là đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu của công việc.

Người có khả năng đáp ứng với công việc là những người có đủ năng lực

hoàn thành tốt các yêu cầu, đòi hỏi của công việc.

Như vậy có thể hiểu “mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của giáo

viên THPT” là thứ bậc về khả năng đáp lại đòi hỏi, yêu cầu công việc của một

GVTHPT về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn và

nghiệp vụ đã được xác định trong chuẩn nghề nghiệp GVTHPT.

1.3. Một số vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học

1.3.1. Các căn cứ xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học

1.3.1.1. Căn cứ pháp lí

- Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phải phù hợp, tham chiếu

những quy định đối với giáo viên trong các văn bản pháp quy hiện hành của

Việt Nam, trực tiếp là các văn bản sau:



12



- Luật Giáo dục 2005, đặc biệt các Điều 70 (có liên quan đến tiêu chuẩn

nhà giáo), Điều 72 (nhiệm vụ của nhà giáo), Điều 75 (các hành vi nhà giáo

không được làm);

- Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội.

- Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo

dục;

- Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 phê duyệt Đề án

“Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

giai đoạn 2005-2010”;

- Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường

phổ thông có nhiều cấp học (ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐBGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo);

- Quyết định số 202/TCCP-VC ngày 08/6/1994 của Bộ trưởng Trưởng

Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) về việc ban hành Tiêu

chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo (ngạch giáo

viên trung học và ngạch giáo viên trung học cao cấp);

- Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21/3/2006 của Bộ trưởng Bộ

Nội vụ về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và

giáo viên phổ thông công lập;

- Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ

GD&ĐT về việc ban hành Quy định đạo đức Nhà giáo.

1.3.1.2. Đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên

Chuẩn phải tiếp thu, vận dụng những xu hướng về sự thay đổi chức

năng của người giáo viên trong bối cảnh khoa học, kĩ thuật, công nghệ đang

phát triển rất nhanh hướng tới kinh tế tri thức và xã hội học tập.

GV không còn chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải là

người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt



13



động học tập tìm tòi khám phá, giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới.

GV phải có năng lực đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ kiểu dạy tập

trung vào vai trò giáo viên và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập trung vào vai

trò của học sinh và hoạt động học, từ cách dạy thông báo - giải thích - minh

hoạ sang cách dạy hoạt động tìm tòi khám phá.

Trong bối cảnh kĩ thuật công nghệ phát triển nhanh, tạo ra sự chuyển

dịch định hướng giá trị, GV trước hết phải là nhà giáo dục có năng lực phát

triển ở học sinh về cảm xúc, thái độ, hành vi, bảo đảm người học làm chủ

được và biết ứng dụng hợp lí tri thức học được vào cuộc sống bản thân, gia

đình, cộng đồng. Bằng chính nhân cách của mình, GV tác động tích cực đến

sự hình thành nhân cách của học sinh, GV phải là một công dân gương mẫu,

có ý thức trách nhiệm xã hội, hăng hái tham gia vào sự phát triển của cộng

đồng, là nhân vật chủ yếu góp phần hình thành bầu không khí dân chủ trong

lớp học, trong nhà trường, có lòng yêu giới trẻ và có khả năng tương tác với

giới trẻ.

Trong xã hội đang phát triển nhanh, người GV phải có ý thức, có nhu

cầu, có tiềm năng không ngừng tự hoàn thiện nhân cách, đạo đức, lối sống,

nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tính chủ động, độc lập,

sáng tạo trong hoạt động sư phạm, biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể sư

phạm nhà trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. Quá trình đào

tạo ở trường sư phạm chỉ là sự đào tạo ban đầu, là cơ sở cho quá trình đào tạo

tiếp theo trong đó sự tự học, tự đào tạo đóng vai trò quan trọng, quyết định sự

thành đạt của mỗi giáo viên. GV phải có năng lực giải quyết những vấn đề

nảy sinh trong thực tiễn dạy học giáo dục bằng con đường tổng kết kinh

nghiệm, phát huy sáng kiến, thực nghiệm sư phạm.

GV trung học là GV môn học: mỗi GV dạy một hoặc hai môn có quan

hệ chuyên môn gần gũi, thực hiện chức năng giáo dục học sinh (nghĩa hẹp)

chủ yếu thông qua giảng dạy môn học.



14



Những GV được phân công làm chủ nhiệm lớp, công tác Đoàn, Đội,

hoạt động ngoài giờ lên lớp... có phạm vi hoạt động giáo dục rộng hơn.

Đối tượng của GV trung học là học sinh lứa tuổi từ 11 đến 18 tuổi, nên

hoạt động nghề nghiệp của GV trung học đa dạng, phức tạp. GV phải đạt yêu

cầu cao về phẩm chất, năng lực chuyên môn nghiệp vụ mới đáp ứng được nhu

cầu, trình độ nhận thức đã khá phát triển của học sinh trung học.

Bối cảnh hiện nay đòi hỏi giáo viên trung học phải có trình độ tin học

và sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong dạy học, trình độ ngoại ngữ

mới theo kịp yêu cầu phát triển nội dung, đổi mới phương pháp dạy học môn

học của mình ở trường THCS và THPT.

1.3.1.3. Công tác đánh giá giáo viên

Cho đến nay ở Việt Nam chưa thực hiện việc đánh giáo GV trung học

gắn liền với quyết định thăng tiến về nghề nghiệp của họ. Tuy nhiên hằng

năm, các trường THCS và THPT vẫn tiến hành đánh giá GV dựa trên các văn

bản sau:

- Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 về việc hướng dẫn

thanh tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư

phạm của nhà giáo;

-



Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21/3/2006 của Bộ Nội vụ



về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại GV mầm non và giáo viên phổ

thông công lập. Theo Quyết định này, nội dung đánh giá gồm các mặt:

phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kết quả công tác được giao; khả

năng phát triển.

Trên cơ sở đánh giá công chức này, tập thể GV bình bầu các danh hiệu

thi đua: Lao động giỏi, chiến sĩ thi đua...

Việc đánh giá công nhận danh hiệu GV giỏi thường được tiến hành qua

các hội giảng (hội thi) GV giỏi từ cấp trường đến cấp quốc gia. GV được công

nhận danh hiệu GV giỏi trước hết phải qua các Hội thi GV giỏi và tiết dạy của



15



GV đó được Hội đồng chấm đánh giá loại giỏi và các mặt khác được cở sở

(nhà trường, Phòng Giáo dục, Sở GD-ĐT) đánh giá tốt.

Như vậy, cho đến nay, việc đánh giá GV trung học hàng năm là để xếp

loại, mang tính thi đua là chủ yếu. Tuy việc đánh giá, xếp loại GV có theo các

tiêu chuẩn nhưng còn rất chung chung, thiếu cụ thể. Do đó khó phân định

được các mức độ, dễ dẫn đến tình trạng thiếu khách quan và thiếu chính xác.

Từ những điều trình bày trên cho thấy, việc xây dựng Chuẩn nghề

nghiệp GV nói chung, GV trung học nói riêng phải căn cứ vào các cơ sở pháp

lý, đặc điểm lao động sư phạm và thực tế của công tác đánh giá đội ngũ GV.

1.3.2. Mục đích của việc quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT

1. Giúp giáo viên trung học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối

sống, năng lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất

đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

2. Làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viên hằng năm phục vụ công

tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo

viên trung học.

3. Làm cơ sở để xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng

giáo viên trung học.

4. Làm cơ sở để nghiên cứu, đề xuất và thực hiện chế độ chính sách đối

với giáo viên trung học; cung cấp tư liệu cho các hoạt động quản lý khác.

1.3.3. Nội dung chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT

Nội dung Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học ban hành tại Thông

tư số 30/2009/TT-BGDĐT gồm:

Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

1. Tiêu chí 1. Phẩm chất chính trị

Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; chấp hành đường lối, chủ trương của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động chính trị xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân.



16



2. Tiêu chí 2. Đạo đức nghề nghiệp

Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học; chấp hành Luật Giáo dục, điều lệ,

quy chế, quy định của ngành; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách

nhiệm; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; sống trung thực, lành

mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh.

3. Tiêu chí 3. Ứng xử với học sinh

Thương yêu, tôn trọng, đổi xử công bằng với học sinh, giúp học sinh khắc

phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt.

4. Tiêu chí 4. Ứng xử với đồng nghiệp

Đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp; có ý thức xây dựng tập

thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục.

5. Tiêu chí 5. Lối sống, tác phong

Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và môi

trường giáo dục; có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học.

Tiểu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tƣợng và môi trƣờng giáo dục

1. Tiêu chí 6. Tìm hiểu đối tượng giáo dục

Có phương pháp thu thập và xử lý thông tin thường xuyên về nhu cầu

và đặc điểm của học sinh, sử dụng các thông tin thu được và dạy học, giáo

dục.

2. Tiêu chí 7. Tìm hiểu môi trường giáo dục

Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin về điều kiện giáo dục trong

nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, sử

dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục.

Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học

1.Tiêu chí 8: Xây dựng kế hoạch dạy học

Các kế hoạch dạy học được xây dựng theo hướng tích hợp dạy học với

giáo dục, thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với

đặc thù môn học, đặc điểm học sinh và môi trường giáo dục; phối hợp hoạt



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

×