1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON TỈNH NAM ĐỊNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.65 MB, 123 trang )


CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG MẦM NON

TỈNH NAM ĐỊNH

2.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định

2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế



BIỂN ĐÔNG



2.1.1.1. Vị trí địa lý và dân số

Nam Định- vùng đất nằm ở hạ châu thổ sông Hồng, thời Lê Trịnh là trấn

Sơn Nam hạ, năm 1822 đổi tên thành Trấn Nam Định và năm 1832 tỉnh Nam

Định được thành lập. Từ năm 1890 đến 1965 Nam Định không có sự thay

đổi. Năm 1996 đến nay, Nam Định có vị trí phía đông giáp tỉnh Thái Bình,

tây giáp Ninh Bình, nam và đông nam giáp biển đông với 72 km bờ biển,

phía bắc giáp tỉnh Hà Nam. Nam Định có 42 km đường sắt xuyên Việt đi

qua, đường quốc lộ 10, quốc lộ 21 dài 108 km đã và đang được đầu tư nâng

36



cấp thành đường chiến lược ven biển Bắc bộ, với 251 km đường sông của các

sông Hồng, sông Đào, sông Đáy, sông Ninh cơ; có cảng sông Nam Định,

cảng sông Cồn Nhất, cảng biển Thịnh Long rất thuận tiện phát triển vận tải

thuỷ. Nam Định tự hào là quê hương của 14 đời vua nhà Trần lừng lẫy hào

khí Đông A. Trong suốt 175 năm trị vì, Nam Định có vị trí như một kinh đô

thứ hai của nước Đại Việt. Truyền thống văn hoá, văn vật bắt đầu từ đây,

nhiều nhân tài của đất nước bắt đầu xuất hiện. Ngày nay có thể nói, Nam

Định là một vùng văn hoá, xã hội và kinh tế đã được hình thành trong lịch sử

lâu dài của đất nước và của vùng châu thổ với những sắc thái riêng, truyền

thống riêng, các khu vực liền kề không thể có được.

Nam Định có 09 huyện và 01 thành phố, diện tích tự nhiên là

1.637,4km2 (đứng hàng thứ 50/61 tỉnh thành) với dân số 1.888.409 người

(điều tra dân số năm 1999) là một trong 6 tỉnh có dân số đông nhất cả nước,

là thành phố cấp 2 nhưng dân cư chỉ chiếm 12,4%, còn lại là dân cư nông

thôn (trong đó có 90% số lao động không có chuyên môn). Là tỉnh đông

dân, mật độ dân số rất cao, diện tích canh tác lại hạn hẹp, điều đó tác động

và ảnh hưởng nhiều đến kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Song, dù khó

khăn đến đâu, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Nam Định quyết tâm phấn

đấu vươn lên xây dựng quê hương xứng đáng với truyền thống: " Hào khí

Đông A, tiếp nối anh hùng trong vượt khó. Tinh thần Nam Định, phát huy

trí tuệ để bay cao" (Trích lời của Giáo sư Vũ Khiêu tặng Đại hội Đảng bộ

Nam Định lần thứ 17)

2.1.1.2. Tình hình phát triển kinh tế

Kinh tế của tỉnh có bước phát triển về qui mô, hiệu quả. Tốc độ tăng

trưởng bình quân 10,2%/ năm. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch phù hợp

với định hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần và quá trình CNH- HĐH.

Nền kinh tế từng bước thích ứng với cơ chế mới, tiếp tục ổn định và đạt

được sự tăng trưởng khá. Nhịp độ tăng trưởng GDP năm 2009 đạt 9.465 tỷ,

37



tăng 7,15% so với năm 2008, năm 2010 ước tính đạt 10.363 tỷ. Sản xuất công

nghiệp phát triển với tốc độ tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng bình quân

20,5%/ năm. Sản xuất nông nghiệp ổn định và có bước phát triển; giá trị sản

xuất bình quân tăng 3,8%/ năm, duy trì truyền thống thâm canh lúa ( năng

suất lúa bình quân đạt 118,4 tạ/ha/năm); chuyển dần sang sản xuất hàng hoá,

tăng hiệu quả sản xuất; đảm bảo an ninh lương thực, sản lượng lương thực

đạt 950 nghìn tấn/ năm; giá trị thu được trên 1 ha canh tác năm 2010 đạt 70

triệu đồng. Các ngành dịch vụ hoạt động ổn định, giá trị tăng bình quân

9,1%/ năm. Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt 12.324.000đ

/người/năm, năm 2010 ước tính đạt 14.452.000đ/người/ năm.

2.1.2. Tình hình phát triển về văn hóa xã hội

2.1.2.1. Tình hình chung

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện.

Các hoạt động văn hóa xã hội, các phong trào của nhân dân ngày càng phát

triển và đạt được nhiều kết quả thiết thực. Chính trị xã hội ổn định, quốc

phòng an ninh được giữ vững, các phong trào dân chủ ngày càng mở rộng.

Giáo dục và đào tạo phát triển cả về quy mô, chất lượng. Trong 3 năm

học gần đây Nam Định là đơn vị dẫn đầu toàn quốc về chất lượng giáo dục và

đào tạo: đó là tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT, tỷ lệ học sinh giỏi đạt giải quốc

gia và điểm bình quân vào đại học và cao đẳng. Phong trào xã hội hóa giáo

dục có chiều hướng phát triển tốt; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy

và học được tăng cường.

Nam Định cũng có nhiều cố gắng giải quyết việc làm cho người lao

động. Năm 2010 có 33 nghìn lao động đã có việc làm. Công tác xóa đói,

giảm nghèo được quan tâm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.

Chính sách dân tộc, tôn giáo cũng được chú trọng.

Bên cạnh những thành quả đạt được, Nam Định còn nhiều vấn đề đặt

ra phải giải quyết và hoàn chỉnh để phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH:

38



- Mức tăng trưởng của tỉnh qua các năm có mức tăng liên tục, nhưng chưa

xứng đáng với tiềm năng, chưa phát huy đầy đủ và đúng mức các nguồn lực.

- Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và phát

triển kinh tế.

- Đời sống một số bộ phận dân cư, nhất là ở vùng ven biển gặp nhiều

khó khăn. Lao động thiếu việc làm còn nhiều, tỉ lệ hộ nghèo còn cao.

- Hệ thống Y tế - Giáo dục – đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của người

dân, yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế hiện nay ở tỉnh Nam Định.

2.1.2.2. Tình hình phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định

Năm 1996, ngay sau khi tái lập tỉnh, ngành GD- ĐT Nam Định đã vượt

qua khó khăn thử thách, từng bước ổn định và đã xây dựng được bộ máy giáo

dục với tất cả các cấp học. Cùng với sự thay đổi cơ cấu kinh tế cả nước, sự

phát triển KT – XH của tỉnh, ngành GD- ĐT Nam Định trong những năm qua

đã có những bước phát triển quan trọng trên tất cả các mặt quy mô, chất

lượng và hiệu quả.

a) Quy mô trường lớp: Mạng lưới trường lớp các ngành học, cấp học

không ngừng được củng cố và phát triển ở khắp các địa phương trong tỉnh

theo đúng đề án quy hoạch, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng học tập của con

em nhân dân.

Bảng 2.1. Tình hình trường lớp MN, Phổ thông tỉnh Nam Định

năm học 2009 – 2010

TT

1

2

3

4



Giáo viên

trực tiếp

MN

259

3.520

107.822

6.073

Tiểu học

290

4.418

28.231

6.702

THCS

245

3.175

28.457

8.162

THPT

54

57.589CL

1.253

23.748

9.995NCL

(Nguồn: Phòng tổng hợp của Sở Giáo dục - Đào tạo Nam Định)

Cấp học



Trƣờng



Lớp



39



Học sinh



Ngoài hệ thống các trường MN, Phổ thông, tỉnh Nam Định có 16 trung

tâm GDTX trong đó 14 trung tâm cấp huyện, 02 trung tâm cấp tỉnh; 01 trung

tâm Ngoại ngữ và Tin học; 01 trung tâm THKT-HNDN; 01 trung tâm BDTC

Tỉnh; 6 trường TCCN; 5 trường Cao đẳng; 4 trường Đại học. Hàng năm thu

hút một lượng lớn học sinh sinh viên vào các trường Đại học, Cao đẳng,

THCN và các trung tâm, nhằm phục vụ nhu cầu về nguồn nhân lực cho địa

phương. Năm học 2009 – 2010 có 53.260 sinh viên đại học và cao đẳng, gần

2.657 người theo học các lớp bồi dưỡng và 4.183 người học liên kết, liên

thông đại học, cao đẳng. Đối tượng theo học là cán bộ viên chức các cơ quan

nhà nước, cán bộ chủ chốt ở địa phương.

Hiện đã có 229/229 xã, phường, thị trấn thành lập trung tâm học tập

cộng đồng nhằm phục vụ nhu cầu học tập của nhân dân.

Ngoài các hình thức đào tạo trên, ngành GD&ĐT còn liên kết các

trường đại học ngoài tỉnh tổ chức đại học tại chức, đại học từ xa,… để nâng

cao trình độ cho đội ngũ CBQL và giáo viên các cấp học.

b) Chất lượng giáo dục và đào tạo:

Nam Định đã được Bộ GD&ĐT công nhận phổ cập giáo dục tiểu học

năm 1991, PCGD tiểu học đúng độ tuổi năm 1999, đạt chuẩn PCGD THCS

năm 2001. Năm học 2009 – 2010 tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 99,78%

(là năm thứ 4 liên tục dẫn đầu toàn quốc),

Kết quả này khẳng định sự cố gắng vươn lên không ngừng nhằm nâng

cao chất lượng và hiệu quả GD- ĐT tỉnh Nam Định.

Trong những năm học qua, các trường học ở tỉnh Nam Định đã thực

hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh”, Chỉ thị 06 của Bộ Chính trị gắn với các cuộc vận động của ngành

“Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; cuộc

vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo";

40



phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Bằng

nhiều biện pháp, các cuộc vận động trên đã được triển khai, quán triệt và tổ

chức chỉ đạo thực hiện một cách đồng bộ đến từng cán bộ, giáo viên, nhân

viên, học sinh và các lực lượng tham gia giáo dục trong cộng đồng.

Đến nay, hầu như không còn hiện tượng học sinh ngồi nhầm lớp, quy

chế thi cử được triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc; đánh giá xếp loại

học sinh đảm bảo công bằng, không chạy theo thành tích. Nhiều thầy, cô giáo

và đội ngũ CBQL giáo dục đã ý thức hơn về vai trò, vị trí và nhiệm vụ của

mình; hạn chế việc dạy thêm, học thêm tràn lan mà chủ yếu giúp đỡ các em

vượt qua khó khăn trong học tập và cuộc sống. Kỷ cương, nề nếp dạy và

học được đảm bảo, dạy đủ các môn quy định, không có hiện tượng cắt xén

chương trình.

c) Đội ngũ giáo viên:

Những năm gần đây, ngành giáo dục đào tạo đã chú trọng triển khai

dự án “đào tạo và đào tạo lại đội ngũ giáo viên” đảm bảo đủ số lượng, đồng

bộ về cơ cấu các bộ môn, từng bước đạt chuẩn và nâng chuẩn đào tạo; có đủ

giáo viên cho tất cả các ngành học, cấp học; tiếp tục đào tạo chuẩn hóa và

nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên trẻ. Thực hiện

tốt chương trình bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 2004 – 2007. Hiện tại trong

toàn ngành có: giáo viên MN: 93,5% đạt chuẩn, trên chuẩn là 33,5%; giáo

viên tiểu học đạt chuẩn: 99,71 % , trên chuẩn là 79,62; giáo viên THCS:

97,6% đạt chuẩn, trên chuẩn là 21,7%; giáo viên THPT: 99,5% đạt chuẩn

và trên chuẩn là 5,8%; GDTX: 98,2% đạt chuẩn, trên chuẩn: 1,0%; GDCN:

100% đạt chuẩn và trên chuẩn là 30,4%.



41



Tỉ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn của đội ngũ giáo viên tỉnh Nam Định

năm học 2009-2010

100

80

60

40

20

0



Đạt chuẩn

Trên chuẩn

MN Tiểu học THCS THPT GDTX GDCN



Sơ đồ 2.1: Tỉ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn của đội ngũ giáo viên

tỉnh Nam Định năm học 2009 - 2010

Ngành GD- ĐT Nam Định đã thường xuyên chú trọng công tác đào tạo

và bồi dưỡng đội ngũ CBQL cho các trường học. Thông qua việc quy hoạch

đội ngũ CBQL, Sở đã lựa chọn và cử nhiều cán bộ đi bồi dưỡng nghiệp vụ

quản lý ở Trung ương và địa phương.

d) Cơ sở vật chất:

Trong những năm qua, với sự quan tâm của Chính phủ, Bộ GD&ĐT,

Tỉnh Ủy và UBND tỉnh Nam Định trong việc đầu tư cho giáo dục từ nguồn

ngân sách và sự đóng góp tích cực, hiệu quả của các lực lượng xã hội, cơ sở

vật chất – trang thiết bị kỹ thuật của ngành giáo dục có bước phát triển cả về

số lượng và chất lượng. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất

lượng dạy và học của ngành Giáo dục- Đào tạo Nam Định. Tính đến nay, hầu

hết các trường đều có đủ phòng học, bàn ghế, thư viện, phòng chức năng.

Ngành đã quan tâm điều tiết kinh phí và tập trung đầu tư cơ sở vật chất, sắp

xếp và nâng cấp mạng lưới trường lớp hiện có, trang bị khá đầy đủ các

phương tiện kỹ thuật phục vụ cho việc đổi mới giáo dục phổ thông.



42



Tóm lại, GD-ĐT tỉnh Nam Định đã hội tụ được một số điều kiện thuận

lợi để phát triển, phục vụ cho công cuộc CNH – HĐH; đã đạt được những

thành tựu đáng kể: đã xác lập được cơ cấu mới của HTGDQD và mở ra

những tiềm năng phát triển, đã thực hiện một cách đồng bộ mục tiêu nâng

cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; từng bước nâng cao chất

lượng và hiệu quả đào tạo. Tuy nhiên, GD-ĐT Nam Định còn nhiều hạn chế

cần quan tâm khắc phục:

- Mặt bằng chất lượng đại trà giáo dục phổ thông còn chênh lệch.

- Chất lượng, cơ cấu đội ngũ CBQL và giáo viên còn nhiều bất cập.

- Việc đổi mới quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý

giáo dục thực hiện chưa đồng đều giữa các trường và các cơ sở đào tạo.

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ phát triển

mạng lưới trường lớp còn nghèo, thiếu thốn nhất là đối với các cơ sở GDMN.

2.2. Về phát triển giáo dục mầm non tỉnh Nam Định

2.2.1. Thực trạng giáo dục MN tỉnh Nam Định

2.2.1.1. Quy mô, mạng lưới trường lớp, loại hình trường

Trong nhiều năm qua, tỉnh Nam Định đã triển khai thực hiện đa dạng

hoá các loại hình trường lớp, đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, tăng

cường huy động trẻ đến lớp, đảm bảo tỷ lệ trẻ 5 tuổi đến trường ngày càng

cao. Tính đến năm học 2010- 2010 Nam Định hiện có 259 trường MN,

trong đó 258 trường MN công lập, 01 trường MN tư thục, 114 nhóm lớp

MN tư thục.

Do đặc thù của từng địa phương, việc phân bố các trường MN không

đồng đều, 259 trường MN được phân bố trên 227 xã phường, thị trấn; 196 xã

(phường, thị trấn) có 01 trường MN; có 30 xã, phường thị trấn có 2 trường

MN, 01 xã có 3 trường MN. Một số trường, nhóm lớp MN phân tán ở nhiều

điểm lẻ, nhất là khu vực nông thôn có từ 7 đến 10 điểm trường; 45,6% các cơ

sở nhóm lớp MN tư thục do chưa đủ điều kiện nên chưa được cấp giấy phép

43



hoạt độngSố trẻ trong độ tuổi MN được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

trong các cơ sở giáo dục MN ngày một tăng. Tính đến tháng 5/2010 tỉ lệ trẻ

ra nhà trẻ đạt 48,3%, trẻ ra lớp mẫu giáo đạt 95,9%, trẻ 5 tuổi ra lớp đạt

99,9% tổng số trẻ trong độ tuổi. Trẻ khuyết tật được giáo dục hoà nhập tại

các cơ sở GDMN đạt tỉ lệ 60,8% ở nhà trẻ và 73% ở mẫu giáo.

2.2.1.2. Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục

Trẻ MN được chăm sóc giáo dục theo chương trình quy định của Bộ

Giáo dục và Đào tạo, chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong

các cơ sở GDMN từng bước được nâng cao. Tỉ lệ nuôi ăn bán trú tại trường

MN đạt 84%. Các cơ sở GDMN có tổ chức nuôi dưỡng trẻ đã thực hiện

nghiêm túc việc ký hợp đồng sử dụng thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an

toàn thực phẩm, trong nhiều năm qua các cơ sở giáo dục MN không để xảy ra

ngộ độc thực phẩm. Hàng năm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm từ 0,5 đến 1,0%

so với năm học trước. Hiện nay tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong các trường MN

còn 9%. Trẻ được chăm sóc và giáo dục trong trường MN phát triển khá tốt:

Trẻ khoẻ, nhanh nhẹn, hồn nhiên, hào hứng tham gia các hoạt động giao lưu,

có nhận thức sơ đẳng về thế giới xung quanh; có thói quen đạo đức, hành vi

văn minh, vệ sinh và tự phục vụ; thông minh ham hiểu biết, thích tìm tòi

khám phá. Vì vậy, GDMN Nam Định đã thu hút ngày càng đông trẻ MN đến

trường, đặc biệt trẻ mẫu giáo 5 tuổi đạt trên 99% trẻ trong độ tuổi. Kết quả

đánh giá sự phát triển trẻ MN (theo 5 lĩnh vực phát triển: thể chất, ngôn ngữ,

nhận thức, tình cảm- xã hội, thẩm mỹ) trong năm học 2009 - 2010 cho thấy:

Trong 25451 trẻ 5 tuổi được đánh giá, kết quả đạt 98,7% theo mong đợi ở độ

tuổi (25120/25451 trẻ).

Thực tế khẳng định rằng hầu hết trẻ 5 tuổi đã qua trường lớp MN chuẩn

bị vào lớp 1 tốt, trẻ trở nên tự tin, dễ thích nghi với môi trường lớp học mới;

trẻ tham gia vào các hoạt động, các mối quan hệ dễ dàng hơn.



44



Tuy vậy, tỉ lệ trẻ được nuôi dưỡng ở một số trường nông thôn còn thấp

do chưa đủ điều kiện về cơ sở vật chất, một số nơi mức đóng góp ăn cho trẻ/

ngày chưa cao. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở một số trường MN nông thôn còn

từ 11- 15%. Hiện còn 16% các trường MN chưa thực hiện chương trình giáo

dục MN mới do chưa đủ điều kiện phòng học, phòng chức năng và trình độ

đội ngũ. Một số nhóm, lớp MN tư thục chất lượng còn hạn chế, do điều kiện

chăm sóc, nuôi dưỡng cũng thiếu, trình độ, năng lực giáo viên cũng hạn chế

nên ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của trẻ.

2.2.1.3. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên

Đội ngũ cán bộ, quản lý, giáo viên MN nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có

trách nhiệm cao trong công tác được giao. Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân

viên của các trường MN công lập là 7.060 người, trong đó: trong biên chế :

1.050 (14,9%) , ngoài biên chế: 6.010 người (85,1%)

Cán bộ quản lý: Trình độ chuyên môn đạt chuẩn 100%, trong đó trên

chuẩn đạt 82,4%.

Giáo viên MN: Tỉ lệ giáo viên đứng lớp đạt chuẩn 93% , trong đó có

28,4% trên chuẩn.

Trong những năm gần đây, chế độ chính sách đối với đội ngũ CBQL,

giáo viên ngoài biên chế được tỉnh quan tâm, cải thiện từng bước. Hiện nay,

tỉnh hỗ trợ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên ngoài biên chế theo trình độ đào tạo.

Hầu hết đội ngũ này đã được tham gia đóng BHXH, BHYT. Tuy vậy, đời

sống của đội ngũ này còn rất khó khăn so với mặt bằng thu nhập chung, chưa

tương xứng với trình trình độ đào tạo và công sức lao động.

2.2.1.4. Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất các trường MN từng bước được quan tâm đầu tư, cải tạo,

nâng cấp, càng thuận lợi hơn khi UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo điều tiết từ

nguồn trái phiếu Chính phủ trong năm 2008, 2009 ưu tiên cho GDMN, đã



45



xoá 739 phòng học cấp IV. Toàn tỉnh có 91 trường MN đạt chuẩn quốc gia,

đạt tỉ lệ 35,1%.

Đối chiếu với quy định tại điều lệ trường MN, các trường còn thiếu 408

phòng học. Hiện còn 1.412 phòng học cấp IV, 48 phòng học tạm, 83 phòng

học nhờ. Tình trạng thiếu phương tiện, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho

trẻ ở một số trường còn khá phổ biến. Thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi hầu

hết do cô giáo tự làm hoặc do cha mẹ trẻ đóng góp.

2.2.1.5. Đánh giá chung

a) Kết quả đạt được

Trong những năm qua, quy mô phát triển giáo dục MN Nam Định luôn

ổn định, phát triển, tỉ lệ huy động trẻ ra lớp đảm bảo ngang bằng với các tỉnh

trong khu vực. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được nâng cao với nhiều

biện pháp sáng tạo, linh hoạt và hiệu quả. Đội ngũ cán bộ giáo viên nhiệt

tình, yêu nghề, có trách nhiệm, tỉ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn tăng đều hàng

năm. Cơ sở vật chất các trường MN được quan tâm đầu tư cải tạo, nâng cấp,

hàng năm có từ 6 -10 trường đạt chuẩn quốc gia.

Trong năm học 2009- 2010, Sở GD- ĐT Nam Định đã tham mưu để Hội

đồng nhân dân tỉnh ra quyết định số 141/2010/NQ- HĐND ngày 9 tháng 7

năm 2010 về việc phát triển giáo dục MN tỉnh Nam Định đến năm 2015 với

một số nội dung chính như sau:

1. Chuyển đổi 237 trường MN bán công sang trường MN công lập, hoạt

động theo điều lệ trường MN; đảm bảo trên địa bàn mỗi xã, phường, thị trấn

có ít nhất 01 trường.

2. 100% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em

năm tuổi vào năm 2015.

3. Sắp xếp đủ về số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, GVMN

để đáp ứng yêu cầu phát triển GDMN. Trường hạng I được bố trí 7 biên chế,



46



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

×