1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

3- Giáo viên mầm non

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.66 MB, 122 trang )


nghề sư phạm “Còn gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực

góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản”.

Giáo viên chính là người thực hiện mục tiêu cơ bản của giáo dục đào tạo

nhằm xây dựng con người và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân

tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và

bảo vệ tổ quốc, có trí tuệ và sáng tạo trong lao động...

Luật giáo dục quy định giáo viên phải có những tiêu chuẩn sau :

a./ Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt.

b./ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn.

c./ Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.

d./ Lý lịch bản thân rõ ràng.[11 Điều 70 ]

Những tiêu chuẩn này không những đòi hỏi GVMN am hiểu chuyên môn,

nghiệp vụ mà còn phải rèn luyện phẩm chất đạo đức nâng cao nhận thức tư

tưởng, nắm vững đường lối của Đảng của Nhà nước, nói tiếng nói của Đảng

trong công tác CSGD trẻ mầm non.

Xuất phát từ mục tiêu đào tạo nhà trẻ - mẫu giáo được quy định trong

Quyết định 55 ngày 03/02/1990 của Bộ GD&ĐT đã xác định vai trò của GVMN

: “Là lực lượng chủ yếu có vai trò quyết định trong sự nghiệp giáo dục mầm

non”. [3,tr27]

Đội ngũ GVMN vừa trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, vừa

quản lý lớp trong mối quan hệ nhà trường, gia đình trẻ và xã hội. Họ là người

mẹ thứ hai đối với trẻ, giúp trẻ hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách

con người mới phát triển toàn diện.

Mỗi lớp mẫu giáo, mỗi nhóm trẻ được coi như một đơn vị giáo dục cơ sở,

một tế bào của tập thể nhà trường. Thành tích chất lượng của nó gắn liền với

thành tích chất lượng của nhà trường. Vì thế GVMN có thể được coi là thay mặt



24



hiệu trưởng, chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng làm công tác nuôi dạy trẻ và

quản lý nhóm lớp.

1.3.1- Nhiệm vụ của giáo viên mầm non

Người GVMN có nhiệm vụ :

- Thực hiện nghiêm chỉnh nội quy, qui chế của nhà trẻ, trường mẫu giáo,

thực hiện đầy đủ chương trình, kế hoạch giáo dục (hàng ngày, hàng tuần, hàng

tháng, cả năm) phù hợp với điều kiện của từng nhà trẻ, trường mẫu giáo.

- Gần gũi phối hợp chặt chẽ với cha mẹ để thống nhất việc chăm sóc,

nuôi dưỡng, giáo dục trẻ và tuyên truyền cho cha mẹ trẻ những kiến về khoa

học về nuôi dạy trẻ.

- Làm đồ chơi, đồ dùng dạy học, đảm bảo và sử dụng tốt trang thiết bị,

tài sản của nhóm, lớp phụ trách.

- Đoàn kết, nhất trí và phấn đấu xây dựng nhóm, lớp, trường tiên tiến.

- Phấn đấu tự rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt theo tiêu chuẩn quy

định. [3,tr27]

Các nhiệm vụ trên có liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó nhiệm vụ thứ

nhất là cơ bản, là trọng tâm của người giáo viên. Thực hiện tốt các nhiệm vụ

khác chính là tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ thứ nhất.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình, yêu cầu mỗi GVMN phải thực

sự thương yêu tôn trọng trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao, phải qua các lớp đào

tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, nắm được quan điểm mục tiêu đào tạo,

nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, biết vận dụng vào thực tiễn nhằm

nâng cao chất lượng CSGD trẻ.

1.3.2- Yêu cầu về phẩm chất năng lực giáo viên mầm non

Lao động sư phạm của người GVMN là lao động rất đặc thù. Tính đặc

thù biểu hiện ở đối tượng lao động, phương tiện lao động, thời gian và hiệu quả

lao động.

25



Đối tượng lao động của GVMN là trẻ dưới 6-7 tuổi đang trong thời kỳ

phát triển quan trọng nhất, là thời kỳ đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách

của con người. Đây là lứa tuổi vừa non nớt, vừa tăng trưởng phát triển nhanh,

đồng thời rất nhạy cảm với mọi tác động. Những can thiệp trong việc CSGD trẻ

càng thích hợp bao nhiêu càng tạo nên những nền tảng vững chắc bấy nhiêu cho

những tiến bộ sau này của trẻ. GVMN không chỉ làm việc giáo dục mà còn phải

chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu phát triển cân đối về thể chất cũng như tinh

thần. Cô giáo mầm non lấy quan hệ tình cảm mẹ con, cô cháu thân thiết làm yếu

tố quyết định trong quan hệ với trẻ, ngoài ra cô còn là nhà hoạt động xã hội trên

cương vị người truyền bá các quan điểm giáo dục tiến bộ. Vì vậy GVMN phải

là người có trình độ khoa học nuôi dạy trẻ, có năng lực sư phạm và có phẩm

chất nghề nghiệp cần thiết mới hoàn thành được nhiệm vụ giao phó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về vấn đề giáo dục đã nói: “Công tác giáo

viên và mẫu giáo có khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích đào tạo những

người công dân tốt, cán bộ tốt cho Tổ quốc, cho Chủ nghĩa xã hội. Điều trước

tiên là dạy cho các cháu về đạo đức. Anh chị em giáo viên và mẫu giáo cần luôn

luôn gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo” [19,tr140]

Khẳng định nhân cách của người giáo viên quyết định kết quả chăm sóc

giáo dục trẻ, KiD.Usinxki nhà giáo dục nổi tiếng của Nga đã nói: Không còn

nghi ngờ gì, chất lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vào không khí chung của nhà

trường, nhưng quan trọng hơn vẫn là nhân cách của người giáo viên, người

thường xuyên tiếp xúc với trẻ, ảnh hưởng của nhân cách người giáo viên lên

tâm hồn trẻ tạo nên một sức mạnh giáo dục to lớn mà sách giáo khoa, các lời

thuyết giáo đạo đức, khen thưởng và trách phạt không thể thay đổi.

Chính vì vậy người GVMN cần phải có những phẩm chất năng lực cơ

bản như Bác Hồ đã dặn dò cán bộ mẫu giáo: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy

trẻ. Muốn làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải

26



bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ cũng như trồng cây non.

Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt.” [19,tr140]

Người GVMN trước hết phải thiết tha hứng thú với nghề nghiệp, yêu

mến, tôn trọng trẻ, là tấm gương hàng ngày đối với trẻ ; lòng yêu nghề là động

lực giúp cho người giáo viên gắng bó với trẻ, biểu hiện ở tấm lòng nhân hậu, vị

tha, công bằng, tế nhị và chu đáo với trẻ. Đây là yếu tố quyết định đối với hoạt

động sư phạm của người GVMN.

Người GVMN cần phải có ý chí cao, tính tình cởi mở, kiên quyết nhưng

kiên nhẫn, biết tự kiềm chế. Những nét tính cách đó cần cho mọi người nhưng

đặc biệt cần thiết cho người GVMN vì công việc của họ phải tỉ mỉ công phu, tốn

nhiều công sức mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ CSGD trẻ.

Người GVMN cần có năng lực giao tiếp, biết sử dụng cách biểu đạt bằng

ngôn ngữ, khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và diễn

biến tâm lý bên trong của trẻ. Biết cách định hướng, điều chỉnh quá trình giao

tiếp để đạt tới mục đích đã định. Năng lực này là mẫu hình về giao tiếp cho trẻ

trong tương lai.

Những phẩm chất năng lực đó được hình thành và phát huy nhờ quá trình

đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và rèn luyện trong học tập, công tác của mỗi

người GVMN.



1.4- Khái niệm bồi dƣỡng và giải pháp quản lý bồi dƣỡng GVMN

1.4.1- Khái niệm bồi dưỡng

Để có thể hiểu được khái niệm bồi dưỡng, chúng ta phải đề cập đến một số

khái niệm có liên quan.

 Đào tạo

Từ điển bách khoa Việt Nam- Hà Nội 1995: Đào tạo là quá trình tác động

đến một con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức - kỹ năng kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc

27



sống và có khả năng nhận được sự phân công lao động nhất định, góp phần của

mình vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người

[35,tr49]. Như vậy đào tạo là hình thành ở người học một trình độ mới, cao hơn

trình độ trước đó của họ. Người được đào tạo sẽ được nâng từ trình độ thấp lên

trình độ cao hơn và điều đó được khẳng định bằng một văn bằng tương ứng.

 Đào tạo lại

Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Đào tạo lại là một dạng của đào tạo, là

quá trình tạo cho người lao động (đã được đào tạo) có cơ hội được học tập

được đào tạo chuyên sâu một lĩnh vực chuyên môn với một cách cơ bản, có hệ

thống cả về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nhằm mục đích có trình độ, tay

nghề cao hơn hoặc có thể chuyển đổi được công việc [35,tr49]. Như vậy, đào

tạo lại cũng có nội dung gần với đào tạo. Đào tạo lại được tiến hành trong

trường hợp người lao động không đáp ứng được yêu cầu của công việc hiện tại.

Họ cần được chuyên môn hoá cao hơn hoặc chuyển đổi sang một công việc

khác mà những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được trang bị không đủ đáp ứng

yêu cầu công việc.

 Bồi dưỡng

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực

hoặc phẩm chất.

Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu như sau:

+ Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để

nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt

động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua

một hình thức đào tạo nào đó.

+ Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra

khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên môn,

nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghề nghiệp.

Theo Nguyễn Minh Đường: "Bồi dưỡng có thể là một quá trình cập nhật kiến

28



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

×