1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NAY ĐẾN 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.66 MB, 122 trang )


về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu vừa

phải tăng nhanh quy mô vừa phải bảo đảm nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục”.

+ Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ sẽ tiếp tục phát triển với những

bước nhảy vọt trong thế kỷ XXI, điều đó tác động đến sự thay đổi phương pháp

dạy học của GV “ Nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung

cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư

duy phân tích và tổng hợp”

*Chỉ thị số 40- CT/TW của Ban bí thư về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

Chỉ thị nêu rõ:

+ “ Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

được chuẩn hoá, thường xuyên đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về

cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống,

lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý phát triển đúng định

hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo

nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

+ “ Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo

dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ về số lượng và cân đối về cơ

cấu, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo,

cán bộ giáo dục”.

*Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X

Văn kiện đại hội nêu rõ:

“ Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương

trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để

68



tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận

với trình độ của khu vực và thế giới khắc phục cách đổi mới, chắp vá thiếu tầm

nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ. Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện

đại, của dân, do dân, vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi

người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. [10, tr206-207]

3.1.2- Xuất phát từ các quan điểm chiến lược về phát triển GDMN

3.1.2.1- Các quan điểm chiến lược về phát triển GDMN của Đảng, Nhà nước

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của đảng (tháng 6/1999) đã đề ra

nhiệm vụ “Phát triển GDMN, tăng tỷ lệ trẻ được chăm sóc ở gia đình, nhà trẻ

hoặc nhóm trẻ, nâng cao hiểu biết cho những người chăm sóc trẻ em ở gia đình.

Đưa hầu hết trẻ em trong độ tuổi váo lớp mẫu giáo lớn để chuẩn bị học tiểu học”.

- Nghị quyết Hội nghị lần 2 BCH TWĐ khoá VIII (tháng 12/1999) chỉ ra

mục tiêu phát triển GDMN đến 2020 “xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc

học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ

cho các gia đình”.

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ : “Chăm lo phát

triển GDMN, mở rộng hệ thống nhà trẻ và các lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn

dân cư, đặc biệt ở vùng nông thôn và những vùng khó khăn...”

3.1.2.2- Quan điểm chiến lược về phát triển GDMN của Bộ GD&ĐT

Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng về phát triển GDMN Bộ GD&ĐT xác

định mục tiêu chung của GDMN đến năm 2020 như sau:

Thực hiện CSGD có chất lượng trẻ từ 0-5 tuổi để trẻ phát triển toàn diện

về thể lực, tình cảm, trí tuệ, xã hội, hình thành nhân cách trẻ Việt Nam trên cơ

sở xây dựng một đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn cũng như kỹ năng tư

69



vấn tại gia đình và các loại hình GDMN đa dạng, phong phú tương ứng với một

CSVC phù hợp, hướng tới đảm bảo công bằng cho mọi trẻ em.

3.1.2.3- Mục tiêu phát triển Giáo dục mầm non thành phố Hải Phòng đến năm 2010

Theo Đề án phát triển GDMN Hải Phòng từ năm 2005-2010 gồm các

mục tiêu cụ thể sau:

1- Tiếp tục mở rộng quy mô giáo dục mầm non

2- Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục mầm non

3- Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên

4- Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị và kinh phí giáo dục mầm non

5- Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các bậc cha mẹ, cộng đồng và

tuyên truyền về giáo dục mầm non

6- Tăng cường công tác quản lý : Thực hiện các văn bản quy phạm pháp

luật về GDMN; Phát huy hiệu quả các dự án; Tăng cường công tác kiểm tra,

thành tra; Thực hiện cải cách hành chính.

Đề án phát triển GDMN Hải Phòng từ năm 2005-2010 gồm có 6 mục tiêu

cụ thể trong đó có mục tiêu thứ 3 là Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ quản lý và giáo viên được nhấn mạnh như sau:

+ Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình bồi dưỡng GVMN; thực hiện

quản lý và đánh giá GVMN nhằm đảm bảo chất lượng đội ngũ ứng với trình độ

được đào tạo, bồi dưỡng.

+ Các cơ sở GDMN tạo điều kiện và khuyến khích giáo viên tự học tập

nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tu dưỡng đạo đức nhà giáo, vận

dụng những kiến thức bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ II vào công tác giáo dục trẻ.



70



+ Về chính sách đối với giáo viên : Các cơ sở GD&ĐT tích cực tham

mưu với UBNN quận, huyện triển khai thực hiện Quyết định số 161/2002/QĐTTg ngày 15/11/2002; Chú trọng sắp xếp đội ngũ cho phù hợp giữa nhà trẻ và

mẫu giáo, giữa nuôi và dạy để đảm bảo chất lượng đồng đều và toàn diện.

3.1.3- Xuất phát từ sự phát triển của thành phố Hải Phòng và nhiệm vụ của

giáo dục Hải Phòng trong sự nghiệp xây dựng thành phố công nghiệp hiện đại

* Tháng 12 năm 2005 Đại hội đại biểu thành phố Hải Phòng đã thành

công tốt đẹp. Trong văn kiện Đại hội nêu rõ:

+ Phấn đấu Hải Phòng là một trong những địa phương đi đầu trong sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

+ Phát triển theo hướng thực sự trở thành một trọng điểm về kinh tế biển,

một trong những trung tâm công nghiệp thương mại lớn của cả nước, trung tâm

dịch vụ du lịch, thuỷ sản, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, thể dục

thể thao của vùng duyên hải Bắc bộ, một pháo đài bất khả xâm phạm về an ninh.

* Để làm tròn trách nhiệm cao cả và nặng nề của mình, ngành giáo dục

và Đào tạo Hải Phòng đã đề ra “ Chương trình hành động thực hiện nghị quyết

đại hội X của Đảng và nghị quyết đại hội XIII Đảng bộ thành phố trong lĩnh

vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề” gồm có 12 chương trình. Trong 12 chương

trình đều có những yếu tố và nội dung liên quan đến hoạt động bồi dưỡng giáo

viên đặc biệt ở chương trình 4 “ Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ

CBQL và nhà giáo” đã được Giám đốc Sở trực tiếp làm chủ nhiệm chương trình

để chỉ đạo sâu sát xuống các cơ sở. Nội dung chủ yếu của chương trình này là :

+ Tổng điều tra, rà soát đội ngũ cán bộ, giáo viên của ngành về số lượng,

về chất lượng, xây dựng kế hoạch bổ sung, bố trí, sử dụng; phối hợp chặt chẽ

với các trường Đại học, các viện bồi dưỡng để đào tạo lại, đào tạo bổ sung.



71



+ Phấn đấu 100% giáo viên Hải Phòng có trình độ đạt chuẩn, nâng cao tỉ

lệ giáo viên trình độ trên chuẩn. Xây dựng mẫu hình người CBQLGD giỏi, xây

dựng phong cách nhà giáo Hải Phòng.

3.1.4- Xuất phát từ thực trạng đội ngũ GVMN Hải Phòng

- Đội ngũ GVMN Hải Phòng như đã phân tích ở trên nhìn chung có tinh

thần trách nhiệm cao, sáng tạo vượt khó khăn, yên tâm công tác, say sưa tâm

huyết với nghề, ham học hỏi phấn đấu vươn lên không ngừng. Đội ngũ giáo

viên được chuẩn hoá nhanh, tỉ lệ giáo viên có trình độ đạt chuẩn trở lên cao hơn

so với mặt bằng chung của bậc học và ngày càng nâng cao về chất lượng. Tuy

đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề chuyên

môn, song GVMN Hải Phòng chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng

GDMN. Một số lượng nhỏ giáo viên chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn

thậm chí chưa được đào tạo.

- Để thực hiện nâng cao chất lượng CSGD, yếu tố quan trọng đó là đội

ngũ giáo viên. Thực hiện đúng theo Điều lệ trường mầm non phải có 2giáo viên/

lớp, trên thực tế đội ngũ giáo viên mầm non Hải Phòng còn thiếu nhiều (phần lớn

ở các vùng nông thôn chủ yếu 1—>1,5 giáo viên/ lớp).

Theo quy hoạch về đội ngũ giáo viên mầm non thành phố Hải Phòng giai

đoạn 2005-2010 thể hiện như sau:

Bảng 3.1 : Dự báo số lượng CBGV mầm non Hải Phòng

cần bổ sung giai đoạn quy hoạch từ 2005-2010

Nhu cầu

CBGV



Có ở đầu giai

đoạn



Hao hụt

CBGV



Bổ sung

CBGV cuối

giai đoạn



Giáo viên nhà trẻ



2510



2031



190



669



Giáo viên mẫu giáo



4488



3221



263



1530



Các chỉ số



72



Tổng số giáo viên



6998



5252



453



2199



Cán bộ quản lý



912



722



60



441



Tổng CBGV



7910



5974



513



2630



Nguồn : Phòng Giáo dục mầm non Sở GD&ĐT Hải Phòng

Bảng 3.2: Dự tính số lượng đội ngũ giáo viên có trình độ đạt chuẩn

cần được bổ sung và đào tạo đến năm 2010

Số lƣợng GV

có trình độ

chuẩn đầu giai

đoạn



Nhu cầu GV có

trình độ chuẩn cuối

giai đoạn



Số GV có

trình độ chuẩn

nghỉ hƣu



Số lƣợng GV có

đào tạo chuẩn cần

bổ sung



Giáo viên



4663



6998



89



2624



Cán bộ QL



772



912



60



250



5235



7910



149



3015



Các chỉ số



Tổng

ĐNGV



số



Nguồn : Phòng Giáo dục mầm non Sở GD&ĐT Hải Phòng

Theo các con số tính toán của quy hoạch phát triển đội ngũ GVMN đến

năm 2010 thì đội ngũ GVMN Hải Phòng liên tục phải bổ sung về số lượng và

phải được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về chất lượng mới đáp ứng được yêu cầu

CSGD trẻ.

- Hải Phòng là một trong 10 tỉnh, thành phố thực hiện thí điểm chương

trình GDMN mới từ năm học 2005- 2006. Đây là chương trình khung của Bộ

Giáo dục và đào tạo đưa ra thực hiện thí điểm, trong tương lai chương trình

được triển khai trên diện rộng. Chương trình này đòi hỏi giáo viên hoàn toàn

chủ động sáng tạo trong cách xây dựng nội dung, lựa chọn phương pháp, thiết

kế tổ chức hoạt động một cách linh hoạt. Việc thực hiện chương trình đổi mới

73



đòi hỏi một đội ngũ giáo viên có chất lượng, luôn luôn được bồi dưỡng, cập

nhật kiến thức, nâng cao trình độ kỹ năng tay nghề.

3.1.5- Quan điểm xây dựng các biện pháp

3.1.5.1- Đội ngũ giáo viên là lực lượng quan trọng nhất, là linh hồn của hoạt

động nhà trường. Chất lượng của đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo

dục của nhà trường. Một đội ngũ giáo viên có chất lượng tốt làm cho nhà trường

phát triển đi lên bền vững, là yếu tố để xác định danh tiếng, uy tín của một nhà

trường. Nhà quản lý phải đề ra được những biện pháp tốt để quản lý công tác

bồi dưỡng giáo viên làm cho đội ngũ này đủ mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển

kinh tế, xã hội của đất nước.

3.1.5.2- Quản lý bồi dưỡng giáo viên là quản lý về kế hoạch, nội dung bồi

dưỡng đồng thời chỉ đạo kiểm tra kịp thời để hoạt động đó diễn ra bình thường,

liên tục và có hiệu quả. Trong quản lý phải chú ý các hình thức tổ chức bồi

dưỡng đa dạng và nội dung bồi dưỡng phải toàn diện từ nâng cao nhận thức tư

tưởng lối sống phẩm chất đạo đức đến chuyên môn và nghiệp vụ.

3.1.5.3- Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ là trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể

và các cấp chính quyền nhưng trước hết là trách nhiệm của người quản chỉ đạo

chuyên môn. Quản lý bồi dưỡng giáo viên là một nội dung quản lý quan trọng

để phát triển nhà trường, nâng cao chất lượng giáo dục.

3.1.5.4- Muốn quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên có kết quả người quản lý

phải nắm vững đường lối giáo dục của Đảng, tình hình phát triển của đất nước,

sự phát triển của khoa học và công nghệ trước hết là nắm vững các văn bản chỉ

đạo của Bộ và Sở GD&ĐT về bồi dưỡng giáo viên từ đó căn cứ thực tế để đề ra

các biện pháp quản lý có hiệu quả.

3.1.6- Mục tiêu chung các giải pháp hướng tới



74



Mục tiêu chung các giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng GVMN phải đạt được là:

1- Mỗi GVMN được nâng lên về nhận thức, trách nhiệm, trình độ chuyên

môn, năng lực sư phạm, phẩm chất đạo đức để đáp ứng yêu cầu đổi mới nội

dung, phương pháp, tổ chức hình thức theo hướng tích cực hoá cá nhân trẻ,

chuẩn bị thực hiện chương trình GDMN mới trên diện đại trà.

2- Hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các cơ sở GDMN đi vào nền nếp trở

thành nhu cầu, thành hoạt động thường xuyên tự giác của từng giáo viên và

từng tổ, nhóm chuyên môn.

3- Đội ngũ GVMN ngày một trưởng thành, có tinh thần hợp tác trong bồi

dưỡng chuyên môn và hoạt động giáo dục, có nhiều cốt cán xuất sắc phát huy

tác dụng không chỉ ở trong phạm vi ở từng trường mầm non mà ảnh hưởng đến

phạm vi GDMN toàn thành phố Hải Phòng.



3.2- Các giải pháp quản lý nâng cao chất lƣợng bồi dƣỡng đội ngũ GVMN

Hải Phòng từ nay đến 2015

3.2.1- Giải pháp thứ nhất: Tuyên truyền giáo dục tư tưởng nâng cao nhận

thức về vị trí vai trò người GVMN, tầm quan trọng của nội dung hoạt động

bồi dưỡng giáo viên cho cán bộ giáo viên và các cấp quản lý

Trong các giải pháp quản lý việc bồi dưỡng nhận thức rất quan trọng.

Đây là giải pháp phát huy nhân tố con người, tôn trọng con người, giúp con người nâng cao nhận thức để hành động tự giác và đúng hướng, tạo sự tương tác

tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, biến chủ thể bị quản lý thành

chủ thể quản lý tự giác thực hiện kế hoạch đề ra và tự kiểm tra việc thực hiện kế

hoạch đó. Trong quản lý con người điều quan trọng là làm cho con người xác

định được vị trí của mình đối với công việc, tầm quan trọng của công việc và

nội dung công việc mà họ phải làm để từ đó họ tự định hướng vạch chương

75



trình thực hiện công việc một cách tự giác. Giải pháp bồi dưỡng nâng cao nhận

thức con người xuất phát từ cơ sở khoa học là: Nhận thức là cơ sở của thái độ và

hành vi của con người, nhận thức đúng sẽ có hành vi và thái độ đúng. Con người nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu công việc mà nhà

quản lý đưa ra từ đó họ sẽ có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu đó.

Trong bồi dưỡng GVMN người cán bộ quản lý phải làm cho đối tượng

quản lý của mình thấy được vai trò vị trí người GVMN, tầm quan trọng của

công tác bồi dưỡng đối với người giáo viên và các nội dung bồi dưỡng để họ tự

giác thực hiện.

3.2.1.1- Mục tiêu của giải pháp

Làm cho cán bộ giáo viên và các cấp quản lý nhận thức rõ vai trò, vị trí

của người GVMN, tầm quan trọng và nội dung hoạt động bồi dưỡng là yêu cầu

cấp thiết của nghề nghiệp và lợi ích của cộng đồng từ đó tự giác, tự quản quá

trình bồi dưỡng.

3.2.1.2- Nội dung của giải pháp

- Làm cho giáo viên và các cấp quản lý hiểu rõ sự phát triển mạnh mẽ của

khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay, xu thế cạnh tranh và hội nhập là

thời cơ thách thức đối với giáo dục nước ta; sự lạc hậu về tri thức dẫn đến sự trì

trệ trong công việc sẽ tụt hậu và bị đào thải.

- Làm cho giáo viên và các cấp quản lý nhận thức rõ trách nhiệm và vai trò

của người GVMN trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo

dục là đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội; Người giáo viên quyết định chất lượng

giáo dục trong một nhà trường và trong nền giáo dục của cả đất nước. Xã hội

tôn vinh người giáo viên. Người giáo viên phải không ngừng phấn đấu vươn lên

để xứng đáng với sự tôn vinh đó.



76



- Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng giáo viên là cập nhật

kiến thức, phương pháp mới tránh tụt hậu, là nâng cao năng lực chuyên môn

nghiệp vụ và phẩm giá. Trong hoàn cảnh hiện nay nếu người GVMN không tích

cực tham gia bồi dưỡng sẽ không đủ sức đảm đang công việc của mình theo yêu

cầu của chương trình mới.

- Khơi dậy ở giáo viên lòng ham học, lòng yêu nghề, nhiệt tình tâm huyết với

nghề, tự tin với nghề và các mong muốn đóng góp nhiều cho sự phát triển xã hội.

- Nắm vững quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng đặc biệt nắm vững

đường lối giáo dục của Đảng và Bác Hồ củng cố niềm tin vào sự nghiệp cách

mạng do Đảng lãnh đạo.

3.2.1.3- Cách thức tiến hành

Bồi dưỡng nâng cao nhận thức không phải là hô hào chung chung mà

phải có những hoạt động cụ thể thiết thực để tạo điều kiện cho giáo viên và các

cấp quản lý nâng cao nhận thức của mình. Các hình thức tổ chức mang ý nghĩa

nâng cao nhận thức thường là:

- Tổ chức các hội thi cho GVMN tham gia thi tìm hiểu về Đảng, đất nước

về lịch sử, về CSGD mầm non... Một mặt giáo viên củng cố nâng cao kiến thức

của mình và để nhận thức ra rằng chỉ không ngừng học tập bồi dưỡng thì mới

bổ sung được những kiến thức còn khiếm khuyết. Mặt khác các cấp quản lý

cũng hiểu rõ vai trò, vị trí của người GVMN, tầm quan trọng của công tác bồi

dưỡng giáo viên.

- Tổ chức các hội thảo sinh hoạt chuyên đề để giáo viên được trình bày ý

kiến của mình, cùng tranh luận bàn bạc về những vấn đề khoa học, nghiệp vụ

chuyên môn từ đó mọi người sẽ thấy rằng nếu không học tập bồi dưỡng sẽ bị lạc

hậu với thời đại. Để mọi người thấy rằng không chỉ có chuyên môn yếu mới

phải bồi dưỡng, không chỉ nước nghèo mới cần bồi dưỡng giáo viên mà tất cả

77



các giáo viên và tất cả các nước đều đặt vấn đề bồi dưỡng giáo viên xem như

một giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục.

3.2.1.4- Điều kiện thực hiện:

- Nhà quản lý GDMN phải nắm vững các văn bản như Luật giáo dục, Chiến

lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001 - 2010, các văn bản chỉ đạo về BDGV,

các chỉ thị nghị quyết của Đảng và Chính phủ về nâng cao chất lượng giáo viên

để có cách trình bày thuyết phục.

- Nhà quản lý GDMN phải nắm vững quy chế, chủ trương, chính sách, vừa

là nhà khoa học có lý luận, biết trình bày vấn đề sâu sắc vừa có nghệ thuật tác

động vào nhận thức của giáo viên và các cấp quản lý.

- Nhà quản lý GDMN phải xây dựng được không khí sư phạm cởi mở và

đoàn kết, mọi người tự giác thực hiện công việc của mình trong niềm vui được

hoàn thành nhiệm vụ, được tiến bộ được tôn trọng và khẳng định.

* Tóm lại: Giải pháp bồi dưỡng để cán bộ giáo viên và các cấp quản lý

nâng cao nhận thức vai trò, vị trí của người GVMN, tầm quan trọng của công

tác bồi dưỡng là giải pháp quản lý nâng cao ý thức trách nhiệm, đả thông về tư

tưởng để thấy rõ việc bồi dưỡng giáo viên là việc cần làm, phải làm và làm tốt.

Người giáo viên muốn nâng cao trình độ của mình để làm tốt công tác CSGD

trẻ, để khẳng định vị trí mình trước đồng nghiệp và phụ huynh không có con

đường nào khác là phải luôn luôn học tập và bồi dưỡng. Giải pháp bồi dưỡng

nâng cao nhận thức không tồn tại độc lập mà nó hỗ trợ tích cực cho các giải

pháp khác trong quản lý BDGV.

3.2.2 - Giải pháp thứ hai: Kế hoạch hoá công tác bồi dưỡng

Để đạt được mục đích nâng cao chất lượng bồi dưỡng GDMN việc cần

làm đầu tiên trong công tác quản lý của các nhà quản lý là phải xây dựng kế

hoạch bồi dưỡng. Kế hoạch đó phải được xây dựng một cách hệ thống, hoàn

78



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

×