1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 116 trang )


Đối với cấp học THPT có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này,

như tác giả Trần Thị Thu Hương với đề tài "Những biện pháp quản lí đội ngũ giáo

viên trường THPT huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây", Nguyễn Tiến Dũng với "

Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường phổ thông trên địa bàn thành

phố Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay", Đặng Xuân Cát với

"Các biện pháp quản lí công tác chuẩn hoá đội ngũ giáo viên trường THPT Lục

Nam, Bắc Giang", Phạm Hồng Dương với "Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo

viên của Hiệu trưởng trường THPT Tân Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang",

Nguyễn Đức Cường với "Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường

THPT thành phố Yên Bái trong giai đoạn hiện nay",...Các tác giả đã tập trung

nghiên cứu về cơ sở lý luận; tìm hiểu và đánh giá thực trạng về ĐNGV và công tác

quản lý ĐNGV; đề ra các giải pháp, biện pháp quản lý ĐNGV phù hợp với tình

hình thực tiễn của các nhà trường, của địa phương nơi các tác giả công tác.

Đối với ngành GD - ĐT nói chung, giáo dục cấp THPT của huyện Vĩnh Bảo

thành phố Hải Phòng nói riêng chưa có một tác giả, một đề tài nào nghiên cứu đầy

đủ khoa học về công tác quản lý ĐNGV trong mối quan hệ các trường học trên địa

bàn huyện. Chính vì vậy, nghiên cứu về quản lý ĐNGV ở các trường THPT huyện

Vĩnh Bảo trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một

cách khoa học và hệ thống.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Giáo viên

* Giáo viên

Luật giáo dục nước CHXHCN Việt Nam năm 2005 nêu rõ:

- Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở

giáo dục khác.

- Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo

dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên.

- Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau:

+ Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

+ Đạt trình độ chuẩn về đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ;

+ Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;

+ Lý lịch bản thân rõ ràng [27, tr.56].



6



* Giáo viên trường trung học

- Điều 30, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều

cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày

02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) nêu rõ : „„Giáo viên trường trung học là

người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó

Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác ĐTNCS Hồ Chí Minh (bí

thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn) đối với trường trung học có

cấp THPT‟‟ [4, tr. 15].

- Trình độ chuẩn đào tạo của GV trường THPT được quy định như sau: có

bằng tốt nghiệp ĐHSP hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng

nghiệp vụ sư phạm theo đúng chuyên ngành tại các khoa, trường ĐHSP.

1.2.2. Đội ngũ giáo viên

- Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: „„Đội ngũ là một tập hợp một số đông

người cùng chức năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng‟‟

[41, tr. 339].

- Khi đề cập đến khái niệm ĐNGV, một số tác giả nước ngoài đã nêu quan

niệm:“ĐNGV là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức

và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ sức

lực và tài năng của họ đối với giáo dục” [18, tr.10].

- Các tác giả trong nước thì quan niệm như sau: “ĐNGV trong ngành giáo dục

là một tập thể người, bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên; nếu chỉ đề

cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là một ĐNGV và đội ngũ cán

bộ quản lý giáo dục” [18, tr. 10].

- Căn cứ vào đó có thể hiểu ĐNGV như sau: ĐNGV là một tập hợp những

người làm nghề dạy học - giáo dục được tổ chức thành một lực lượng, có chung

một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ là tạo ra sản phẩm giáo dục “Nhân cách – Sức

lao động”. Họ là một tập hợp có tổ chức, có sự chỉ huy thống nhất, bị ràng buộc bởi

trách nhiệm, quyền hạn và được hưởng các quyền lợi về vật chất và tinh thần trong

khuôn khổ qui định của luật pháp, luật giáo dục và điều lệ nhà trường.

- Từ khái niệm ĐNGV nói chung ta còn có khái niệm đội ngũ riêng cho từng

cấp học, bậc học. Đội ngũ giáo viên THPT là những nhà giáo giảng dạy, giáo dục ở

cấp THPT.

7



1.2.3. Quản lý

1.2.3.1. Khái niệm về quản lý

Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản lý, khái niệm quản lý

đã được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo những cách

tiếp cận khác nhau:

- Các nhà lý luận quản lý quốc tế như Frederick Winslow Taylor (Mỹ - 1856 1915), Henri Fayol (Pháp - 1841- 1925), Max Weber (Đức- 1864 - 1920), Mary

Parker Follett (Mỹ - 1868 - 1933) đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học đồng

thời là nghệ thuật.

- Nói đến quản lí, không thể không nhắc đến tư tưởng sâu sắc của Marx, ông

nhìn nhận vấn đề quản lí dưới ý tưởng phân công và hợp tác trong lao động: “Bất

cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối

lớn đều cần một chừng mực nhất định của quản lý” [9, tr. 195].

Theo Marx, quản lý về bản chất nó là quá trình điều chỉnh mọi quá trình xã hội

khác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc

trưởng” [9, tr. 23].

- Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về quản lý: “Quản lý xã hội một

cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay

những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng

đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó, nhằm đảm bảo cho nó hoạt

động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [9, tr. 283].

- Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam cho rằng:

hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến

trạng thái có chất lượng mới. Quản lý về bản chất bao gồm hai quá trình “quản” và

quá trình “lý” tích hợp vào nhau. Quản: là coi sóc, giữ gìn, là duy trì - ổn định. Lý:

là sửa sang, sắp xếp, là đổi mới - phát triển. Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu

dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren. Như vậy:

Quản lý = ổn định + phát triển. Trong "quản" phải có "lý"; trong "lý" phải có

"quản"; ổn định đi tới sự phát triển, phát triển trong thế ổn định.

- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: "Quản lý là tác động có mục

đích, kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là

khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến" [25, tr. 24].



8



- Nói về hoạt động quản lý, định nghĩa kinh điển nhất phải kể đến là: “Quản lý

là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người

quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho

tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr. 1].

Ngày nay, khái niệm về quản lý được định nghĩa một cách cụ thể hơn như là

một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động

(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Trong quá trình

này người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực, các nguồn lực

khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức này hoạt

động có hiệu quả và đạt đến mục đích của tổ chức.

Như vậy, từ các định nghĩa trên về quản lý ta có thể rút ra nhận xét sau: Về

bản chất của hoạt động quản lý gồm hai bộ phận đó là chủ thể quản lý và khách thể

quản lý. Hai bộ phận này có liên quan mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Chủ

thể quản lý có thể là một cá nhân hay nhóm người có chức năng quản lý, điều hành

tổ chức, làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra. Khách thể quản lý là

những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ

thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Chủ thể quản lý làm nảy sinh tác động

quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất tinh thần có giá trị sử dụng, đáp

ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích chủ thể quản lý.

1.2.3.2. Các chức năng cơ bản của quản lý

Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể

quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể

quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Có bốn chức năng cơ bản của quản lý

đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra - đánh giá.

- Chức năng kế hoạch hoá: Là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn

cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng

giai đoạn, từ đó tìm ra con đường, biện pháp, cách thức đưa tổ chức đạt mục tiêu đó.

- Chức năng tổ chức: Là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố,

những con người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho

chúng tương tác với nhau một cách tối ưu.

- Chức năng chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều

hành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đã đề ra và

đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỷ cương nhằm đạt được

9



mục tiêu của tổ chức.

- Chức năng kiểm tra: Là những hoạt động của chủ thể QL tác động đến

khách thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý các kết quả vận hành của tổ chức.

Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý. Trong đó, từng chức

năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ biện chứng với nhau. Trong

quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai

trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực

hiện các chức năng quản lý và đưa ra được các quyết định quản lý. Mối quan hệ

giữa các chức năng của quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:



Kế hoạch



Kiểm tra,

đánh giá



Thông

tin



Tổ chức



Chỉ đạo



Sơ đồ 1.1: Quan hệ các chức năng quản lý

1.2.4. Quản lý giáo dục

* Khái niệm QLGD, cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cơ

bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất:

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ QLGD là hệ thống những tác động có

mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành

theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của

nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học –

giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái

về chất” [25, tr.35].

- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động

dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của

nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức

là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực,

đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [19, tr. 9].

10



- Từ những định nghĩa trên cho ta thấy, bản chất của QLGD là quá trình tác

động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình

hoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đề ra. Trong đó:

+ Chủ thể QL: Bộ máy quản lý của các cấp.

+ Khách thể QL: Hệ thống GD quốc dân, các trường học.

+ Quan hệ QL: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy, quan

hệ giữa người quản lý và người dạy, người học; quan hệ giữa giáo giới, cộng đồng,

nhà trường, của toàn bộ hệ thống GD.

+ Các thành tố đó là: Mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo

dục; lực lượng giáo dục (người dạy); đối tượng giáo dục (người học), phương tiện

giáo dục (điều kiện).

* Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

cộng sản Việt Nam, chịu sự quản lý của nhà nước và sự tham gia của nhân dân.

Quản lý nhà nước trong giáo dục là một hoạt động phức tạp, theo Luật giáo dục

2005 nó bao gồm 12 việc then chốt dưới đây:

+ Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách

phát triển giáo dục;

+ Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban

hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo

dục khác;

+ Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo;

tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát

hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;

+ Tổ chức, QL việc bảo đảm chất lượng GD và kiểm định chất lượng GD;

+ Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;

+ Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;

+ Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, QL nhà giáo và cán bộ QLGD;

+ Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp GD;

+ Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong

lĩnh vực giáo dục;

+ Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

+ Quy định việc tặng các danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối

với sự nghiệp giáo dục;

+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu

nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục [27, tr.72-74].

11



1.2.5. Quản lý nhà trường

Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là cơ

sở giáo dục, là hạt nhân của hệ thống giáo dục quốc dân, nơi tổ chức thực hiện mục

tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục, khái niệm

trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước - Xã hội trực tiếp làm

công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước.

- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường, QLGD nói chung là thực

hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu ĐT đối với

ngành GD và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh” [19, tr. 61].

- Theo tác giả Phạm Viết Vượng: " Quản lý trường học là hoạt động của các

cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và

các lực lượng giáo dục khác cũng như huy động tối ưu các ngồn lực giáo dục để

nâng cao chất lượng giáo dục và đạo tạo trong nhà trường" [42, tr. 205].

- Tác giả Trần Kiểm thì cho rằng: " Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ

thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến

tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động

và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng

vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến" [22, tr.27].

Như vậy, ta có thể hiểu quản lý nhà trường chính là những công việc mà

người cán bộ quản lý trường học phải thực hiện những chức năng nhiệm vụ của

mình trong việc lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường. Đó chính là những hoạt động có ý

thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của

nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà trường đã đề ra.

Quản lý nhà trường bao gồm nhiều nội dung, nhiều mặt: quản lý ĐNGV, công

nhân viên; quản lý học sinh; quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học;

quản lý tài chính; quản lý quá trình dạy học - giáo dục,...Trong đó quản lý ĐNGV

là việc làm quan trọng nhất vì ĐNGV là nhân tố chủ yếu quyết định đến chất lượng

và hiệu quả giáo dục của nhà trường.

1.2.6. Quản lí nguồn nhân lực

* Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người của

một quốc gia, một vùng lãnh thổ. Theo nghĩa hẹp được hiểu là toàn bộ lực lượng

lao động có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc chưa có việc làm. Xét trong

phạm vi một đơn vị, cơ quan hay địa phương nguồn nhân lực chính là toàn bộ lao

động của đơn vị, cơ quan hay địa phương đó.

12



* Quản lý nguồn nhân lực:

- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc:

Quản lý nguồn nhân lực: “là chức năng quản lý giúp người quản lý tuyển mộ,

lựa chọn, huấn luyện và phát triển của tổ chức” [10, tr.119].

- Quá trình quản lý nguồn nhân lực bao gồm bảy hoạt động sau đây:

+ Kế hoạch hoá nguồn nhân lực;

+ Tuyển mộ;

+ Chọn lựa;

+ Xã hội hoá hay định hướng;

+ Huấn luyện và phát triển;

+ Thẩm định kết quả hoạt động;

+ Đề bạt, thuyên chuyển, giáng cấp và sa thải.[10, tr. 119-120].

* Quản lý đội ngũ giáo viên:

- Trong lĩnh vực QLGD nói chung và QL nhà trường nói riêng, quản lí nguồn nhân

lực chính là quản lí ĐNGV, công nhân viên và học sinh. Trong đó, quản lý ĐNGV là

một nội dung chủ yếu nhất của quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức trường học.

- Theo cách tiếp cận trên thì quản lý ĐNGV là quá trình tác động có mục đích

của chủ thể quản lý (người CBQL) tới người lao động (GV) như: xây dựng quy

hoạch; tuyển chọn; đào tạo, bồi dưỡng; sử dụng; đánh giá năng lực thực hiện và đãi

ngộ nhằm đạt được mục đích phát triển nhân lực của tổ chức nhà trường.

1.2.7. Biện pháp quản lý

- Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học:

+ Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một loạt hoạt động

nào đó.

+ Giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó.

+ Biện pháp là cách làm, là cách thức tiến hành một vấn đề cụ thể nào đó.

Như vậy, so với phương pháp, giải pháp thì biện pháp mang tính chất vi mô

cụ thể, trong phương pháp, giải pháp có biện pháp.

- Biện pháp quản lý là cách tác động của chủ thể quản lý lên khách thể (đối

tượng) quản lý (bằng các chức năng quản lý) để giải quyết một vấn đề và để đạt

mục đích đề ra.

- Biện pháp quản lý ĐNGV của Hiệu trưởng là những cách tiến hành của Hiệu

trưởng để tác động đến những lĩnh vực trong hoạt động quản lý ĐNGV nhằm nâng

cao hiệu quả và đạt được mục tiêu của hoạt động này.



13



1.3. Đổi mới giáo dục Trung học phổ thông

1.3.1. Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về đổi mới giáo dục

phổ thông

- Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09/12/2000 của Quốc hội khoá X về đổi

mới GDPT, đây là quá trình đổi mới về nhiều lĩnh vực mà tâm điểm là đổi mới

chương trình giáo dục từ tiểu học đến THPT. Đề ra mục tiêu đổi mới chương trình

GDPT trong giai đoạn hiện nay là xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp

GD, SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện thế hệ trẻ, đáp

ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước, phù hợp với

thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ GDPT ở các nước phát triển

trong khu vực và trên thế giới.

- Chiến lược phát triển KT – XH 2001 – 2010 của nước ta đã đề ra nhiệm vụ:

Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương trình

và SGK phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới.

- Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về việc đổi mới

chương trình GDPT thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá X.

1.3.2. Mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông

Mục tiêu giáo dục THPT được xác định rất rõ trong Luật Giáo dục 2005 là:

“Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo

dục trung học cơ sở hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông

thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa

chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp học nghề hoặc đi

vào cuộc sống lao động” [27, tr. 21-22].

1.3.3. Những yêu cầu đổi mới giáo dục Trung học phổ thông

- Do yêu cầu của sự phát triển KT – XH đối với việc đào tạo nguồn nhân lực

trong giai đoạn mới.

- Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học

công nghệ thể hiện qua các lý thuyết, các thành tựu mới và khả năng ứng dụng cao,

rộng và nhanh vào thực tế.

- Do có những thay đổi trong đối tượng giáo dục. Trong học tập HS không thỏa

mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các giải pháp đã có

sẵn được đưa ra, họ yêu cầu sự lĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kỹ năng.

- Do nhu cầu phải hòa chung với xu thế đổi mới tiến bộ trên thế giới, đây cũng

là một trong những yêu cầu bức thiết, đặc biệt là các bối cảnh thế giới hiện nay với

xu thế hòa nhập.

14



1.3.4. Những nội dung đổi mới giáo dục Trung học phổ thông

* Những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo đổi mới của giáo dục phổ thông

- Quán triệt mục tiêu giáo dục.

- Đảm bảo tính khoa học và sư phạm.

- Thể hiện tinh thần đổi mới phương pháp dạy học.

- Đảm bảo tính thống nhất.

- Đáp ứng yêu cầu phát triển của từng đối tượng HS.

* Những nội dung đổi mới giáo dục Trung học phổ thông

- Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục Trung học phổ thông

Nội dung GDPT phải đạt được các yêu cầu sau:

+ Đảm bảo giáo dục toàn diện; phát triển cân đối, hài hòa về đạo đức, trí tuệ,

thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản; hình thành và phát triển những phẩm

chất, năng lực cần thiết của con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp

CNH, HĐH đất nước.

+ Bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, hiện đại, hướng nghiệp và có hệ thống; chú

trọng thực hành, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của

học sinh, đáp ứng mục tiêu GDPT. Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những

nội dung đã học ở THCS, hoàn thành nội dung GDPT; ngoài nội dung chủ yếu

nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho

mọi HS còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp

ứng nguyện vọng của HS.

+ Tạo điều kiện thực hiện phương pháp giáo dục phát huy tính tích cực, tự

giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học.

+ Bảo đảm tính thống nhất của chương trình GDPT trong phạm vi cả nước,

đồng thời có thể vận dụng cho phù hợp với đặc điểm các vùng miền, nhà trường và

các nhóm đối tượng HS.

+ Tiếp cận trình độ GDPT của các nước có nền giáo dục phát triển trong khu

vực và trên thế giới.

Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông:

+ Chuẩn kiến thức, kỹ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ

năng của môn học, hoạt động GD mà HS cần phải và có thể đạt được sau từng giai

đoạn học tập. Mỗi cấp học có chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ mà

HS cần phải đạt được.

+ Chuẩn kiến thức, kỹ năng là căn cứ để biên soạn SGK, quản lý dạy học,

đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học, hoạt động giáo dục nhằm bảo đảm tính

15



thống nhất, tính khả thi của chương trình GDPT, bảo đảm chất lượng và hiệu quả

của quá trình GD.

- Đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục HS

+ Phương pháp GDPT phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo

của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm, đối tượng HS, điều kiện của

từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,

hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS. SGK và phương tiện dạy học phải đáp

ứng yêu cầu của phương pháp GDPT.

+ Hình thức tổ chức GDPT bao gồm các hình thức tổ chức dạy học và hoạt

động GD trên lớp, trong và ngoài nhà trường. Các hình thức tổ chức GD phải bảo

đảm cân đối, hài hòa giữa dạy học các môn học và hoạt động GD; giữa dạy học

theo lớp, nhóm và cá nhân; bảo đảm chất lượng GD chung cho mọi đối tượng và

tạo điều kiện phát triển năng lực cá nhân của HS; Đối với HS có năng khiếu, có thể

và cần phải vận dụng hình thức tổ chức dạy học và hoạt động GD thích hợp nhằm

phát triển năng khiếu, góp phần bồi dưỡng tài năng ngay từ bậc học phổ thông.

+ GV chủ động lựa chọn, vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức GD

cho phù hợp với nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể.

- Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục phổ thông

+ Đánh giá kết quả GD của HS ở các môn học và hoạt động GD trong mỗi lớp,

mỗi cấp học nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu GD, làm căn cứ để điều

chỉnh quá trình GD, góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện.

+ Đánh giá kết quả GD ở các môn học và hoạt động GD trong mỗi lớp, mỗi

cấp học cần phải: Bảo đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực;

Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ được cụ thể hóa ở từng

môn học, hoạt động GD; Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định

kỳ, đánh giá của GV và tự đánh giá của học sinh, đánh giá của nhà trường và đánh

giá của gia đình, của cộng đồng; Kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan,

tự luận và các hình thức đánh giá khác; Sử dụng bộ công cụ đánh giá thích hợp.

+ Bộ GD&ĐT quy định việc đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV

hoặc chỉ đánh giá bằng nhận xét của GV cho từng môn học và hoạt động GD. Sau

mỗi lớp, cấp học có đánh giá xếp loại kết quả GD của HS. Kết thúc lớp 12, tổ chức

kỳ thi tốt nghiệp THPT.

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

×