1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.66 MB, 111 trang )


sở cho việc xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và trƣờng THPT nói

riêng.

Những năm gần đây, một số học viên đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc

lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục làm luận văn tốt

nghiệp:

Tại trƣờng ĐHGD - ĐHQG Hà Nội: Ngô Thị Kiều Oanh chọn đề tài

“Những giải pháp phát triển đội ngũ CBQL phòng, ban của trƣờng Đại học

KHXH & Nhân văn - Đại học QGHN trong giai đoạn hiện nay” ( năm 2007),

Đoàn Mạnh Cƣơng chọn đề tài “Biện pháp quản lý, phát triển đội ngũ CBQL

trƣờng Cao đẳng du lịch Hà Nội” ( Năm 2007), Trần Hải Bằng chọn đề tài

“Phát triển dội ngũ CBQL trƣờng Tiểu học Trực Ninh - Nam Định trong giai

đoạn hiện nay” (Năm 2010).

Tại Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội trong một số luận văn thạc sĩ

chuyên ngành QLGD có những tác giả nghiên cứu cùng hƣớng với đề tài nhƣ:

Nguyễn Thế Long (2005), Phùng Quang Thơm (2005), Nguyễn Xuân Trƣờng

(2006), Nguyễn Hữu Chƣơng (2006), Lê Diên Phƣơng (2007), Nguyễn Bích

Ngân (2007).

Các công trình nghiên cứu trên đây, cơ bản giải quyết những vấn đề lý

luận cũng nhƣ thực tiễn về xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trƣờng học

ở một số địa phƣơng. Tuy nhiên, vấn đề phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng

THPT tỉnh Thái Bình thì chƣa có tác giả nào đề cập nghiên cứu.

Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực trạng đội ngũ CBQL trƣờng

THPT, thực trạng công tác phát triển đội ngũ CBQL trƣờng THPT của Sở

giáo dục và Đào tạo Thái Bình cũng nhƣ lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi

chọn đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ

thông tỉnhThái Bình ” để nghiên cứu.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài



1.2.1 Quản lý



Ngay từ khi con ngƣời bắt đầu hình thành các nhóm, để thực hiện mục

tiêu mà họ không thể đạt đƣợc với tƣ cách cá nhân riêng lẻ, thì cách QL đã là

một yếu tố cần thiết để đảm bảo sự phối hợp của những cá nhân. Vì chúng ta

ngày càng dựa vào sự nỗ lực chung, nhiều nhóm có tổ chức trở nên rộng lớn

hơn, cho nên nhiệm vụ QL ngày càng quan trọng. Hoạt động QL bắt nguồn từ

sự phân công lao động, mục đích của hoạt động quản lý nhằm tăng năng suất

lao động, cải tạo cuộc sống. Để đạt đƣợc mục tiêu trên cơ sở kết hợp các yếu

tố con ngƣời, phƣơng tiện... thì cần có sự tổ chức và điều hành chung, đó

chính là quá trình quản lý.

Hiện nay vẫn còn tồn tại khá nhiều những khái niệm, định nghĩa về quản lý.

- Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả ngƣời Mỹ

H.Kootz đã đƣa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo

phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức. Mục

đích của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trƣờng mà trong đó con

ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất

và sự bất mãn cá nhân ít nhất” .

- Frederick Winslow Taylo thì cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều

bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc

một cách tốt nhất và rẻ nhất”.

Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã đƣa ra các khái niệm quản lý:

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt

động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý

(người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức

nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích đề ra”

Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của các tác giả: Đặng Quốc

Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Hoạt động quản lý

nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục đích đặt ra, tiến đến trạng thái có

chất lƣợng mới”



Tác giả Đặng Quốc Bảo tổng thuật: Quản lý thực chất là “Nắm” và

“Buông”. Trong “Nắm” có “Buông”, trong “Buông” có “Nắm”. Muốn “Nắm”

thì phải “Buông”, “Buông” để “Nắm”, chỉ nắm cái gì cần nắm, chỉ buông cái

gì cần buông.

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là

những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối

tượng quản lý nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù

hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả

nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí

của chủ thể quản lý.

Nhƣ vậy quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật; là khoa học vì nó là

những tri thức đƣợc hệ thống hoá và là đối tƣợng nghiên cứu khách quan đặc

biệt. Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là mối

quan hệ giữa chủ thể và khách thể quảnlý. Là nghệ thuật bởi nó là hoạt động

đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và vận dụng linh hoạt trong việc sử dụng

những kinh nghiệm đã quan sát đƣợc, những tri thức đã đƣợc đúc kết nhằm

tác động một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý. Quản lý thể hiện

việc tổ chức, điều hành, tập hợp con ngƣời, công cụ, phƣơng tiện, tài

chính…để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt đƣợc mục tiêu định trƣớc.

Chủ thể muốn kết hợp đƣợc các hoạt động của đối tƣợng theo một định hƣớng

của quản lý thì phải tạo ra đƣợc “quyền uy” buộc đối tƣợng phải tuân thủ và

tuân thủ một cách tự giác.

Chức năng quản lý: Chức năng QL là nội dung, phƣơng thức hoạt động

cơ bản mà nhờ nó chủ thể QL tác động đến đối tƣợng QL thông qua quá trình

QL nhằm thực hiện mục tiêu QL.

Các công trình nghiên cứu về khoa học QL tuy chƣa thật đồng nhất

nhƣng về cơ bản các nhà khoa học đều khẳng định 4 chức năng QL cơ bản đó

là: Chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo điều hành

và chức năng kiểm tra đánh giá.



* Chức năng kế hoạch hoá: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá

trình QL Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi tiềm năng đã

có và sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt

động và các biện pháp lớn nhỏ nhằm đƣa hệ thống đến trạng thái mong muốn.

Có 3 nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá:

- Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức

- Xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu.

- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đƣợc mục tiêu đó.

* Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các

quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm

cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của

tổ chức. Nếu ngƣời QL biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát

huy đƣợc sức mạnh của tập thể. Lê Nin đã khẳng định: “Liệu một trăm có

mạnh hơn một ngàn hay không? Có chứ! Khi mà một trăm đƣợc tổ chức lại.

Tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên mƣời lần”

* Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lƣợng vào việc thực hiện kế

hoạch, là phƣơng thức tác động của chủ thể QL, điều hành mọi việc nhằm

đảm bảo cho hệ vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là biến mục tiêu QL thành kết

quả, biến kế hoạch thành hiện thực.

* Chức năng kiểm tra: Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ QL. Giai

đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tƣ vấn, uốn nắn, sửa chữa và bổ

sung, điều chỉnh chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo.

Sơ đồ 1.1. Chức năng cơ bản của quản lý

Kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Chỉ đạo



Tổ chức



Bản chất của hoạt động quản lý:

Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”. Xét về

ý nghĩa kinh tế - xã hội thì hoạt động quản lý bao gồm hai mặt gắn bó với

nhau: Quản và Lý. Quản là coi sóc giữ gìn: duy trì sự ổn định của hệ. Lý là

sửa sang, sắp xếp: đổi mới tạo ra sự phát triển của hệ. Hệ ổn định mà không

phát triển tất yếu hệ sẽ suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ

dẫn đến rối ren. Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự suy thoái và rối ren. Nếu

ngƣời đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn

thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới việc “lý” tức là chỉ lo việc

sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt nên tảng của sự ổn định, thì sự phát

triển của tổ chức không bền vững. Trong “quản” phải có “lý” trong “lý” phải

có” quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động, hệ vận động phù hợp,

thích ứng và có hiệu quả trong mối tƣơng tác giữa các nhân tố bên trong với

các nhân tố bên ngoài.

Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hƣớng, điều tiết,

phối hợp các hoạt động của cấp dƣới, của những ngƣời dƣới quyền. Biểu hiện

cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra,

kiểm soát. Hƣớng đƣợc sự chú ý của con ngƣời vào một hoạt động nào đó;

điều tiết đƣợc nguồn nhân lực, phối hợp đƣợc các hoạt động bộ phận.

Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ

lực của con ngƣời thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý. Hoạt động

quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính

pháp luật Nhà nƣớc, vừa có tính xã hội rộng rãi, …chúng là những mặt đối

lập trong một hệ thống nhất. Đó là biện chứng và bản chất của hoạt động quản

lý”

Nhƣ vậy: “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật;

là khoa học vì nó là những tri thức đƣợc hệ thống hoá và là đối tƣợng nghiên

cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối

quan hệ, đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý. Là nghệ



thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và vận dụng linh

hoạt trong việc sử dụng những kinh nghiệm đãquan sát đƣợc, những tri thức

đã đƣợc đúc kết nhằm tác động một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản

lý.

1.2.1.1 Quản lý giáo dục

Cùng với việc phát triển sản xuất, xã hội ở mọi giai đoạn đều tiến hành

chức năng giáo dục. Giáo dục là quá trình chuẩn bị cho con ngƣời, trƣớc hết

là thế hệ trẻ tham gia lao động sản xuất, tham gia vào đời sống xã hội bằng

cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội

của loài ngƣời một cách có ý thức, có mục đích. Tham gia quá trình giáo dục

có những phƣơng tiện, điều kiện giáo dục …Tất cả những yếu tố trên quy tụ

lại thành “Hệ thống giáo dục quốc dân”. Đây là một bộ phận của hệ thống xã

hội. QLGD chính là quản lý bộ phận này của xã hội. QLGD đƣợc hiểu là

quản lý quá trình giáo dục và đào tạo. Tùy theo các cấp độ thì sự QLGD sẽ

khác nhau.

Về khái niệm QLGD, hiện nay cũng có nhiều định nghĩa khác nhau.

QLGD là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay, lĩnh vực

giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trƣớc, do mỗi chỗ mở rộng đối tƣợng giáo

dục từ thế hệ trẻ sang ngƣời lớn và toàn xã hội. Tuy nhiên, giáo dục thế hệ trẻ

là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội.

QLGD có hai nội dung chính: Quản lý nhà nƣớc về giáo dục; quản lý

nhà trƣờng và các cơ sở giáo dục khác. QLGD là việc thực hiện và giám sát

những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phƣơng và

cơ sở.

Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực QLGD, khái niệm QLGD đƣợc

nhiều tác giả diễn đạt nhƣ sau:

Theo tác giả Trần Kiểm:



“Quản lý giáo dục (vĩ mô) đƣợc hiểu là những tác động liên tục, có tổ

chức có hƣớng của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính

vƣợt trội/ tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ƣu tiềm năng, cơ hội

của hệ thống nhằm đƣa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều

kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trƣờng bên ngoài luôn luôn biến động ”.

“Quản lý giáo dục (vi mô) đƣợc hiểu là những tác động trực tiếp (có ý

thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý

đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, và

các lực lƣợng xã hội trong và ngoài nhà trƣờng nhằm thực hiện chất lƣợng và

hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng”.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những

tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm

làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực

hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu

điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới mục

tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.

Qua các định nghĩa trên có thể thấy QLGD là tập hợp những biện pháp:

tổ chức, phƣơng pháp, kế hoạch hoá …tác động có mục đích, hợp quy luật

của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đảm bảo sự vận hành bình

thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục. QLGD có thể hiểu là sự

quản lý hệ thống Giáo dục và Đào tạo bao gồm một hay nhiều cơ sở giáo dục,

trong đó nhà trƣờng là đơn vị cơ sở, ở đó diễn ra các hoạt động quản lý giáo

dục cơ bản nhất. Trong QLGD, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các

cấp; đối tƣợng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật và

các hoạt động thực hiện các chức năng của quá trình giáo dục và đào tạo.



Nội dung của quản lý Nhà nƣớc về giáo dục bao gồm các vấn đề cơ bản

đƣợc quy định tại điều 99 Luật giáo dục năm 2005 (QĐ số 38/2005/QH11

ngày 14 tháng 6 năm 2005).

Muốn QLGD đạt kết quả tốt thì ngƣời quản lý phải năng động, linh hoạt,

tuân theo các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tƣợng

quản lý, có nhƣ vậy thì hiệu quả quản lý mới đạt đƣợc yêu cầu mong muốn.

1.2.1.2 Quản lý trường học

Trƣờng học: Trƣờng học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục

cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động

trung tâm của nhà trƣờng.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trƣờng học là một thiết chế xã hội trong

đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tƣơng tác của hai nhân

tố thầy - trò. Trƣờng học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy

của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”

Quản lý trƣờng học

Quản lý trƣờng học là một trong những nội dung quan trọng của hệ

thống QLGD nói chung. Theo Giáo sƣ Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà

trƣờng là thực hiện đƣờng lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm

của mình, tức là đƣa nhà trƣờng vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới

mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và

từng học sinh”.

Quản lý nhà trƣờng về bản chất là quản lý con ngƣời. Điều đó tạo cho

các chủ thể (ngƣời dạy và ngƣời học) trong nhà trƣờng một sự liên kết chặt

chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách

quan của một tổ chức xã hội - nhà trƣờng, mà còn bởi hoạt động chủ quan,

hoạt động quản lý của chính bản thân giáo viên và học sinh.

Theo PGS.TS Trần Kiểm: “Quản lý nhà trƣờng thực chất là việc xác

định vị trí của mỗi ngƣời trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền



hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trƣớc hết là trong phạm

vi nhà trƣờng với tƣ cách là một tổ chức xã hội’

Nhƣ vậy: Quản lý trường học nói chung và quản lý trường THPT nói

riêng là tổ chức chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt

động học của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cở vật chất và công việc

phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích giáo dục và đào tạo. Xét về

bản chất, quản lý con người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lý lao

động của giáo viên và học sinh, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt

động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người.



1.2.2. Đội ngũ CBQL

Theo từ điển tiếng Việt: “Đội ngũ là một nhóm ngƣời đƣợc tập hợp và tổ

chức thành một lực lƣợng để thực hiện một hay nhiều chức năng có thể cùng

nghề nghiệp hay không nhƣng đều có cùng một mục đích nhất định.”

Đội ngũ lao động: Theo tài liệu “ Quản lý nguồn nhân lực” dành cho lớp

cao học Quản lý giáo dục - ĐHQGHN của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Đội

ngũ lao động bao gồm những ngƣời lao động, tức là nguồn nhân lực đƣợc sử

dụng vào một công việc nào đó”

Nhƣ vậy có thể hiểu khái niệm đội ngũ hàm chứa yêú tố sức mạnh và có

những yêu cầu chặt chẽ về kỷ cƣơng và chất lƣợng.

Đội ngũ cán bộ quản lý

Cán bộ quản lý là ngƣời có trách nhiệm phân bổ nhân lực và các nguồn

lực khác, là ngƣời chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hoặc toàn bộ tổ chức

để tổ chức đó hoạt động có hiệu quả và đạt tới mục đích mà tổ chức đó đề ra.

Cán bộ quản lý đƣợc phân theo nhiều tiêu chí khác nhau. Nếu phân theo

cấp quản lý gồm có: Ngƣời quản lý cấp thấp, ngƣời quản lý trung gian, ngƣời

quản lý cấp cao. Nếu phân theo phạm vi quản lý, gồm có: Ngƣời quản lý theo

chức năng, đó là những ngƣời giám sát, theo dõi, đôn đốc hoạt động của

những ngƣời dƣới quyền theo một chuyên môn hoặc kỹ năng hẹp, hoạt động



trong phạm vi hẹp, chuyên biệt. Ngƣời quản lý tổng hợp làngƣời chịu trách

nhiệm về toàn bộ tổ chức hay những bộ phận chủ yếu, quan trọng nhất của tổ

chức.

Trong trƣờng THPT thì đội ngũ cán bộ quản lý là những ngƣời đứng đầu

các nhà trƣờng gồm Hiệu trƣởng, Phó Hiệu trƣởng chịu trách nhiệm lãnh đạo,

quản lý, điều hành các hoạt động của nhà trƣờng.



1.2.3. Phát triển đội ngũ CBQL

Phát triển là sự vận động, tiến triển theo chiều hƣớng tăng lên. Phát triển

là quá trình biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn

giản đến phức tạp. Theo quan điểm này thì tất cả sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời

và xã hội hoặc tự bản thân biến đổi hoặc do bên ngoài làm cho biến đổi tăng

lên cả về số lƣợng và chất lƣợng. Đó chính là sự phát triển. Nhƣ vậy “Phát

triển” là một khái niệm rất rộng, nói đến “Phát triển” là ngƣời ta nghĩ ngay đến

sự đi lên của sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời trong xã hội. Sự đi lên đó thể hiện

việc tăng lên về số lƣợng và chất lƣợng, thay đổi về nội dung và hình thức.

Sự phát triển ở đây theo chúng tôi hiểu là quá trình biến đổi làm cho số

lƣợng, cơ cấu và chất lƣợng luôn vận động đi lên trong mối hỗ trợ bổ sung lẫn

nhau tạo nên thế càng bền vững. Xây dựng luôn gắn với sự phát triển, phát

triển phải dựa trên cơ sở của thế ổn định.

1.2.3.1. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý

Phát triển đội ngũ chính là tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ để đội ngũ

đó thay đổi ngày càng hoàn thiện theo một chiều hƣớng tích cực. Phát triển

đội ngũ CBQL tức là nhằm vào hoàn thiện kết quả lao động tổng thể của

ngƣời quản lý trong cƣơng vị công tác hiện tại của họ và chuẩn bị cho họ đảm

nhận những trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn và phức tạp hơn. Phát triển đội

ngũ CBQL là một bộ phận của hệ thống phát triển nguồn nhân lực. Nguồn

nhân lực là một khái niệm ta thƣờng quen dùng, nguồn nhân lực ở đây ta hiểu

là nguồn lực ngƣời. Phát triển nguồn nhân lực có nhiều cách hiểu khác nhau:



Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Nguồn lực con ngƣời (Nguồn nhân lực)

đƣợc quan niệm là tổng thể tiềm năng lao động của một đất nƣớc, một cộng

đồng, bao gồm dân số cả “trong” độ tuổi lao động và “ngoài” độ tuổi lao

động. Từ góc độ đối với cá nhân con ngƣời, nguồn nhân lực cần đƣợc quản

lý, chăm sóc và phát triển từ thai nhi, tuổi ấu thơ, tuổi vị thành niên, tuổi lao

động và sau cả thời kỳ sau tuổi lao động.

“Phát triển con ngƣời” đề cập những vấn đề về phát triển năng lực thể

chất và năng lực xã hội của con ngƣời, môi trƣờng phát triển con ngƣời, nhấn

mạnh đến việc đồng thời nâng cao năng lực lựa chọn và mở rộng cơ hội lựa

chọn nhằm thoả mãn những nhu cầu của con ngƣời theo ba tiêu chí cơ bản:

Một cuộc sống có học vấn cao, một cuộc sống vật chất đầy đủ, một cuộc sống

khoẻ mạnh trƣờng thọ.

Quản lý phát triển nguồn lực con ngƣời nhân lực không chỉ nhấn mạnh

đến phát triển thể lực (theo quan điểm về sức người), phát triển trí lực (theo

quan điểm vốn người) mà nhấn mạnh phát triển toàn diện con ngƣời: Thể lực,

trí lực, tâm lực, thái độ sống, thái độ lao động, hiệu quả lao động.

Quản lý phát triển nguồn nhân lực cần đƣợc xem xét tổng hợp dƣới các

góc độ: Kinh tế, Giáo dục, Chính trị - xã hội:

- Dƣới góc độ kinh tế: Quản lý nguồn nhân lực tập trung vào công tác

quy hoạch, kế hoạch cơ cấu lao động, cơ cấu nhân lực trong tƣơng quan với

cơ cấu kinh tế.

- Dƣới góc độ giáo dục: Quản lý nguồn nhân lực tập trung vào công tác

giáo dục, đào tạo, bồi dƣỡng, gắn cơ cấu nhân lực với cơ cấu giáo dục.

- Dƣới góc độ chính trị - xã hội: Quản lý nguồn nhân lực tập trung vào

việc đƣa ra các chính sách đảm bảo quyền tự do dân chủ, sự an ninh đối với

đời sống con ngƣời, sức khoẻ của con ngƣời, giữ môi trƣờng sống tự nhiên

của con ngƣời đƣợc trong lành, đảm bảo sự bình đẳng giới, bình đẳng dân tộc.

1.2.3.2. Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

×