1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.65 MB, 123 trang )


CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG MẦM NON

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đội ngũ CBQL giáo dục có vai trò rất quan trọng trong sự thành bại của sự

nghiệp giáo dục và đào tạo. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt

Nam nói riêng luôn quan tâm đến việc nghiên cứu phát triển đội ngũ CBQL, đặc

biệt là đội ngũ CBQL giáo dục.

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Hồ Chủ Tịch đã đặc biệt

quan tâm, chỉ đạo phát triển đội ngũ CBQL giáo dục để phục vụ cho sự

nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những quan

điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục là định hướng đúng đắn

cho việc đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện đội ngũ giáo viên mới và CBQL giáo

dục. Bằng nhiều bài viết, bài nói chuyện về giáo dục, Người khẳng định:

“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại

đều do cán bộ tốt hay kém” [Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB chính trị

quốc gia, Hà Nội - 2000].

Từ những cách tiếp cận khác nhau, kể cả xu hướng kế thừa và phát triển,

các nhà nghiên cứu như Thái Duy Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Gia Quý,

Trần Kiều, Phạm Viết Vượng, …trong các công trình nghiên cứu của mình

đã bàn về công tác quản lý giáo dục và những vấn đề có liên quan đến việc

xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục. Đáng chú ý là các tác phẩm

“Cơ sở khoa học quản lý” của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc;

“Những luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong

thời kỳ CNH – HĐH” của Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm.

Xét về góc độ nghiên cứu quản lý giáo dục, dựa trên quan điểm của chủ

nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học tiếp cận quản

6



lý giáo dục và quản lý trường học để đề cập đến việc phát triển, xây dựng

công tác quản lý nhà trường, tiêu biểu có: "Phương pháp luận khoa học giáo

dục" của Phạm Minh Hạc; "Khoa học quản lý giáo dục – Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn " của Trần Kiểm.

Trên thực tế có nhiều công trình khoa học nghiên cứu biện pháp phát

triển đội ngũ CBQL trường học của nhiều tác giả.Về lĩnh vực GDMN, đã có

nhiều bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí. Song việc đi sâu nghiên

cứu về các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL GDMN hiện nay ở các địa

phương chưa được quan tâm nhiều. Những năm gần đây, một số luận văn

thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục đã nghiên cứu về phát triển đội ngũ

CBQL trường MN. Tuy nhiên, chưa có đề tài luận văn thạc sĩ nào đề cập đến

công tác phát triển đội ngũ CBQL trường MN của tỉnh Nam Định. Tình trạng

này dẫn đến công tác phát triển đội ngũ CBQL trường MN tỉnh Nam Định

chưa có những biện pháp dựa trên các cơ sở lý luận và có giá trị về thực tiễn.

Do đó, chúng tôi thấy cần có một nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này và

tìm ra một số biện pháp quản lý khả thi để phát triển đội ngũ CBQL trường

MN đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Quản lý, chức năng quản lý, kỹ năng quản lý, tầm quan trọng của các

kỹ năng quản lý

1.2.1.1. Quản lý

Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã

hội. Về nội dung, thuật ngữ "Quản lý" được hiểu bằng nhiều cách khác nhau

và định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trong giáo trình: Khoa học quản

lý (Tập 1. NXB Khoa học kỹ thuật- Hà nội,1999) đã ghi rõ:

"Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công

việc qua những nỗ lực của người khác.

7



Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người

cộng sự khác cùng chung một tổ chức.

Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá

nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.

Quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó..."

Một số nhà khoa học đã đưa ra các quan niệm và định nghĩa về quản lý

như sau:

- Theo Omarốp: Quản lý là tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm

thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu [29]

- Theo Aunapu (Nhật Bản): Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học

và nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là vào những con người

nhằm đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội xác định [29]

- Theo E.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người

khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt

nhất và dễ nhất” [29].

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là những tác động có định

hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ

chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định [23].

- Theo Trần Kiểm: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong

việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn

lực trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt

được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [29].

- Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là tác

động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến

khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho các tổ

chức vận hành và đạt được các mục đích của tổ chức” [21]

Với nội hàm của các định nghĩa trên, chúng tôi thấy:



8



- Quản lý là một hoạt động, trong đó có tác động của người quản lý (chủ

thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) và luôn luôn gắn liền

với hoạt động của tổ chức.

- Quản lý là để đạt tới mục tiêu nhất định.

- Sự tác động có định hướng (hướng tới mục tiêu của tổ chức) được chủ

thể quản lý phải hợp quy luật, nghĩa là đúng với lý luận và thực tiễn).

Với những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy: “Quản lý một tổ chức là

tác động có chủ đích và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng và

khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu”.

1.2.1.2. Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là phương thức, nội dung và quy trình tác động của

chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong quá trình quản lý.

Có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác nhau về số

lượng chức năng và tên gọi các chức năng) song về thực chất các hoạt động

có những bước đi giống nhau để đạt tới các mục tiêu. Theo quan điểm quản

lý hiện đại có thể khái quát một số chức năng cơ bản sau đây:

+) Kế hoạch hoá: là chức năng đầu tiên của một quá trình quản lý, nó

có vai trò khởi đầu, định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản

lý. Kế hoạch hoá là việc dựa trên những thông tin luật pháp, chính sách và

quy chế hoạt động, về bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân sự, về tài lực và vật

lực, về môi trường hoạt động và về các thông tin có liên quan đến tổ chức;

mà vạch ra mục tiêu hoạt động, dự kiến nguồn lực, thời gian, các phương tiện

và điều kiện, đồng thời chỉ ra các biện pháp thực hiện mục tiêu.

+) Tổ chức: là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý, nó có vai trò

hiện thực hoá các mục tiêu của tổ chức. Tổ chức là việc thiết lập cấu trúc bộ

máy, bố trí nhân lực và xây dựng cơ chế hoạt động; đồng thời ấn định chức

năng, nhiệm vụ cho các bộ phận và cá nhân; quy định cơ chế hoạt động; huy

động, sắp xếp và phân bổ các nguồn lực vật chất nhằm thực hiện mục tiêu đã có.

9



+) Chỉ đạo: là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý, nó có vai

trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu. Chỉ đạo là việc

hướng dẫn công việc, liên kết, liên hệ, động viên, kích thích, giám sát các bộ

phận và mọi cá nhân thực hiện kế hoạch đã có theo đúng dụng ý đã xác định

trong chức năng tổ chức.

+) Kiểm tra: là chức năng cuối cùng của một quá trình quản lý, nó có

vai trò giúp cho chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ.

Kiểm tra là việc theo dõi và đánh giá mọi hoạt động của từng đơn vị hoặc của

mỗi cá nhân trong tổ chức bằng nhiều phương pháp và hình thức (trực tiếp

hoặc gián tiếp, thường xuyên hoặc định kỳ,...) nhằm so sánh kết quả hoạt

động với mục tiêu đã xác định để nhận biết về chất lượng và hiệu quả các

hoạt động đó. Từ đó tìm ra những điểm tốt, chưa tốt và những sai phạm để từ

đó đưa ra các quyết định phát huy, điều chỉnh hoặc xử lý.

1.2.1.3. Các kỹ năng quản lý, tầm quan trọng của các kỹ năng quản lý

Các cấp quản lý đều cần hội tụ đủ các kỹ năng quản lý: kỹ năng kỹ thuật

chuyên môn, kỹ năng liên nhân cách, kỹ năng khái quát hoá, kỹ năng giao

tiếp ( truyền thông):

* Kỹ năng kỹ thuật chuyên môn:

Để quản lý một bộ phận hay toàn bộ tổ chức, người quản lý cần phải vận

dụng các phương pháp, kỹ thuật, biện pháp hay qui trình cụ thể, chuyên biệt

trong các lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Người quản lý sẽ phải sử dụng các

kỹ năng kỹ thuật ở nhiều cung bậc, nhiều cấp độ và họ phải học hỏi những kỹ

năng ấy ở nhiều người trong tổ chức.

* Kỹ năng liên nhân cách:

Kỹ năng liên nhân cách bao gồm khả năng lãnh đạo chỉ dẫn, động viên,

xử lý xung đột và làm việc cùng với mọi người. Khác với các kỹ năng kỹ

thuật chủ yếu liên quan tới các sự vật, kỹ năng liên nhân cách trực tiếp liên

quan đến con người. Người quản lý có kỹ năng liên nhân cách giỏi sẽ là

người biết động viên, khuyến khích, thúc đẩy người dưới quyền tham gia vào

10



quá trình ra quyết định, để họ tự thể hiện mình, tự trình bày quan điểm của

mình mà không e ngại bị bẽ bàng. Đó cũng là những người biết tôn trọng quí

mến người khác và được mọi người quí mến tôn trọng.

* Kỹ năng khái quát hoá:

Kỹ năng khái quát hoá đòi hỏi biết nhìn nhận, đánh giá tổ chức như một

thể thống nhất và biết áp dụng các khả năng kế hoạch hoá và khả năng tư

duy. Một người quản lý có kỹ năng khái quát hoá tốt sẽ có thể thấy rõ các bộ

phận, các chức năng khác nhau trong tổ chức có liên hệ với nhau như thế nào;

sự biến đổi của bộ phận này sẽ ảnh hưởng ra sao đến bộ phận kia. Người

quản lý sử dụng kỹ năng khái quát hoá để chuẩn đoán và đánh giá các biện

pháp quản lý khác nhau có thể dẫn đến kết quả tích cực...

* Kỹ năng giao tiếp (truyền thông)

Kỹ năng giao tiếp truyền thông là khả năng phát và nhận thông tin, ý

tưởng, cảm xúc, thái độ. Khi phải sắm các vai trò quản lý, người quản lý cần

phải có kỹ năng giao tiếp cơ bản về nói, viết và diễn đạt bằng cử chỉ (nét mặt,

các cử chỉ bằng tay, cái nhún vai...)

* Tầm quan trọng của các kỹ năng quản lý:

Các cấp quản lý đều hội tụ đủ các kỹ năng nói trên, nhưng mức độ sẽ

không giống nhau ở các cấp quản lý khác nhau. Lược đồ dưới đây cho ta thấy

mức độ của các kỹ năng tuỳ thuộc vào các cấp quản lý như thế nào:

Chuyên môn - Kỹ thuật

Liên nhân cách - Giao tiếp

Nhận thức - Khái quát

CBQL cấp cao



CBQL cấp trung gian



CBQL cấp thấp



Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa kỹ năng quản lý và người quản lý các cấp



11



1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý GDMN

1.2.2.1.Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội và là một loại hình

quản lý đặc biệt phong phú. Về nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều

cách hiểu khác nhau: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động

điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục,

đào tạo mọi người theo yêu cầu phát triển xã hội.

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách

thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới kết quả mong muốn.

Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) đến toàn bộ các

phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận

hành theo đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục để đạt

tới mục tiêu giáo dục.

Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp qui luật của

chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành

bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục

phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.

Ở thời đại ngày nay, với việc thực hiện triết lý giáo dục thường xuyên và

triết lý học suốt đời thì có thể hiểu: Quản lý giáo dục là sự tác động có mục

đích, có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của chủ thể

quản lý giáo dục lên toàn bộ các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đưa hoạt

động giáo dục đạt tới kết quả mong muốn (xây dựng và hoàn thiện nhân cách

người lạo động phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH).

Từ quan điểm trên, quản lý giáo dục được hiểu theo các cấp độ khác nhau

(Quản lý giáo dục cấp độ vĩ mô và quản lý giáo dục cấp độ vi mô).

- Quản lý giáo dục cấp độ vĩ mô được nhìn nhận ở góc độ quản lý nhà

nước của các cơ quan quản lý giáo dục. Cụ thể: quản lý giáo dục được hiểu là

những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp

quy luật) của chủ thể quản lý giáo dục trong việc huy động, tổ chức, điều phối,

12



điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân

lực, vật lực, tài lực) nhằm đạt tới mục tiêu phát triển của cả hệ thống giáo dục

và đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH.

- Quản lý giáo dục cấp độ vi mô được nhìn nhận ở góc độ quản lý giáo

dục tại các cơ sở giáo dục (trường học) với các tác động của chủ thể quản lý

của các cơ sở đó (HT nhà trường) một cách có ý thức, có mục đích, có kế

hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của HT đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập

thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà

trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà

trường mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ và góp

phần đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến.

1.2.2.2. Quản lý GDMN

Quản lý GDMN là quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục

trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi nhằm đạt được mục tiêu GDMN: giúp trẻ phát triển

về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mỹ, hình thành những yếu

tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.

1.2.3. Quản lý trường học, và quản lý trường MN

1.2.3.1. Quản lý trường học

Quản lý trường học là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý

(HT) đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ giáo dục khác; huy động

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực thúc đẩy mọi hoạt

động giáo dục của nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế

hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới về chất.

1.2.3.2. Quản lý trường MN

Quản lý trường MN là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản

lý trường MN (HT) đến tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên nhằm huy động

tối đa các tiềm lực vật chất và tinh thần của xã hội, nhà trường và gia đình để

thực hiện mục tiêu GDMN nói chung và thực hiện có hiệu quả kế hoạch phát

triển nhà trường.

13



1.2.4. Đội ngũ, đội ngũ CBQL, những bổn phận chính yếu của đội ngũ cán

bộ quản lý nói chung, CBQL trường MN nói riêng

1.2.4.1. Đội ngũ

Theo Từ điển Tiếng Việt “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người

cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động

trong một hệ thống (tổ chức) nhất định” [33]

Khái niệm đội ngũ có liên quan đến với khái niệm nguồn nhân lực. Nguồn

nhân lực có thể hiểu là tổng thể tiềm năng lao động của một đất nước, một cộng

đồng cả trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động. Đội ngũ của một tổ

chức cũng chính là nguồn nhân lực trong tổ chức đó. Chính vì vậy, các đặc trưng

về phát triển đội ngũ gắn liền với những đặc điểm phát triển tổ chức nói chung và

đặc trưng của công tác cán bộ nói riêng.

1.2.4.2. Đội ngũ CBQL trường MN

Trước hết đội ngũ CBQL GDMN là những CBQL giáo dục chịu trách

nhiệm quản lý hoạt động GDMN trên phương diện quản lý vĩ mô (hệ thống

GDMN) và vi mô (các cơ sở GDMN - trường MN, trường mẫu giáo và nhà trẻ).

Đội ngũ CBQL trường MN là đội ngũ CBQL GDMN có trách nhiệm

trực tiếp quản lý GDMN tại các trường MN, trường mẫu giáo hoặc nhà trẻ.

Đối với một tỉnh, đội ngũ CBQL GDMN gồm tất cả các HT, các PHT,

các tổ trưởng làm việc tại các cơ sở GDMN của tỉnh đó.

Đối với một cơ sở GDMN, đội ngũ CBQL GDMN gồm HT, các PHT,

các tổ trưởng trong cơ sở GDMN.

Như trên luận văn đã được xác định rõ, Luận văn này tập trung vào đội

ngũ cán bộ quản lý là HT, PHT trường MN công lập tỉnh Nam định.

1.2.4.3. Những bổn phận chính yếu của đội ngũ cán bộ quản lý nói chung, CBQL

trường MN nói riêng

+ Bổn phận chính của người quản lý cấp thấp: phải học cách để đơn

vị, bộ phận của họ hoà nhập, làm việc nhịp nhàng, ăn khớp với toàn bộ tổ

14



chức và học cách chia xẻ sự phục vụ của đội ngũ cán bộ nhân viên dưới

quyền với những người quản lý khác.

Người quản lý cấp thấp thường cần đến những kỹ năng, kỹ thuật đủ

mạnh để "dạy bảo", chỉ dẫn những người thuộc quyền và giám sát họ thực

hiện nhiệm vụ hàng ngày. Người quản lý cấp thấp có hiệu quả phải là người

học cách " tựa vào" những trợ thủ kỹ thuật của mình. Muốn vậy, người quản

lý cấp thấp cần rèn luyện kỹ năng giao tiếp, kỹ năng liên nhân cách để có

được trợ giúp kỹ thuật cần thiết.

+ Bổn phận chính của người quản lý cấp trung gian: xem xét đánh giá

kế hoạch hoạt động, công tác của các nhóm khác nhau, giúp các nhóm đó xác

định ưu tiên, phải thương thảo và phối trí hoạt động của các nhóm đó. Người

quản lý cấp trung gian cũng phải xem xét việc xác định ngày tháng dự kiến

mà công việc hay dịch vụ phải hoàn thành; họ phải xây dựng tiêu chuẩn đánh

giá đối với thành tựu công tác, phải quyết định việc cung cấp các nguồn lực

cho những dự án, phải chuyển hoá những mục tiêu tổng quát của người quản

lý cấp cao thành các kế hoạch hành động, lịch biểu và biện pháp cụ thể.

+ Bổn phận chính của người quản lý cấp cao: chịu trách nhiệm trực

tiếp trong việc xem xét kế hoạch toàn diện của tổ chức, làm việc với những

cán bộ cấp trung gian để thực hiện kế hoạch này và duy trì sự kiểm soát toàn

diện đối với mọi hoạt động của tổ chức.

CBQL nói chung, hiệu trưởng của một trường MN nói riêng tuỳ thuộc

mối quan hệ của họ trong HTGD hay với cơ sở GD phụ trách mà đảm nhận

bổn phận người quản lý hoặc cấp thấp, cấp trung gian hay cấp cao.

1.2.5. Phát triển, phát triển đội ngũ, phát triển đội ngũ CBQL trường MN

1.2.5.1. Phát triển

Theo triết học duy vật biện chứng, phát triển là quá trình vận động đi

lên, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ chưa biết đến biết, từ biết ít

đến biết nhiều,...



15



Theo từ điển tiếng Việt “Phát triển là lớn lên về mặt kích thước, độ rộng

(số lượng) hay về mặt giá trị, tầm quan trọng (chất lượng)”[33].

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo – Bài giảng kinh tế học giáo dục: “Phát

triển là tăng cả về chất lượng và số lượng làm cho hệ giá trị được cải tiến,

được hoàn thiện” [25]

1.2.5.2. Phát triển đội ngũ

Phát triển đội ngũ trong một tổ chức chính là phát triển nguồn nhân lực,

hay gọi là nguồn lực con người của tổ chức đó. Nguồn nhân lực được xem

xét trên cơ sở tổng thể các chỉ số phát triển con người mà con người có được

nhờ sự trợ giúp của xã hội và sự nỗ lực của bản thân, là tổng thể sức mạnh

thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lý tưởng, chất lượng

văn hóa, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản

thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì

sự phát triển và tiến bộ xã hội.

Phát triển đội ngũ là quá trình vận động đi lên để đảm bảo cho đội ngũ

đó có đủ về mặt số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo,

có được phẩm chất và năng lực đảm đương tốt sứ mạng của cả tổ chức và các

nhiệm vụ mà xã hội giao cho từng cá nhân và cả tổ chức.

1.2.5.3. Phát triển đội ngũ CBQL trường MN

Trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài, phát triển đội ngũ

CBQL trường MN là: Làm thế nào các cơ sở GDMN có đội ngũ HT và PHT

đạt được những yêu cầu chủ yếu:

- Đủ về số lượng theo quy định trong Luật Giáo dục và Điều lệ trường MN.

- Đồng bộ về cơ cấu: tuổi đời và thâm niên công tác, giới, người dân tộc,

chuyên ngành đào tạo.

- Đạt chuẩn về trình độ đào tạo: theo quy định trong Điều lệ trường MN

và khuyến khích đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo, trình độ quản lý và trình

độ lý luận chính trị.



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

×