1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 109 trang )


Bác Hồ đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng về triết lý nhân sinh,

hành động vì nhân sinh, đạo đức và giáo dục đạo đức. Trong các tác phẩm,

những bài nói chuyện Bác luôn chú trọng đưa vấn đề đạo đức để giáo dục cán

bộ, quần chúng nhân dân và đặc biệt lưu ý GDĐĐ cho học sinh là bộ phận

quan trọng có tính chất nền tảng củagiáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa

“Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng,

đó là cái gốc rất quan trọng. Nếu mà không có đầy đủ đạo đức cách mạng thì

có tài gì cũng vô dụng” (Hồ Chí Minh. Bài nói chuyện với cán bộ, học sinh

trường Đại học sư phạm Hà Nội, ngày về thăm trường 21/10/1964).

Lúc sinh thời, Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng luôn đề cập đến vấn

đề đạo đức. Bác viết: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có

nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách

mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh

đạo được nhân dân”

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu khóa XI đã xem xét,

thảo luận về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng

yêu cầu công nghiệp hóa , hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường , định

hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” . Đổi mới chương trình giáo dục

theo hương ngươi hoc không chỉ hoc trong nha trương ma phai đươc gia

́

̀

̣

̣

̀

̀

̀

̉

̣

́



o duc,

̣



rèn luyện thông qua các hoạt động xã hội , nghê nghiêp thí ch hơp , tạo sự phối

̀

̣

̣

hơp giưa nha trương , gia đì nh va xa hôi . Đổi mới hình thức và phương pháp

̣

̃

̀

̀

̀ ̃ ̣

đanh gia ngươi hoc đê phan anh toan diên phâm chât , năng lưc cua ngươi hoc ;

́

́

̀

̣

̉

̉ ́

̀

̣

̉

́

̣

̉

̀

̣

tạo môi trường giáo dục trung thực , dân chu , sáng tạo và thân thiện ; thây cô

̉

̀

giáo phải là tấm gương đạ o đưc, tư hoc va sang tao.

́

̣ ̣

̀ ́

̣

Bộ GD&ĐT ra Quyết định số 50/2007/QĐ-BGDĐT ngày 29 tháng 8

năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về công

tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên

trong các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên

nghiệp. Quy định này đã nêu rõ mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, nội dung, hình



-6-



thức, biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT trong giai

đoạn hiện nay.

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

đã có những đóng góp rất quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu này với các tác

giả như: thầy Phạm Minh Hạc, thầy Hà Thế Ngữ, thầy Nguyễn Đức Minh, thầy

Phạm Hoàng Gia, thầy Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác. Để đi đến các

quan niệm và giải pháp về giáo dục đạo đức, các tác giả đã lựa chọn cho mình

những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra một sự đa dạng, phong phú về nội dung

và phương pháp nghiên cứu.

Thầy Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát

hành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực

hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục

tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục.

Thầy Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo

đức thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã

hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo

dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực

hiện các hành vi đạo đức cho học sinh.

Thầy Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt

động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với

giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý

tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ.

Cuốn sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa” của Trịnh Duy Huy (Nxb Chính trị quốc gia, 2009),

có nội dung khá đầy đủ và hệ thống về lý luận, về thực trạng và một số phương

hướng, giải pháp để xây dựng đạo đức mới trong điều kiện môi trường kinh tế

thị trường ở nước ta hiện nay. Tác giả cho rằng xây dựng và phát triển đạo đức

mới phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân

tộc Việt Nam và chỉ ra những chuẩn mực cơ bản của đạo đức mới đang được



-7-



xây dựng ở nước ta bao gồm: chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế trong

sáng; tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng; tinh thần lao động tự giác, sáng tạo;

tinh thần nhân đạo và một số giá trị khác như: bình đẳng, công lý, nhân quyền,

yêu thiên nhiên, sự lương thiện, thận trọng, tự giác, tự trọng.

Con người sinh ra chưa có đạo đức, nhân cách, mà nó hình thành và

được phát triển bởi giáo dục trong suốt cuộc đời trong môi trường kinh tế – xã

hội được xác định. Chính vì lẽ đó vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức ở thời

đại nào cũng được quan tâm, chú ý của mọi thành viên trong xã hội. Sự cần

thiết phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để tận dụng tài năng, phục

vụ cho lợi ích của gia đình và xã hội là nhân cách tốt đẹp của người công dân

chân chính trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa hiện nay. Công tác

giáo dục đạo đức góp phần quan trọng vào việc đinh hướng hình thành và phát

triển nhân cách. Những phẩm chất đạo đức tiến bộ không phải tự nhiên mà có,

mà phải thông qua quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện trong lao động và

đấu tranh bền bỉ như Bác Hồ đã dạy “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng

luyện càng trong” mới có thể giữ vững và nâng cao được những phẩm chất đạo

đức tốt đẹp của cá nhân, phù hợp với lợi ích chung của xã hội.

Tác giả đã kế thừa trực tiếp những thành quả nghiên cứu nêu ở trên, dựa

vào những gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phương pháp để triển

khai đề tài và hy vọng góp được một phần nhỏ bé của mình vào việc quản lý

giáo dục đạo đức học sinh cũng như trong công tác quản lý giáo dục đạo đức

học sinh tại trường THPT Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội.

1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Khái niệm quản lý

Hoạt động quản lý có từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người. Đó là do

yêu cầu của việc tổ chức lao động chung. Nó đã làm tăng hiệu quả lao động

cao hơn so với việc làm riêng lẻ của các cá nhân có chung mục tiêu hoạt động.

Trong tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát

triển đều phải dựa vào một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn của

từng quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và phải chịu một sự quản lý nào đó.



-8-



Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các

hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được

quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn.

Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, khái

niệm quản lý khi được nêu ra phải luôn gắn với các loại hình quản lý cụ thể.

Sau đây là một số quan niệm:

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là

quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức

năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.[14, tr. 9]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có

mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động

(khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.[23, tr. 56]

Tác giả Trần Khánh Đức cho rằng “Quản lý là hoạt động có ý thức của

con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn nhân lực và phối hợp

hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục

tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.[13, tr. 328]

Như vậy, quản lý là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý

một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thay đổi tích cực, để đạt được mục đích

của chủ thể quản lý. Hay là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng,

điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền.

Biểu hiện cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối,

kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động

nào đó, điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận.

Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ nhu cầu của

mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia trong mọi thời đại, quản lý là một tất yếu lịch

sử phát triển loài người.

Trong quản lý, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ

hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Khi



-9-



mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ

thể quản lý.

Công cụ quản lý



Chủ thể

quản lý



Khách thể

quản lý



Mục

tiêu

QL



Phương pháp quản lý



Hình 1.1: Sơ đồ về quản lý

1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội.

Nó đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Với cách tiếp cận

khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm quản lý giáo dục như

sau:

Theo tác giả Phạm Minh Hạc chúng ta có thể hiểu rằng quản lý giáo dục

là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi

trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà giáo dục vận hành theo nguyên lý giáo

dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, với thế

hệ và với từng học sinh.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo trong tài liệu một số khái niệm trong quản lý

giáo dục phát hành năm 1998 cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng

quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lược lượng xã hội nhằm thúc đẩy

công tác giáo dục và đào tạo theo yêu cầu phát triển của xã hội”.

Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những

tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy

luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học



- 10 -



sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm

thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể

quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động

giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.

Như vậy, quản lý giáo dục thực chất là quản lý có hiệu quả chất lượng

giáo dục (bao gồm dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông

qua các tác động có mục đích, có kế hoạch, qua các chức năng tổ chức, chỉ đạo

và kiểm tra đánh giá để đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, tự chủ, biết

sống, phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội.

1.2.3. Khái niệm quản lý nhà trường.

Nhà trường là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục đào tạo. Quản lý nhà

trường là một phần quan trọng trong QLGD.

Theo M.I.Kônđacôp quản lý nhà trường là hệ thống xã hội- sư phạm

chuyên biệt. Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và

hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường,

nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội- kinh tế, tổ chức- sư phạm

của quá trình dạy học và giáo dục thể hệ đang lớn lên.

Tác giả Phạm Viết Vượng thì cho rằng “Quản lý trường học là hoạt động của

các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh

và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục

để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”. [28, tr. 205]

Theo Phạm Thị Tuyết Oanh và cộng sự thì cho rằng: “Quản lý trường học

là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các

hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác huy động tối

đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong

nhà trường”. [22, tr.135]

Như vậy, quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục. Là một

chuỗi tác động (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy



- 11 -



luật), của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo

viên, cán bộ, nhân viên, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, cơ

sở vật chất, trang thiết bị, tài chính... ) nhằm đưa hoạt động giáo dục và dạy

học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục.

Hay nói một cách khác, quản lý nhà trường thực chất là tác động có định

hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh

hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục mà

trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy và học tiến lên trạng thái mới về chất.

1.2.4. Khái niệm quản lý trường trung học phổ thông.

Quản lý trường THPT là quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp. Là quá trình

tác động có định hướng, có kế hoạch của Hiệu trưởng lên tất cả các nguồn lực

nhằm đưa các hoạt động của nhà trường thực hiện có chất lượng và đạt hiệu

quả mục tiêu giáo dục.

Mục tiêu quản lý của nhà trường THPT chính là xây dựng kế hoạch, tổ

chức, chỉ đạo, kiểm tra, để thực hiện được mục tiêu giáo dục. Mục tiêu quản lý

trường học thường được cụ thể hóa trong bản kế hoạch của nhà trường.

Quản lý nhà trường thực chất là quản lý của người Hiệu trưởng trên tất

cả các hoạt động của nhà trường. Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản

lư các lĩnh vực khác bởi sản phẩm của giáo dục là tri thức, là nhân cách của

học sinh. “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn

diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với

lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân

cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc”

1.2.5. Khái niệm về đạo đức

Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách

nhiệm, về lòng tự trọng về công bằng hạnh phúc và về những quy tắc đánh giá,

điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội.



- 12 -



Đạo đức là một hiện tượng xã hội khá phức tạp, và có nhiều khái niệm

khác nhau.

Quan niệm đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người quan niệm đạo

đức là “Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, chính....”. [20, tr. 335]

Đó là đạo đức cách mạng “ Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu,

nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà lợi

ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. [20,tr. 337]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì đạo đức có thể được hiểu theo nghĩa

hẹp và nghĩa rộng.

“Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định, những chuẩn mực

ứng xử trong quan hệ của con người với con người, với công việc, với bản

thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống.

Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính

trị, pháp luật, lối sống, đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh

bộ mặt nhân cách của cá nhân được xã hội hóa”.[15, tr. 158]

Tóm lại, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Đạo đức song có thể

khái quát chung Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những

nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng

xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội. Khi quan hệ

xã hội thay đổi thì ý thức đạo đức cũng thay đổi nội dung của nó, chúng được

thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã

hội. Đạo đức gắn liền với hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường

xuyên biến động theo tiến trình phát triển của nhân loại trên hai phương diện

lịch sử và đương đại.

Trong giai đoạn hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, một

số chuẩn mực đạo đức có thể bị thay đổi, một số bộ phận cá nhân đặt lợi ích cá

nhân trên lợi ích tập thể, vì thế nó có tác động tiêu cực đến đạo đức.

1.2.6. Khái niệm giáo dục đạo đức



- 13 -



Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, liên tục và phải được sự ủng

hộ, phối hợp không những giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường mà

còn giữa nhà trường với gia đình, các lực lượng ngoài xã hội cũng như sự tự

giác rèn luyện của bản thân học sinh.

Giáo dục đạo đức có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát

triển nhân cách của mỗi cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng mong muốn: Đạo đức học cần phải trở

nên một ngành khoa học xã hội mà những người có trách nhiệm cần phải đi sâu

nghiên cứu chuyên cần hơn nữa. Nó cũng phải trở thành một môn khoa học

không thể thiếu được trong các trường đại học và giáo dục phổ thông.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc về khái niệm giáo dục đạo đức có thể hiểu:

“Giáo dục đạo đức là một quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành

thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen đạo đức”.[16, tr. 156]

Theo tác giả Hà Nhật Thăng: “Giáo dục đạo đức là hình thành ở mọi

công dân thái độ đúng đắn, tình cảm niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản

thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện

tượng xảy ra xung quanh” [25, tr 209].

Như vậy ở bất cứ thời đại nào, việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ cũng

luôn luôn được coi trọng. Ngày nay khi nền kinh tế của nước ta đang phát triển,

đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt, các hiện tượng tiêu cực, suy thoái

về mặt đạo đức vẫn còn tồn tại. Vì vậy, trong các trường học việc tăng cường

công tác giáo dục đạo đức cho người học là rất cần thiết, góp phần định hướng

và trang bị cho người học những tri thức, niềm tin, tính trung thực, giúp cho

nhân cách ngày càng hoàn thiện.

1.2.7. Khái niệm quá trình giáo dục đạo đức

Bản chất của giáo dục đạo đức là quá trình biến những hệ thống các

chuẩn mực đạo đức, từ những yêu cầu đòi hỏi bên ngoài của xã hội về hành vi

đối với mỗi cá nhân thành những nhu cầu, đòi hỏi từ bên trong của cá nhân



- 14 -



trong mối quan hệ, ứng xử hằng ngày đối với cộng đồng xã hội, từ đó biến

thành niềm tin, thói quen, nhu cầu của người được giáo dục.

Giáo dục đạo đức được thực hiện ở các môi trường khác nhau. Trường

học được xác định là một môi trường, là lực lượng quan trọng trong việc tổ

chức giáo dục đạo đức. Trong nhà trường giáo dục đạo đức được tổ chức, được

điều khiển một cách khoa học nên nó tồn tại với tư cách là một quá trình.

Quá trình giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình

thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin hành vi, đích cuối cùng quan trọng

nhất là tạo lập cho những thói quen hành vi đạo đức.

1.2.8. Khái niệm quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường

- Xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức:

Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường,

địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời

gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường.

- Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức:

Giải thích mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận

biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm

quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện,

thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc.

- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức:

Là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những

nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục đạo đức diễn ra đúng hướng, đúng kế

hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả.

- Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức:

Kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp, hoặc gián tiếp để

giúp học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được

mình, từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết tự điều chỉnh hành vi của

mình cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội.

1.2.9. Khái niệm quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT



- 15 -



Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách

của trẻ. Đối với học sinh, nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ cung cấp kiến

thức mà còn tổ chức giáo dục đạo đức học sinh, coi trọng cả tài và đức.

Xã hội có tác động không nhỏ đến sự hành thành và phát triển nhân cách

của trẻ, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, trong cộng đồng dân cư mà trẻ

tiếp xúc là những tấm gương phản diện với những gì mà cha mẹ và nhà trường

giáo dục cho nên gây khó khăn cho quá trình giáo dục đạo đức.

Vậy quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT là xây

dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức- Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục

đạo đức - Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức - Kiểm tra đánh giá

giáo dục đạo đức nhằm: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội có

nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý giáo dục đạo đức.

Giúp mọi người có hiểu biết và ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với

những việc làm sai trái. Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc rèn luyện tu

dưỡng đạo đức cho học sinh theo chuẩn mực chung của xã hội.

Giáo dục đạo đức học sinh phải được tiến hành bằng nhiều biện pháp, có

mục tiêu phù hợp. Phải được xây dựng nội dung, kế hoạch cụ thể và được làm

thường xuyên liên tục, có hệ thống mới đạt kết quả cao.

Quản lý quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh THPT gồm nhiều nội dung và

trong đó có

Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức: là thực hiện tốt quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về chiến lược phát triển toàn diện con người trong thời kỳ thực

hiện CNH-HĐH đất nước

Quản lý nội dung giáo dục đạo đức: là quản lý các nội dung hướng tới

các mục tiêu:

- Chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức chính trị, tư tưởng: có ý tưởng

XHCN, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng

và Nhà nước



- 16 -



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×