1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỊNH LONG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.43 MB, 110 trang )


dân. Hiện nay với số dân gần 30 vạn người, vốn cần cù, thông minh, năng

động, sáng tạo, đất đai màu mỡ, nhưng GDP bình quân đầu người vẫn thấp so

với bình quân chung của cả nước. Tỷ trọng nông nghiệp, thuỷ sản trong GDP

vẫn cao, tới 37%. Trong thời gian tới, nông nghiệp ở Hải Hậu vẫn đóng vai

trò quan trọng trong tạo việc làm và vẫn là thu nhập chính của nhiều hộ gia

đình nông dân và do đó vẫn phải quan tâm đầu tư, xây dựng nguồn nhân lực ở

khu vực này.

Dân cư Hải Hậu có trình độ học vấn cao hơn một số địa phương khác.

Trình độ học vấn của dân số theo các cấp học và nhóm tuổi đều có ưu thế so

với bình quân chung của cả nước. Người dân Hải Hậu có truyền thống hiếu

học, trong những năm gần đây số sinh viên nhập học các trường đại học

chiếm tỷ lệ cao hơn so với tỷ lệ bình quân trong cả nước. Tuy nhiên có sự

chênh lệch rất lớn giữa các xã phía Bắc huyện với các xã phía Nam huyện.

các xã phía Nam huyện Hải Hâu, đặc biệt là vùng ven biển, với tỉ lệ tôn giáo

lên tới trên 70%, với nghề chính là nghề đi biển. Có xã chỉ có khoảng 40%

học sinh học hết THCS đăng ký dự thi vào THPT, tỉ lệ vào THPT có xã chưa

được 30%.

Thực trạng lao động hiện nay cho thấy số lượng lao động dồi dào

nhưng chất lượng còn hạn chế, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ lớn, lao động

kỹ thuật còn thiếu, cơ cấu lao động chuyển đổi chậm, thu nhập của người lao

động còn thấp.

Mặc dù là huyện có GDP bình quân ở mức trung bình so với bình quân

trong cả nước, nhưng Hải Hậu lại có chỉ số phát triển con người cao. Hải Hậu

là địa phương có đầu tư ngân sách rất cao so với GDP trong các lĩnh vực giáo

dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và là một trong những huyện có an

ninh lương thực cao, luôn có mức tăng trưởng mạnh và luôn đạt trên

500kg/người/năm.



34



Các chỉ số về sự phát triển con người trên phương diện sức khoẻ, tri

thức và thu nhập Hải Hậu nói riêng và Nam Định nói chung được xếp vào

nhóm có chỉ số phát triển con người cao. Đó là những thành tựu to lớn trong

sự nghiệp phát triển con người ở Hải Hậu.

2.1.3. Về kinh tế - văn hoá xã hội

Hải Hậu là huyện đồng bằng ven biển, nối liền với Nam Định và châu

thổ sông Hồng bằng mạng lưới giao thông thuỷ - bộ tiện lợi và hữu ích. Mạng

lưới giao thông thuỷ - bộ của Hải Hậu là thể thống nhất, thông suốt, nối Hải

Hậu với mọi miền tổ quốc, tạo nên sự thông thương hàng hoá, giao lưu về văn

hoá, giúp con người Hải Hậu thông thoáng với tầm nhìn, nhậy cảm về tư duy,

linh lợi về cung cách làm ăn.

Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo

định hường xã hội chủ nghĩa, thực hiện CNH – HĐH. Để đưa nền kinh tế đi

lên trong công cuộc đổi mới CNH – HĐH, huyện đã tập trung giải quyết hai

vấn đề lớn là: bổ sung, nâng cao, hoàn chỉnh cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ

cho việc sản xuất và chấn chỉnh, sắp xếp, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế

làm cho quan hệ sản xuất ngày càng phù hợp với tính chất của lực lượng sản

xuất và thúc đẩy sức sản xuất phát triển nhanh.

Người Nam Định nói chung và Hải Hậu nói riêng có đời sống văn hoá

mang bản sắc chung của dân tộc Việt Nam và những nét văn hoá đặc trưng

của vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ.

2.1.4. Về giáo dục

Sự nghiệp giáo dục của Hải Hậu liên tục phát triển, không ngừng nâng

cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Năm 2004 Hải Hậu đạt phổ

cập trung học cơ sở đúng độ tuổi. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở

vào học lớp 10 trung học phổ thông, trung học dân lập phổ thông, giáo dục

thường xuyên đạt tỷ lệ từ 60% năm 2005 tăng lên 82,1% năm 2012. Số học

sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học ngày càng tăng. Theo điều tra



35



năm 2011 toàn huyện có sấp sỉ 11.000 người đang theo học tại các trường đại

học, cao đẳng, trung cấp. Huyện liên tục 33 năm đạt điển hình Văn hoá cấp

huyện của cả nước. Kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân

dân không ngừng được nâng lên. Điều kiện ở, đi lại, học hành của người dân

được cải thiện rõ rệt.

Trong những năm qua Hải Hậu đã tiếp thu và vận dụng đường lối chủ

trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước vào thực tiễn góp phần

phát huy truyền thống đất học Nam Định và giành được những kết quả rất

xuất sắc:

Về giáo dục mầm non: Từ năm 2002, thực hiện Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ huyện lần thứ 23, Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện khoá 16

ngày 06/8/2002, UBND huyện ra quyết định số 210/2002/QĐ-UBND, ban

hành Đề án: “Thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đẩy mạnh

xã hội hoá giáo dục, tạo nguồn lực đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất trường học;

nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện giai đoạn 2002- 2007” – cơ sở vật

chất của tất cả các trường học tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt là ngành học

mầm non. Việc bồi dưỡng giáo viên được chú trọng, đến năm 2011 Hải Hậu

có 95,5% giáo viên đạt chuẩn, trong đó có 30% đạt trên chuẩn. Chất lượng

nuôi dạy trẻ được nâng cao, số trẻ em suy dinh dưỡng giảm. Trẻ được uống

vắc xin phòng bệnh và khám định kỳ. Đến 2011 Hải Hậu có 27/35 trường

mầm non đạt chuẩn. Hải Hậu là huyện dẫn đầu tỉnh và là huyện nằm trong tốp

dẫn đầu toàn quốc về xây dựng trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia.

Về giáo dục tiểu học: Hiện nay toàn huyện có 40 trường Tiểu học với

22.300 học sinh. Mạng lưới trường tiểu học được củng cố. Hiện nay có trên

90% trường tiểu học sử dụng phòng học cao tầng. Chất lượng giáo viên và

học sinh ngày càng cao, tỷ lệ học sinh chuyển cấp tiểu học vào trung học cơ

sở trong những năm gần đây đều đạt trên 98%. Năm 1997 đạt phổ cập giáo

dục tiểu học đúng độ tuổi. Toàn huyện có 100% trường tiểu học đạt chuẩn



36



quốc gia mức I, 03 trường đạt chuẩn quốc gia mức II. Việc bồi dưỡng giáo

viên và đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng. Toàn huyện hiện có

954 giáo viên tiểu học, tỷ lệ giáo viên được đào tạo đạt chuẩn là 100%, trong

đó trên chuẩn (cao đẳng và đại học tiểu học) là 41%..

Về giáo dục trung học phổ thông: Đến tháng 10/2000, Hải Hậu là

huyện đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục trung học cơ sở, được Bộ Giáo

dục và Đào tạo tặng bằng khen; năm 2004 là huyện đạt phổ cập giáo dục

trung học cơ sở đúng độ tuổi. Đến nay toàn huyện đã có 7 trường trung học

phổ thông công lập, 1 trường trung học phổ thông tư thục, 2 trung tâm giáo

dục thường xuyên đáp ứng được cho hầu hết học sinh tốt nghiệp trung học cơ

sở có nguyện vọng được học trung học phổ thông, trong đó có 2 trường THPT

đạt chuẩn quốc gia và 2 trường sẽ được công nhận chuẩn quốc gia vào năm

2013, trường trung học phổ thông A Hải Hậu là trường đầu tiên trong tỉnh

được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 2010. Trình độ năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên trung học tiếp tục

được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục. Trung

học cơ sở có 1.102 giáo viên, 98% giáo viên đạt chuẩn, trong đó có 24,5%

giáo viên đạt trên chuẩn. Bậc trung học phổ thông và giáo dục thường xuyên

có 392 giáo viên, 96,88% giáo viên đạt chuẩn đại học và sau đại học. Trường

trung học phổ thông A Hải Hậu có tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại

học cao trong tỉnh chỉ sau trường chuyên Lê Hồng Phong

Trường THPT Thịnh Long nằm ở phía Nam của huyện Hải Hậu: Phía

Đông và phía Nam là biển; phía Tây ngăn cách với huyện Nghĩa Hưng bởi

con sông Ninh Cơ; địa bàn tuyển sinh chủ yếu là thị trấn Thịnh Long, xã Hải

Châu và xã Hải Hòa.

Khác với khu vực trung tâm huyện Hải Hậu, đây là một vùng có điều

kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của

huyện Hải Hậu. Tỉ lệ tôn giáo chiếm trên 70%; trừ thị trấn Thịnh Long, các xã



37



lân cận có số học sinh đăng ký dự thi vào THPT chưa được 50% so với học

sinh tốt nghiệp THCS và tỉ lệ học sinh đỗ vào THPT chưa được 40%, có xã

chưa được 30%. Tỉ lệ lao động vùng này chiếm trên 50% tổng số dân, nhưng

chủ yếu là lao động phổ thông, trong đó nghề chính là trồng lúa và đi biển.

Về văn hóa giáo dục và y tế: Tuy những năm gần đây, các xã vùng ven

biển đã được đầu tư và phát triển nhiều, tuy nhiên chỉ có thị trấn Thịnh Long

là phát triển mạnh còn các xã lân cận vẫn còn thấp hơn nhiều so với mặt bằng

chung của huyện Hải Hậu.

2.2. Thực trạng trƣờng THPT Thịnh Long, tỉnh Nam Định

2.2.1. Quy mô trường lớp

Trường THPT thịnh Long được thành lập từ năm học 2001 – 2002, đến

nay đã bước sang năm thứ 12. Trường được xây dựng ở khu vực ven biển

phía Nam huyện Hải Hậu, cách trung tâm huyện Hải Hậu 26km. khu vực nay

có 3 mặt giáp sông và biển. Trường có diện tích rộng 15700m2, trường có 2

đơn nguyên 3 tầng 28 với 28 học, 1 nhà hiệu bộ 2 tầng, 1 nhà chức năng và

phòng thực hành bộ môn với 12 phòng. Trường có sân chơi bãi tập với hệ

thống bồn hoa cây cảnh, đảm bảo cảnh quan nhà trường Xanh – Sạch – Đẹp.

Do nhà trường nằm xa trung tâm, địa bàn tuyển sinh quá hẹp nên hàng

năm số thí sinh đăng ký dự thi vào trường thường ít hơn số chỉ tiêu được giao.

Điều đó ảnh hưởng tới việc tăng quy mô lớp học của trường và chất lượng

đầu vào luôn thấp nhất tỉnh. Vài năm gần đây do nhà trường đã tạo được uy

tín nên số thí sinh đăng ký dự thi mới bằng chỉ tiêu được giao.

Hiện nay nhà trường có 21 lớp và 53 cán bộ giáo viên. Năm đầu tiên

(2001 – 2002) nhà trường mới chỉ có 5 lớp 10 với tổng số 260 học sinh và 18

cán bộ giáo viên. Hiện nay nhà trường đang hoàn thành hồ sơ để năm học

2012- 2013 chính thức đạt trường chuẩn quốc gia.

2.2.2. Chất lượng giáo dục THPT

Trường THPT Thịnh Long là một trường mới thành lập nên được các

cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền từ Tỉnh - Sở - Huyện đến các xã và thị



38



trấn, các cơ quan ban ngành đoàn thể trong khu vực quan tâm sâu sắc thiết

thực cả về vật chất lẫn tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giáo

dục toàn diện của nhà trường phát triển không ngừng. Đồng thời nhà trường

lại có đội ngũ giáo viên 100% là trẻ, giàu năng lực, nhiệt tình và tâm huyết

với nghề, ham muốn được thể hiện mình. Hội đồng sư phạm nhà trường luôn

đoàn kết thực hiện nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên trong quá trong quá trình

xây dựng và phát triển nhà trường cũng còn gặp nhiều khó khăn thử thách:

+ Cơ sở vật chất còn thiếu nhiều, khu vực sân chơi, bãi tập chưa chuẩn

hóa, chưa có thư viện (tư liệu sách giáo khoa, sách tham khảo… mới chỉ có

kho để chứa, hiệu quả sử dụng rất thấp).

+ Đội ngũ giáo viên quá trẻ, độ tuổi bình quân 28 tuổi, có 1 giáo viên

nhiều tuổi nhất là 39 tuổi, kinh nghiệm chuyên môn và kinh nghiệm công tác

còn nhiều hạn chế, nhà trường thiếu một lực lượng cốt cán cho các tổ nhóm

chuyên môn.

+ Chất lượng đầu vào luôn thấp nhất tỉnh. Điểm chuẩn của các năm chỉ

đạt từ 3 đến 4 điểm/môn, duy nhất năm học 2012-2013 đạt 4,25 điểm/ môn.

+ Mặt khác trường lại đặt ở địa bàn có trình độ dân trí chưa cao, tỉ lệ dân

theo đạo thiên chúa chiếm tỉ lệ cao, nhu cầu học tập của các em còn thấp (nhà

trường cần học trò chứ học trò chưa khát học).

Chính vì thế trong các năm qua tuy chất lượng giáo dục toàn diện của

nhà trường đã không ngừng được nâng cao nhưng so với yêu cầu của trường

chuẩn quốc gia thì vẫn còn nhiều mặt còn khó khăn.

- Về công tác giáo dục đạo đức học sinh: xác định được vấn đề khó khăn

của nhà trường đa phần các em thi vào trường là những em chưa ngoan, học

lực yếu và đạo đức cũng chưa tốt, trường lại đặt cạnh trung tâm du lịch, tình

hình xã hội có nhiều vấn đề phức tạp … Hằng năm chi bộ, BGH nhà trường

đã phối hợp với Đoàn thanh niên và các lực lượng giáo dục trong trường và

ngoài xã hội áp dựng các biện pháp tích cực để quản lý và giáo dục học sinh:



39



+ Làm tốt công tác điều tra cơ bản của từng học sinh ngay từ những ngày

đầu năm, tổ chức cho các lớp học nội quy, thường xuyên giám sát chặt chẽ

việc thực hiện của các em trong và ngoài xã hội.

+ Duy trì tốt lịch hoạt động của Ban quản sinh, đội thanh niên xung kích,

nắm bắt những biểu hiện sai lệch của các em để uốn nắn và xử lý kịp thời.

+ Cải tiến nội dung và phương pháp hoạt động 15 phút đầu giờ, sinh hoạt

cuối tuần, tập trung sáng thứ 2 hàng tuần để gây hứng thu cho học sinh.

+ Tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp như: thi con đường tri

thức, kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thi cắm hoa nội trợ, làm

tập san để các em tự khẳng định mình và tạo niềm tin cho các em, giúp các

em yêu trường, yêu lớp, hăng hái thi đua học tập tốt.

Với những biện pháp tích cực đó nhà trường đã xây dựng được môi

trường học đường lành mạnh, thiết lập và duy trì được môi trường học đường

trong sạch, làm mạnh, kỷ cương nền nếp mang tính văn hóa cao, được các cấp

lãnh đạo và nhân dân tin tưởng gửi con em tới trường. 100% học sinh đăng ký

thực hiện nếp sống văn hóa trong và ngoài trường, không vi phậm trật tự an

toàn giao thông và cam kết tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội. Kết quả

không có học sinh nào vi phạm pháp luật hoặc mắc các tệ nạn xã hội. Trường

được công nhận là trường học có nếp sống văn hóa.

Bảng 2.1. Kết quả xếp loại Hạnh kiểm 3 năm gần đây

Năm học



Tốt



Học



Khá



sinh



SL



2009 – 2010



1033



727 70.4



2010 – 2011



986



2011 – 2012



947



%



SL



Trung bình

%



Yếu



SL



%



SL



%



268 25.9



38



3.7



0



0.0



702 71,2



239 24,2



39



4,0



6



0,6



678 71,6



216 22,8



48



5,1



5



0,5



(Nguồn: Báo cáo tổng kết của trường THPT Thịnh Long từ năm 2010 đến 2012)



- Giáo dục trí dục: Đây là hoạt động trọng tâm của nhà trường và cũng là

hoạt động có nhiều khó khăn nhất vì chất lượng đầu vào của học sinh thấp



40



nhất tỉnh và phần lớn học sinh lại rất lười học, gia đình không quan tâm tới

việc học hành của con cái.

Xác định được điều đó nhà trường đã xây dựng kế hoạch và áp dụng các

biện pháp tích cực phù hợp với điều kiện thực tế như:

+ Thường xuyên phát động các phong trào thi đua gối sóng lập thành

tích chào mừng các ngày lễ lớn: 20/11, 22/12, 8/3, 26/3 và 19/5 … tạo không

khí thi đua sôi nổi giữa cá nhân với cá nhân, giữa các lớp với nhau, có sơ tổng

kết đánh giá rút kinh nghiệm và trao thưởng kịp thời.

+ Tăng cường khuyến học khuyến tài bằng các nguồn xã hội hóa giáo

dục (kêu gọi, động viên các tổ chức, cá nhân tích cực khen thưởng và tài trợ

cho những học sinh nghèo vượt khó, có thành tích xuất sắc trong học tập).

Trung bình mỗi năm quỹ khuyến học giành hơn 25 triệu đồng trao thưởng và

tài trợ cho các em học sinh.

Bảng 2.2. Kết quả xếp loại học lực 3 năm học gần đây

Năm học



Học

sinh



Giỏi

SL



%



Khá

SL



%



Trung

bình

SL



%



Yếu

SL



%



Kém

SL



%



2009-2010



1033



30 2.9 336 32.5 507 49.1 160 15.4



0 0.0



2010-2011



986



36 3,7 333 33,8 478 48,5 139 14,1



1 0,0



2011-2012



947



43 4,5 324 34,2 434 45,8 144 15,2



2 0,2



(Nguồn: Báo cáo tổng kết của trường THPH Thịnh Long từ năm 2010 đến 2012)



Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi luôn được nhà trường chú trọng và đầu

tư mọi mặt (đội ngũ, thời gian, kinh phí …). Tuy chất lượng đầu vào rất thấp

nhưng năm nào đội tuyển học sinh giỏi cũng đạt nhiều giải cá nhân, và xếp

thứ bậc nâng dần qua các năm (Tuy nhiên toàn đoàn mới đứng ở mức trung

bình của Sở). Đặc biệt đội tuyển TDTT năm nào toàn đoàn cũng ở thứ bậc

cao từ 1 – 5. Năm học 2011 – 2012 Hội khỏe Phù Đổng tỉnh Nam Định lần

thứ 8, toàn đoàn đã xuất sắc đạt giải Nhì.



41



Kết quả lên lớp của học sinh khối 10 và 11 các năm qua đều đạt hơn 98%.

Kết quả thi tốt nghiệp các năm qua đều đạt và vượt bình quân của Sở.

Hai năm học 2010 – 2011 và 2011 – 2012 thi theo Hội đồng cụm, cùng với 3

trường THPT B Hải Hậu, THPT C Hải Hậu và THPT An Phúc tỉ lệ tốt nghiệp

đạt 100%.

Kết quả thi Đại học và Cao đẳng đã đạt được những thành tích xuát sắc.

Trong khi điểm tuyển sinh vào lớp 10 bình quân 3 – 4 điểm/ môn nhưng tỉ lệ

học sinh đỗ Đại học vẫn cao. Theo thống kê điểm bình quân 3 môn thi vào

ĐH – CĐ của học sinh nhà trường trong các năm qua đều đạt trên 11 điểm

- Hoạt động lao động hướng nghiệp dạy nghề đảm bảo giáo dục theo

đúng phân phối chương trình của Bộ và cũng đạt kết quả cao.

Như vậy trường THPT Thịnh Long là trường mới thành lập có nhiều khó

khăn thử thách nhưng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ về quy mô

trường lớp cũng như về chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

Tuy nhiên để đẩy nhanh tốc độ phát triển nhà trường cả về quy mô và

chất lượng đáp ứng với mục tiêu chiến lược của nhà trường là chính thức đạt

trường chuẩn quốc gia vào năm 2013 thì trường cần phải có đội ngũ giáo viên

không chỉ có chuyên môn giỏi mà phải có phẩm chất đạo đức tốt, giàu kinh

nghiệm, đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học. Muốn làm được

điều đó thì đòi hỏi phải đánh giá đúng thực trạng của đội ngũ giáo viên từ đó

đối chiếu với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, xác định cái gì đã đạt, cái gì chưa

đạt được và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn nghề

nghiệp cho đội ngũ giáo viên.

2.3. Thực trạng về mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của độ ngữ giáo

viên THPT Thịnh Long, tỉnh Nam Định

2.3.1. Thực trạng về đội ngũ giáo viên

2.3.1.1. Số lượng giáo viên

Về đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường: Hiện nay nhà trường có 53 cán bộ

giáo viên trong đó có: 2 giám hiệu, 44 giáo viên và 7 nhân viên hành chính.



42



Bảng 2.3. Cơ cấu đội ngũ giáo viên Trƣờng THPT Thịnh Long

Nhóm



Số



chuyên môn



lượng



Giới tính

Nam Nữ



Độ tuổi



Trình độ



Dưới



30



Từ 40



30



39



trở lên



ĐH



Trên

ĐH



Toán



7



3



4



4



3



6



1



Vật lý



5



3



2



3



2



4



1



Hóa học



3



1



2



3



Sinh học



3



2



1



1



Tin học



2



1



1



2



Ngữ văn



6



1



5



3



3



5



Lịch sử



3



2



1



2



1



3



Địa lý



2



0



2



1



1



2



Tiếng Anh



5



2



3



2



3



5



GDCD



1



1



0



1



1



Công nghệ



2



0



2



Thể dục, QP



5



5



Tổng số



44



21



4

2



3



2



1



2



3

23



3



2



26



18



4

0



1



41



4



(Nguồn: Báo cáo thống kê của trường THPT Thịnh Long năm học 2011-2012)



Qua bảng tổng hợp trên cho thấy:

- Về số lượng giáo viên theo định mức biên chế cán bộ, viên chức ở các

trường THPT qui định tại TT 35/2006/TTLT–BGDĐT–BNV ngày 23/8/2006

còn thiếu 3 giáo viên.

- Về cơ cấu bộ môn: Đã tương đối cân đối giữa các môn, không có môn

quá thừa hoặc quá thiếu.

- Cơ cấu giới tính cân đối giữa nam và nữ.

- Cơ cấu độ tuổi 100% là giáo viên trẻ.

-Về trình độ: 100% đạt chuẩn trong đó có 4 đồng chí giáo viên trên

chuẩn (1Toán, 1 lí, 1Văn, 1Thể dục)



43



2.3.1.2.Về Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

* Về phẩm chất chính trị:

- Đại bộ phận cán bộ giáo viên trường THPT Thịnh Long tự giác gương

mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà

nước, tự giác gương mẫu tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, tự giác

gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân.

- Một số đồng chí gương mẫu và vận động mọi người chấp hành đường

lỗi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, tham gia các

hoạt động chính trị xã hội, thực hiện nghĩa vụ công dân.

- Cá biệt có 1 vài đồng chí chưa chấp hành tốt đường lối, chủ trương của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ít tham gia hoạt động chính trị xã

hội, thực hiện chưa tốt nghĩa vụ công dân.

*. Đạo đức nghề nghiệp:

- Đại bộ phận giáo viên nhà trường yên tâm với nghề, tận tụy với nghề;

có ý thức cải tiến, tích cực cải tiến đúc rút kinh nghiệm trong hoạt động giáo

dục, hoàn thành đúng thời hạn và yêu cầu các nhiệm vụ được giao, tự giác,

gương mẫu chấp hành các điều lệ, quy chế, quy định của Bộ, ngành, có ý thức

đấu tranh và tự giác tham gia đấu tranh với những hành vi tiêu cực.

- Một số đồng chí say mê, toàn tâm toàn ý với nghề, thường xuyên đúc

rút kinh nghiệm và vận dụng một cách sáng tạo trong hoạt động giáo dục,

gương mẫu và vận động mọi người tham gia đấu tranh với những hiện tượng

tiêu cực.

- Một vài đồng chí cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao, chưa có ý

thức học hỏi đồng nghiệp, chấp hành các điều lệ, quy chế, quy định của Bộ,

nghành, không có hành vi tiêu cực.

* Ứng xử với học sinh:

- Phần lớn giáo viên trường THPT Thịnh Long chân thành cởi mở với

học sinh, sẵn sàng giúp đỡ học sinh khắc phục khó khăn, chủ động tìm hiểu



44



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

×