1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.79 MB, 107 trang )


bản chất khác nhau (sinh vật, xã hội, kĩ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định

của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chƣơng trình, mục

đích hoạt động” [25,tr.5].

Theo cách tiếp cận của một số nhà khoa học quản lí ngƣời nƣớc

ngoài: “Quản lí là thiết kế và duy trì một môi trƣờng mà trong đó các cá

nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và

các mục tiêu đã định [15,tr.29].

Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu: quản lí là

cách thức tổ chức - điều khiển (cách thức tác động) của chủ thể quản lí đến

khách thể quản lí nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà tổ chức đã đề ra.

1.1.2. Bản chất, chức năng quá trình quản lí

1.1.2.1. Bản chất của quản lí

Là sự phối hợp các nỗ lực của con ngƣời thông qua việc thực hiện

các chức năng quản lí, là tác động có mục đích đến tập thể ngƣời nhằm

thực hiện mục tiêu quản lí. Trong giáo dục, đó là tác động của nhà QLGD

đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lƣợng giáo dục khác nhau trong

xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu QLGD.

1.1.2.2. Chức năng quản lí

Là biểu hiện bản chất của quản lí. Chức năng quản lí là một phạm trù

chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của khoa học quản lí, là

những loại hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động quản lí đã đƣợc tách

riêng, chuyên môn hoá: “Chức năng quản lí là những hình thái biểu hiện sự

tác động có mục đích đến tập thể ngƣời” [36,tr.16].

Chức năng quản lý là các hoạt động xác định đƣợc chuyên môn

hoá, nhờ đó chủ thể quản lý tác động vào đối tƣợng quản lý. Hay nói một

cách khác, chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý đặc biệt

thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm đạt

đƣợc một mục tiêu nhất định. QL có bốn chức năng chính sau:

- Chức năng kế hoạch hoá:



6



Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với

thành tựu tƣơng lai của tổ chức và các con đƣờng , biện pháp, cách

thức để đạt đƣợc mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của

chức năng kế hoạch hoá: (a) xác định, hình thành mục tiêu(phương

hướng) đối với tổ chức: (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn,

tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu

này: (c) Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được

các mục tiêu đó.

- Chức năng tổ chức:

Khi ngƣời QL đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá

những ý tƣởng tƣơng đối trừu tƣợng dố thành hiện thực. Một tổ chức

lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá nhƣ thế.

Xét về mặt chức năng QL, tổ chức hình thánh nên cấu trúc các quan

hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho

họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể

của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, ngƣời QL có thể phối hợp,

điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ

chức phụ thuộc nhiều vào năng lực của ngƣời QL sử dụng các nguồn

lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.

- Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo):

Sau khi kế hoạch đã đƣợc lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành,

nhân sự đã đƣợc tuyển dụng thì phải có ngƣời đứng ra lãnh đạo, dẫn

dắt tổ chức. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với ngƣời khác và

động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt đƣợc mục

tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi

việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh

hƣởng quyết định tới hai chức năng kia.

- Chức năng kiểm tra:



7



Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân,

một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động

và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một

kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không

tƣơng ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn.

Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, nó diễn ra có tính chu kỳ nhƣ sau:

+ Ngƣời quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động.

+ Ngƣời quản lý đối chiếu, đo lƣờng kết quả, sự thành đạt so với

chuẩn mực đã đề ra.

+ Ngƣời QL tiến hành điều chỉnh những sai lệch.

+ Ngƣời QL hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.

Các chức năng chính của hoạt động QL luôn đƣợc thực hiện liên

tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu

trình quản lý. Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong

tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện , vừa là phƣơng tiện không thể

thiếu đƣợc khi thực hiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý.

Mối liên hệ này thể hiện qua sơ đồ sau:



Kế hoạch



Kiểm tra,

đánh giá



Thông

tin



Chỉ đạo



8



Tổ chức



Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lí.

1.1.2.3. Quá trình quản lí trường học

Cũng giống nhƣ bất kì một quá trình QL nào, quá trình QL trƣờng

học gồm bốn chức năng cơ bản là: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm

tra đƣợc thực hiện liên tiếp đan xen phối hợp bổ sung cho nhau.

1.1.3. Giải pháp quản lí

Là phƣơng pháp (hệ thống các cách) đƣợc sử dụng để tiến hành giải

quyết những công việc cụ thể của công tác quản lí nhằm đạt đƣợc mục tiêu

quản lí [35,tr.727].



1.1.4. Quản lí giáo dục, quản lí trường học

1.1.4.1. Quản lí giáo dục

Quản lí giáo dục (QLGD) là hệ thống những tác động có mục đích,

có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL (hệ giáo dục nhằm làm cho hệ

vận hành theo đƣờng lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc

các tính chất của nhà trƣờng XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá

trình DH – GD thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên

trạng thái mới về chất” [28,tr.35].

M.M Mechti-Zach – Nhà lí luận Liên Xô - viết về QLGD định nghĩa:

“Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phƣơng pháp, cán

bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính…nhằm đảm bảo sự vận hành bình

thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát

triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng”.

Nhƣ vậy chúng ta có thể hiểu QLGD là:

- Hệ thống tác động có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ

thể quản lí (ở các cấp quản lí) đến đối tƣợng quản lí.

- Chuỗi tác động mang tính tổ chức – sƣ phạm của chủ thể quản lí.

- QLGD tác động lên tập thể giáo viên – học sinh và các lực lƣợng

giáo dục trong và ngoài nhà trƣờng nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác



9



động, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trƣờng để đạt đƣợc mục tiêu dự

kiến. Do đó, khi QL nhà trƣờng, ngƣời hiệu trƣởng ngoài việc QL thầy và

trò nhà trƣờng, còn phải phối kết hợp với các đoàn thể, tổ chức xã hội, cá

nhân ngoài nhà trƣờng để góp phần làm cho chất lƣợng giáo dục của nhà

trƣờng ngày một nâng cao.

1.1.4.2. Quản lí nhà trường

Trƣờng học là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác

giáo dục thế hệ trẻ, là tế bào của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào (từ cơ

sở đến Trung ƣơng). Chất lƣợng của GD là do thành tích đích thực của nhà

trƣờng tạo nên. Bởi vậy, khi nói đến QLGD phải nói đến quản lí nhà trƣờng

(cùng với hệ thống QLGD).

Theo Giáo sƣ – Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lí nhà trƣờng là thực

hiện đƣờng lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là

đƣa nhà trƣờng vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo

dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học

sinh” [16,tr.256]. “Việc quản lí nhà trƣờng phổ thông (có thể mở rộng ra là

quản lí nói chung) là việc quản lí dạy – học tức là làm sao đƣa hoạt động đó từ

trạng thái này sang trạng thái khác để dần tới mục tiêu giáo dục” [16,tr.71].

Theo tác giả Bùi Trọng Tuân thì QL nhà trƣờng bao gồm quản lí bên

trong nhà trƣờng (nghĩa là quản lí từng thành tố: mục đích giáo dục - đào

tạo, nội dung giáo dục - đào tạo, phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy

học, đội ngũ giáo viên và CBCNV, tập thể học sinh và cơ sở vật chất – thiết

bị dạy học, các thành tố này quan hệ qua lại lẫn nhau và tất cả đều thực

hiện chức năng giáo dục - đào tạo) và quản lí các mối quan hệ giữa nhà

trƣờng với môi trƣờng xã hội bên ngoài.

Nhƣ vậy, quản lí nhà trƣờng là tập hợp các tác động tối ƣu của chủ

thể quản lí (thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí) đến tập thể

giáo viên, CBCNV và học sinh nhằm sử dụng hợp lí nguồn lực do nhà

nƣớc đầu tƣ, do các lực lƣợng xã hội đóng góp và do chính nhà trƣờng tạo



10



ra nhằm đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trƣờng mà trọng tâm là hoạt

động dạy học, thực hiện có trách nhiệm, hiệu quả mục tiêu và kế hoạch đào

tạo, đƣa nhà trƣờng tiến lên trạng thái mới.

1.1.5. Khái niệm quá trình dạy học, hoạt động dạy học và quản lí hoạt

động dạy học

1.1.5.1. Hoạt động dạy học

Dạy học gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt động

học của trò. Hai hoạt động này luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại

cho nhau và vì nhau.

- Hoạt động dạy học là sự tổ chức, điều khiển tối ƣu quá trình học

sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Vai trò

chủ đạo của hoạt động dạy đƣợc biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều

kkhiển sự học tập của học sinh giúp cho học sinh nắm đƣợc kiến thức, hình

thành kĩ năng, thái độ. Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và

điều khiển. Nội dung dạy học theo chƣơng trình qui định, bằng phƣơng

pháp nhà trƣờng.

- Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ƣu sự chiếm lĩnh các khái

niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lí mới, phát triển nhân

cách toàn diện. Vai trò tự điều khiển hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích

cực, tự lực và sáng tạo dƣới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái

niệm khoa học. Khi chiếm lĩnh đƣợc khái niệm khoa học bằng hoạt động tự

lực, sáng tạo, học sinh đồng thời đạt đƣợc ba mục đích bộ phận:

+ Trí dục: nắm vững tri thức khoa học.

+ Phát triển tƣ duy và năng lực hoạt động,

+ Giáo dục thái độ, đạo đức và hình thành quan niệm.

Cũng nhƣ hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh

hội và tự điều khiển. Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ

thống khái niệm của môn học, bằng phƣơng pháp đặc trƣng của môn học,



11



của khoa học đó, với phƣơng pháp nhận thức độc đáo, phƣơng pháp chiếm

lĩnh khoa học để biến kiến thức của nhân loại thành học vấn của bản thân.

1.1.5.2. Quá trình dạy học

“Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy học và

hoạt động học. Hai hoạt động này luôn tƣơng tác với nhau, thâm nhập vào

nhau, sinh thành ra nhau. Sự tƣơng tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác

(cộng đồng và hợp tác) trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo” (29,tr.52).

1.1.5.3. Bản chất của quá trình dạy học

Là sự thống nhất biện chứng của dạy và học đƣợc thể hiện trong và

bằng sự tƣơng tác có tính chất cộng đồng và hợp tác giữa dạy và học tuân

theo logic khách quan của nội dung dạy học. “Chỉ trong sự tác động qua lại

giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học. Sự phá vỡ

mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó”

[29.tr.23]. Muốn dạy tốt, học tốt giáo viên phải xuất phát từ logic của khái

niệm khoa học, thiết kế bài học, tổ chức tối ƣu hoạt động của thầy và trò,

thực hiện tốt các chức năng kép của dạy và học, đồng thời đảm bảo mối

quan hệ nghịch thƣờng xuyên bền vững.

Sự thống nhất biện chứng giữa dạy v à học trong quá trình dạy học

đƣợc thể hiện bởi sơ đồ sau:

Sơ đồ 2: Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học.

Khái niệm khoa học (bài học)



Môi trƣờng

KT- XH

KH- KT

Công nghệ



Cộng



Điều khiển



Tác



Truyền đạt



12



Tự điều khiển



Lĩnh hội



Quy luật chi phối quá trình dạy học có thể phát biểu nhƣ sau: “Xuất

phát từ logic khái niệm khoa học và logic lĩnh hội của học sinh, thiết kế công

nghệ dạy học hợp lí, tổ chức tối ƣu quá trình cộng tác, đảm bảo liên hệ nghịch

để cuối cùng làm cho học sinh tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh đƣợc khái

niệm khoa học phát triển thành năng lực và hình thành thái độ” [29,tr.4].

1.1.5.4. Quản lí quá trình dạy học

Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của

nhà trƣờng. Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trƣờng dều

hƣớng vào hoạt động trung tâm đó. Vì vậy, có thể nói rằng trọng tâm của

việc quản lí trƣờng học là việc quản lí hoạt động dạy – học và giáo dục. Đó

chính là quản lí hoạt động lao động sƣ phạm của ngƣời thầy và hoạt động học

tập, rèn luyện của trò mà nó đƣợc diễn ra trong quá trình dạy học. Trong nhà

trƣờng, bản chất quá trình dạy học quyết định tính đặc thù của sự quản lí

trƣờng học. Vì vậy nắm đƣợc tính đặc thù này, ngƣời QLGD mới có thể đƣa

nhà trƣờng đạt tới mục tiêu dự kiến đã đề ra [5]. Việc quản lí nhà trƣờng phổ

thông là quản lí hoạt động dạy học, tức là làm sao đƣa hoạt động đó từ trạng

thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục [28].

Quản lí dạy học là quản lí một quá trình với tƣ cách là một hệ toàn

vẹn, bao gồm các nhân tố cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy

học,thầy với hoạt động dạy ,trò với hoạt động học, các phƣơng pháp, phƣơng

tiện dạy học, kết quả học tập. Tất cả các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy

học tồn tại trong mối quan hệ qua lại thống nhất trong môi trƣờng của nó,

môi trƣờng chính trị- xã hội và môi trƣờng cách mạng khoa học kĩ thuật.

Nói một cách khái quát: “Quản lí giáo dục (và quản lí trƣờng học nói

riêng) là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể

quản lí (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lí

giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng XHCN Việt



13



Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo

dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [28,tr.64].

1.1.5.5. Quản lý hoạt động dạy của giáo viên

+ Phân công giảng dạy cho giáo viên

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lƣợng giáo dục

của nhà trƣờng đó là giáo viên phải phát huy đƣợc tối đa năng lực, sở

trƣờng của bản thân trong công tác giảng dạy. Để đạt đƣợc mục tiêu đó,

ngƣời Hiệu trƣởng cần nắm vững chất lƣợng đội ngũ, hiểu đƣợc mặt mạnh,

mặt yếu, hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ bản thân của từng thành viên trong

đơn vị. Từ đó sẽ sử dụng đúng ngƣời vào đúng việc, giúp cho giáo viên tự

tin trong công tác, có trách nhiệm hơn trong công việc, họ sẽ cố gắng hết

mình để khẳng định trong tập thể sƣ phạm nhà trƣờng.

Trong tình hình hiện nay, hầu hết các trƣờng học (đặc biệt các trƣờng

miền núi) đội ngũ giáo viên vừa thừa lại vừa thiếu, chất lƣợng chuyên môn

nghiệp vụ không đồng đều, cho nên việc phân công giảng dạy cho giáo

viên vừa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, vừa phù hợp với trình

độ năng lực, với nguyện vọng cá nhân không phải là điều dễ dàng.

Hiệu trƣởng cần quán triệt quan điểm phân công giáo viên theo chuyên

môn đã đƣợc đào tạo, theo yêu cầu của nhà trƣờng, đảm bảo chất lƣợng chuyên

môn chung. Song Hiệu trƣởng phải tin tƣởng vào sự cố gắng vƣơn lên của từng

giáo viên, không định kiến với bất kỳ ngƣời nào. Phân công giáo viên cần thận

trọng, khéo léo sao cho công bằng, khách quan, đạt hiệu quả giáo dục cao.

Phân công giảng dạy còn phải xuất phát từ quyền lợi học tập của học

sinh và chú ý tới khối lƣợng công việc của từng giáo viên sao cho hợp lý,

nhất là giáo viên làm công tác kiêm nhiệm.

Trong việc phân công giảng dạy cho giáo viên, Hiệu trƣởng cần lƣu

ý các bƣớc sau:



14



- Nghiên cứu kỹ từng đối tƣợng giáo viên để nắm bắt đƣợc khả năng,

nguyện vọng, sở trƣờng của từng ngƣời.

- Phối hợp chặt chẽ với Phó hiệu trƣởng phụ trách chuyên môn, tổ

trƣởng chuyên môn để dự kiến phân công.

- Bàn bạc, trao đổi thống nhất trong các tổ chuyên môn.

- Quyết định phân công giảng dạy cho từng giáo viên chỉ thay đổi

trong những trƣờng hợp thực sự cần thiết.

+ Quản lý việc thực hiện chƣơng trình dạy học

Chƣơng trình dạy học là văn bản pháp lệnh của Nhà nƣớc do Bộ GD

và ĐT ban hành, quy định nội dung, phƣơng pháp, hình thức dạy học các

môn, thời gian dạy học từng môn nhằm thực hiện yêu cầu, mục tiêu cấp học.

Là căn cứ pháp lý để các cấp quản lý tiến hành chỉ đạo, giám sát hoạt động

dạy học của các trƣờng. Đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý để Hiệu trƣởng

quản lý giáo viên theo yêu cầu mà Bộ giáo dục đã đề ra cho từng cấp học.

Để giáo viên nắm vững chƣơng trình dạy học, Hiệu trƣởng cần:

- Nắm vững nguyên tắc cấu tạo chƣơng trình dạy học cấp THPT,

nguyên tắc cấu tạo chƣơng trình dạy học của môn học, nội dung và phạm vi

kiến thức của từng môn học.

- Phƣơng pháp dạy học đặc trƣng của bộ môn và các hình thức dạy

học của môn học đó.

- Chỉ đạo tổ chuyên môn thảo luận về nội dung, phƣơng pháp giảng

dạy bộ môn, những sửa đổi trong chƣơng trình SGK mới. Bàn bạc những

vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giảng dạy của các năm học trƣớc và những

vấn đề mới trong chƣơng trình dạy học để thống nhất thực hiện trong cả

năm học.

- Cân đối các hoạt động trong năm học, bố trí thời gian hợp lý, khoa

học để giáo viên thực hiện đầy đủ chƣơng trình năm học.



15



Hiệu trƣởng theo dõi tình hình thực hiện chƣơng trình dạy học thông

qua: Sổ ghi đầu bài, sổ báo giảng, giáo án của giáo viên; qua báo cáo của

Phó hiệu trƣởng phụ trách chuyên môn, tổ trƣởng, từ đó có kế hoạch điều

chỉnh thời gian khi cần sao cho chƣơng trình đƣợc thực hiện đều ở các khối lớp.

Hiệu trƣởng sử dụng thời khoá biểu để điều khiển, kiểm soát tiến độ

thực hiện chƣơng trình của mỗi cá nhân, kịp thời xử lý hàng ngày các sự cố

(nếu có) ảnh hƣởng đến việc thực hiện chƣơng trình.

+ Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên

Chất lƣợng của giờ giảng trên lớp phụ thuộc rất nhiều vào việc soạn

bài và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho bài giảng. Cho nên Hiệu

trƣởng cần chỉ đạo sát sao việc soạn bài và chuẩn bị các thiết bị dạy học

cần thiết. Để làm đƣợc việc đó Hiệu trƣởng cần tập trung vào một số công

việc sau:

- Yêu cầu các tổ nhóm chuyên môn nghiên cứu kỹ nội dung chƣơng

trình môn học đƣợc phân công. Trao đổi, thảo luận đi đến thống nhất về

mục đích, yêu cầu, nội dung, phƣơng pháp, phƣơng tiện, hình thức tổ chức

của từng tiết học.

- Có quy định cụ thể việc sử dụng SGK, sách hƣớng dẫn giảng dạy,

sách tham khảo và các trang thiết bị hiện có.

Thƣờng xuyên cùng với tổ trƣởng chuyên môn, thanh tra nhân dân

kiểm tra bài soạn của giáo viên để có thông tin về việc thực hiện chƣơng

trình, nội dung bài soạn có đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới giáo dục phổ

thông trong giai đoạn hiện nay hay không?

- Thông qua việc dự giờ trên lớp để đánh giá kết quả việc chuẩn bị

bài giảng của giáo viên.

- Sau khi kiểm tra phải tổ chức rút kinh nghiệm trong tổ chuyên môn

để cải tiến việc soạn bài, sao cho bài soạn phải thể hiện đƣợc là bản thiết kế



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (107 trang)

×