1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.79 MB, 130 trang )


Bƣớc vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH đất nƣớc, với vai

trò và vị trí của mình, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố Hải

Phòng đang tập trung xây dựng và phát triển để Hải Phòng xứng đáng là

thành phố cảng, công nghiệp hiện đại; là đô thị trung tâm cấp quốc gia; đầu

mối giao thông quan trọng và cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc; một

cực tăng trƣởng quan trọng của vùng kinh tế động lực phía Bắc; một trọng

điểm phát triển kinh tế biển; một trong những trung tâm công nghiệp, thƣơng

mại lớn của cả nƣớc và trung tâm dịch vụ, du lịch, thuỷ sản, giáo dục và y tế

của vùng duyên hải Bắc bộ; một pháo đài bất khả xâm phạm về quốc phòng –

an ninh; có tổ chức đảng và hệ thống chính trị không ngừng lớn mạnh, đời

sống nhân dân ngày càng nâng cao.

Muốn vậy, thành phố cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau :

(1) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nhằm phát huy tối đa các nguồn lực và lợi thế

cho đầu tƣ, phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững.

(2) Đặc biệt coi trọng công tác quy hoạch, tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh quy

hoạch tổng thể không gian đô thị và các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

(3) Đẩy nhanh hơn tiến trình sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả

doanh nghiệp nhà nƣớc, phát triển mạnh các thành phần kinh tế khác.

(4) Gắn phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội; tăng cƣờng

đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực phục vụ nhiệm vụ CNH – HĐH.

(5) Gắn phát triển kinh tế – xã hội với nhiệm vụ củng cố quốc phòng – an

ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, giữ vững chủ quyền quốc gia

trên biển - đảo.

(6) Đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà

nƣớc; tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ.

(7) Thƣờng xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng.[1]

2.2. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRƢỜNG



48



ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG

Trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng (gọi tắt là ĐHDL Hải Phòng) đƣợc

thành lập ngày 24/9/1997 theo quyết định số 792/TTg của Thủ tƣớng Chính

phủ. Hiện nay, ĐHDL Hải Phòng là một trong sáu trƣờng ĐH, CĐ và là

ĐHDL duy nhất trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Theo GS Trần Hữu Nghị - Chủ tịch Hội đồng sáng lập, Hiệu trƣởng

nhà trƣờng, “dƣới ánh sáng của Nghị quyết Trung ƣơng 2 khoá VIII và Nghị

quyết 04 Thành uỷ Hải Phòng về XHH giáo dục, ĐHDL Hải Phòng đƣợc ra

đời với thời gian ngắn nhất và nhận đƣợc sự đón mừng của đông đảo ngƣời

dân Hải Phòng vì nó phù hợp với nguyện vọng của ngƣời dân Đất Cảng hiếu

học nhƣng còn nhiều khó khăn về kinh tế”.[35, tr.20]

ĐHDL Hải Phòng ra đời đúng vào thời điểm các ĐHDL khác ở nƣớc ta

đang gặp khó khăn về nhiều mặt, do các trƣờng đều còn rất non trẻ, thiếu kinh

nghiệm. Cá biệt, hiện tƣợng “ăn xổi, ở thì” đã xảy ra ở một số trƣờng, những

hiện tƣợng tiêu cực ở những trƣờng này đã khiến cho ngƣời dân không tin

tƣởng vào các trƣờng dân lập, trong xã hội đã xuất hiện những hoài nghi về

tính đúng đắn của Nghị quyết Trung ƣơng 2.

Để tồn tại và phát triển, ĐHDL Hải Phòng đã đề ra phƣơng châm hoạt

động : “chất lượng đào tạo là sự sống còn”, từ khi thành lập cho đến nay,

mọi hoạt động trong trƣờng đều thống nhất theo đuổi phƣơng châm này.

Từ bài học của các ĐHDL đi trƣớc, ĐHDL Hải Phòng xác định mục

tiêu thứ nhất là phải có ngôi trƣờng riêng của mình và mục tiêu thứ hai là ngôi

trƣờng đó phải khang trang hiện đại. Nhờ vậy, với hệ thống cơ sở vật chất

hiện có, trƣờng đã và đang đƣợc coi là “điểm sáng” trong hệ thống các trƣờng

ngoài công lập ở nƣớc ta.

ĐHDL Hải Phòng đƣợc xây dựng trên hai khu đất riêng biệt bên cạnh

đƣờng Quốc lộ 5, một vị trí rất thuận tiện về giao thông trên địa bàn phƣờng



49



Dƣ Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành

phố khoảng 4 km, rất gần với các trƣờng CĐ, ĐH khác của thành phố nhƣ

trƣờng Đại học Hàng Hải Việt Nam, trƣờng Đại học Y Hải Phòng và trƣờng

Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng.

Trong 8 năm xây dựng và phát triển, trƣờng đã có một khu giảng

đƣờng trong khuôn viên 7.700 m2 với diện tích xây dựng 12.500 m2 gồm một

dãy nhà sáu tầng, năm dãy nhà ba tầng có đủ 100 phòng học, phòng máy tính,

phòng học ngoại ngữ, phòng thí nghiệm, phòng thực hành với trang thiết bị

hiện đại cho các bộ môn Hoá, Lý, Môi trƣờng, Điện - Điện tử, …

Thƣ viện nhà trƣờng hiện có hơn 60.000 cuốn sách và hàng chục loại

tạp chí chuyên ngành đƣợc quản lý bằng hệ thống phần mềm quản lý thƣ viện

điện tử Libol – đây là một trong năm trƣờng ĐH đầu tiên trong cả nƣớc sử

dụng hệ thống phần mềm quản lý hiện đại này. GVCBNV và SV trong trƣờng

có thể đến tham khảo tài liệu trong phòng đọc 500 chỗ của Thƣ viện hoặc cập

nhật thông tin qua hệ thống hơn 500 máy tính nối mạng LAN và Internet.

Tháng 01 năm 2003, nhà trƣờng đã khánh thành và đƣa vào sử dụng

cùng một lúc năm hạng mục công trình chào mừng 5 năm ngày thành lập

trƣờng : khu ký túc xá SV với sức chứa 1400 SV gồm 240 phòng đƣợc trang

bị đầy đủ thiết bị sinh hoạt nhƣ giƣờng, chăn, màn, tủ cá nhân, bàn học, …;

nhà ăn SV 500 chỗ; nhà tập thể thao đa chức năng; sân vận động và bể bơi

thông minh với tổng diện tích xây dựng 18.000 m2 trên khuôn viên 25.628m2,

đáp ứng nhu cầu học tập, rèn luyện, sinh hoạt cho gần 6000 SV đến từ 41

tỉnh, thành trên cả nƣớc đang theo học 14 chuyên ngành tại trƣờng.

Tổng kinh phí đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất của trƣờng hiện đã đạt

hơn 78 tỷ đồng. GVCBNV và SV của trƣờng có quyền tự hào về ngôi trƣờng

thực sự của chính mình, không phải trƣờng thuê mƣợn, học nhờ, GVCBNV

và SV nhà trƣờng thực sự tin tƣởng, yên tâm công tác, học tập và tu dƣỡng.



50



Tám năm qua, nhà trƣờng cũng đã xây dựng đƣợc một đội ngũ cơ hữu

với 158 GV và 100 CBNV, trong đó có 1 Giáo sƣ, 1 Phó Giáo sƣ, 4 Tiến sỹ,

81 Thạc sỹ. Đội ngũ GV cơ hữu của trƣờng đƣợc tuyển chọn qua các đợt thi

nghiêm túc, bài bản. Những GV này đa số là SV tốt nghiệp loại Khá, Giỏi của

các trƣờng ĐH trong cả nƣớc. Để nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn của

đội ngũ GV cơ hữu, nhà trƣờng đã đề ra nhiều chính sách khuyến khích, hỗ

trợ cho GVCBNV nhà trƣờng tham gia các lớp học bồi dƣỡng nâng cao

chuyên môn, nghiệp vụ, học cao học, … Hiện nay, trƣờng có 50 GV đang

theo học Cao học, 04 GV đang làm Nghiên cứu sinh Tiến sỹ.

Bên cạnh đội ngũ GV cơ hữu còn non trẻ đang đƣợc nhà trƣờng tạo

mọi điều kiện thuận lợi để học tập nâng cao trình độ, trong những năm qua,

chất lƣợng đào tạo một phần quan trọng đƣợc đảm bảo bởi một đội ngũ GV

thỉnh giảng đông đảo hơn 300 Giáo sƣ, Tiến sỹ, Thạc sỹ, GV chính của các

trƣờng ĐH, viện nghiên cứu trong cả nƣớc tham gia.

Để đạt đƣợc đƣợc mục tiêu đào tạo có chất lƣợng cao, ĐHDL Hải

Phòng cũng đã đề ra và áp dụng nhiều phƣơng pháp quản lý công tác đào tạo

cũng nhƣ công tác quản lý SV hữu hiệu. SV của trƣờng đƣợc đòi hỏi phải có

mặt trên lớp nhiều hơn, chăm chỉ cần cù hơn so với quy định của Bộ GD-ĐT.

Trong trƣờng hình thành phong trào “dạy thật – học thật – thi thật để làm

thật”, cuộc vận động “học tốt – thi nghiêm túc” đƣợc GVCBNV và SV hƣởng

ứng nhiệt tình.

ĐHDL Hải Phòng đã và đang thực hiện tốt chế độ ƣu đãi đối với SV là

con các gia đình thuộc diện chính sách, đặc biệt đối với các SV là nạn nhân

chất độc màu da cam, hỗ trợ SV nghèo, làm tốt công tác khuyến học.

ĐHDL Hải Phòng cũng rất quan tâm đến việc mở rộng quan hệ hợp tác

và liên kết đào tạo với các trƣờng ĐH, các học viện trong và ngoài nƣớc nhằm

mở rộng tầm vóc và quy mô đào tạo của trƣờng, đồng thời, nâng cao trình độ



51



chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ cho GVCBNV nhà trƣờng phù hợp với

nền giáo dục tiên tiến của các nƣớc trên thế giới trong xu thế hội nhập.

Bên cạnh những mặt nói trên, hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong

trƣờng cũng đƣợc hết sức coi trọng. Các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên,

Hội SV, Hội Chữ thập đỏ, Hội Bảo vệ môi trƣờng, Hội Thể thao ĐH và

chuyên nghiệp, Hội Điện tử – Tin học trong trƣờng đoàn kết, nhất trí tuân thủ

sự lãnh đạo của Đảng bộ nhà trƣờng. Các tổ chức đoàn thể đều lấy các đồng

chí Đảng viên làm nòng cốt, đã tập trung đƣợc mọi lực lƣợng của trƣờng vào

những hoạt động bổ ích, làm cho không khí học đƣờng trong sạch, lành mạnh,

đoàn kết, phấn khởi. Từ sự quan tâm của Đảng bộ, từ những hoạt động thực tế

của các tổ chức đoàn thể, mọi thành viên trong trƣờng thấy an tâm tin tƣởng,

phấn khởi tích cực đóng góp cho nhà trƣờng và nghiêm túc thực hiện những

quy định của trƣờng đề ra, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo cũng nhƣ uy

tín và vị thế của trƣờng.

Với những thành tích đạt đƣợc, trƣờng đã đƣợc tặng thƣởng nhiều bằng

khen của Nhà nƣớc và của thành phố Hải Phòng.

Trƣờng cũng đã đƣợc đón nhiều vị lãnh đạo Trung ƣơng, các Bộ, các

tỉnh, thành và nhiều đoàn đại biểu của các trƣờng ĐH trong và ngoài nƣớc

đến thăm và làm việc tại trƣờng.

Đến nay, nhà trƣờng đã đào tạo cho thành phố Hải Phòng và các tỉnh

bạn hơn 4000 kỹ sƣ, cử nhân. Theo kết quả thống kê, hơn 80% SV tốt nghiệp

đã tìm đƣợc việc làm đúng chuyên môn. Nhiều SV đã trở thành cán bộ chủ

chốt, giữ các chức vụ quan trọng tại nhiều cơ quan, đơn vị trên khắp cả nƣớc.

Tuy là một trƣờng “sinh sau đẻ muộn”, nhƣng “trƣờng đã đi đúng

đƣờng lối giáo dục đào tạo của Đảng, lấy chất lƣợng chính trị, chất lƣợng

chuyên môn là chính”[35, tr.13], cùng với sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, ban

ngành trong cả nƣớc nói chung và của thành phố Hải Phòng nói riêng, ĐHDL



52



Hải Phòng đã vƣơn lên hàng đầu trong các trƣờng dân lập, đóng góp vào việc

khẳng định chủ trƣơng XHH giáo dục của Đảng.

Không dừng lại, ĐHDL Hải Phòng vẫn luôn tìm tòi những giải pháp

mới để nâng cao chất lƣợng đào tạo, phấn đấu đƣa trƣờng lên ngang hàng với

các trƣờng có uy tín trong nƣớc cũng nhƣ trên quốc tế.

2.3. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ VÀ TỰ CHỊU

TRÁCH NHIỆM TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI

PHÒNG TRONG THỜI GIAN QUA

2.3.1. Công tác tổ chức và quản lý đội ngũ

2.3.1.1. Hội đồng quản trị

ĐHDL Hải Phòng đƣợc thành lập ngày 24/9/1997, đến ngày 29/9/1997,

toàn bộ chín thành viên thuộc Hội đồng sáng lập của trƣờng đã đƣợc công

nhận là thành viên của HĐQT trƣờng. Trong đó có một số thành viên đã từng

công tác trong lĩnh vực quản lý ĐH.

2.3.1.2. Cơ cấu tổ chức :

Đứng đầu bộ máy điều hành trong trƣờng là Hiệu trƣởng, giúp việc cho

Hiệu trƣởng là hệ thống Trợ lý, nhƣ Trợ lý Đào tạo, Trợ lý Xây dựng, Trợ lý

Thanh tra đào tạo, Trợ lý Y tế, không có Phó Hiệu trưởng.

Cơ cấu tổ chức của nhà trƣờng bao gồm :

- Hai phòng chức năng : Phòng Đào tạo và Phòng Hành chính tổng hợp;

- Tám tổ bộ môn chuyên môn : + Bộ môn Tin học,

+ Bộ môn Cơ bản cơ sở,

+ Bộ môn Quản trị kinh doanh,

+ Bộ môn Điện - Điện tử,

+ Bộ môn Môi trƣờng,

+ Bộ môn Ngoại ngữ,

+ Bộ môn Xây dựng;



53



- Bốn tổ công tác :



+ Tổ Công tác Thƣ viện,

+ Tổ Công tác Quản lý SV,

+ Tổ Y tế,

+ Tổ Nhà ăn;



- Trung tâm Tin học - Ngoại ngữ;

- Ban Dự án nâng cao chất lƣợng đào tạo.

- Các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức quần chúng : Đảng bộ, Công đoàn,

Đoàn thanh niên, Hội SV, Hội Thể thao ĐH và chuyên nghiệp, Hội Chữ thập

đỏ, Hội Bảo vệ môi trƣờng, Hội Khuyến học, ……

Có thể sơ đồ hoá cơ cấu tổ chức nhà trƣờng theo Hình 2.1 dƣới đây :



54



(Hình 2.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức ĐHDL Hải Phòng)

Đội ngũ GVCBNV cơ hữu đƣợc phân công công tác tại các đơn vị

trong trƣờng tuỳ theo chuyên môn, năng lực của bản thân và chịu sự lãnh đạo

trực tiếp của Tổ trƣởng/Chủ nhiệm bộ môn.

Mọi hoạt động của nhà trƣờng đều đƣợc công khai bàn bạc và thảo

luận, sau đó mới ra quyết định. Nhờ bộ máy điều hành gọn nhẹ, nhờ sự lãnh

đạo trực tuyến, nên các mặt công tác trong trƣờng đƣợc triển khai nhanh

chóng, kịp thời, không bị ách tắc và sai lệch ở khâu trung gian.



55



2.3.1.3. Quản lý đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên cơ hữu và sinh viên

ĐHDL Hải Phòng xác định cần phải xây dựng đội ngũ cơ hữu và chỉ

khi có đội ngũ cơ hữu, trƣờng mới không bị rơi vào thế bị động, mới có khả

năng phát triển ổn định, bền vững lâu dài.

Để xây dựng đội ngũ cơ hữu, nhà trƣờng nhằm vào đối tƣợng tuổi đời

còn trẻ, có thể bồi dƣỡng để đảm nhận các môn chuyên ngành sau này. Xuất

phát từ tình hình thực tiễn, ban lãnh đạo nhà trƣờng đã tìm ra các biện pháp để

thu hút “chất xám” bằng cách thi tuyển những kỹ sƣ, cử nhân trẻ có năng lực,

có kiến thức, đạo đức về trƣờng để đào tạo dần trở thành đội ngũ GV cơ hữu.

Các kỳ thi tuyển này đều đƣợc nhà trƣờng thông báo rộng rãi trên các phƣơng

tiện thông tin đại chúng, hình thức thi tuyển đƣợc phổ biến tới từng ứng viên.

Thực tế cho thấy để có thể vào làm việc trong trƣờng, dù ở bất kỳ bộ phận

nào, tất cả các ứng viên đều phải trải qua các kỳ thi tuyển đƣợc tổ chức

nghiêm túc và bài bản.

Trƣờng đã xây dựng đƣợc một chế độ chính sách đãi ngộ đối với đội

ngũ cơ hữu để họ yên tâm công tác, phấn đấu, nâng cao trình độ. Trƣờng đã

ký hợp đồng dài hạn, mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho số GVCBNV

cơ hữu, quyền lợi chính trị, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của đội

ngũ GVCBNV trong suốt những năm qua luôn luôn đƣợc đảm bảo; đồng thời

trƣờng cũng có các chế độ đầu tƣ, khuyến khích đội ngũ GV đƣợc đào tạo sau

ĐH, nhƣ thƣởng ngay sau khi thi đỗ, hỗ trợ học phí và kinh phí đào tạo, trong

thời gian đi học đƣợc giữ nguyên 100% lƣơng, sau khi tốt nghiệp đƣợc nâng

bậc lƣơng, ….

Hiện nay, trung bình mỗi năm học, ĐHDL Hải Phòng phải mời khoảng

500 lƣợt GV thỉnh giảng, đội ngũ GV cơ hữu chiếm 40% tổng số GV đang

giảng dạy tại trƣờng, trong những năm qua trƣờng luôn có khoảng 1/3 số GV

cơ hữu luân phiên nhau đi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ tại các cơ sở



56



trong và ngoài nƣớc.

Đánh giá đƣợc trình độ đầu vào của thí sinh thi vào ĐHDL nhìn chung

thấp hơn so với thí sinh thi vào các trƣờng ĐH công lập, ĐHDL Hải Phòng đã

đề ra nhiều biện pháp quản lý SV. Trƣờng đòi hỏi SV phải chăm chỉ hơn, phải

có mặt trên lớp nhiều hơn. Ngƣời quản lý và theo dõi SV chính là thày giáo,

cán bộ lớp, đội ngũ SV tự quản và bộ phận quản lý SV.

Để quản lý SV nội trú, trƣờng sử dụng triệt để phƣơng thức tự quản của

SV. Khu nội trú của trƣờng đƣợc mang tên gọi “Khách sạn Sinh viên”, gọi là

“khách sạn” là bởi vì khi sống tại đây, SV đƣợc cung cấp toàn bộ thiết bị sinh

hoạt, SV chỉ cần mang theo sách vở và quần áo. Nhƣng gọi là “khách sạn sinh

viên” là vì giá thuê phòng thấp, phù hợp với “túi tiền” của SV, điểm cơ bản

nhất, SV phải là ngƣời chủ trong khu nội trú; chế độ trực ban tại Khách sạn,

công tác giữ gìn vệ sinh phòng ở và môi trƣờng xung quanh hoàn toàn do SV

đảm nhiệm. SV trong mỗi phòng ở luân phiên đƣợc Hiệu trƣởng ra quyết định

làm “Trƣởng phòng” trong vòng 6 tháng, nhƣ vậy, mỗi SV sống tại đây đều

đƣợc tạo cơ hội rèn luyện bản lĩnh tự lập cũng nhƣ kỹ năng quản lý.

Mối quan hệ giữa nhà trƣờng và gia đình SV luôn đƣợc quan tâm, củng

cố. Tổ Công tác quản lý sinh viên là đầu mối liên lạc thƣờng xuyên giữa nhà

trƣờng và gia đình SV. Hàng năm, trƣờng đều tổ chức các cuộc họp gặp mặt

phụ huynh SV để trao đổi, thông báo tình hình học tập và tu dƣỡng của SV,

tình hình phát triển của trƣờng cũng nhƣ tìm hiểu yêu cầu, nguyện vọng của

gia đình và xã hội.

Trƣờng rất coi trọng thực hiện DCH. Nhờ tổ chức thực hiện DCH một

cách nghiêm túc, cụ thể, nên mọi chủ trƣơng, quy định cũng nhƣ các hoạt

động trong trƣờng đều đƣợc GVCBNV và SV tích cực hƣởng ứng.

Hàng tháng, trƣờng duy trì đƣợc một buổi đối thoại giữa Hiệu trƣởng

và cán bộ chủ chốt của nhà trƣờng với cán bộ lớp, cán bộ chi đoàn và SV tự



57



quản; những đề xuất, kiến nghị, khó khăn của SV đƣợc giải quyết kịp thời,

đồng thời, lãnh đạo trƣờng cũng nắm đƣợc tâm tƣ nguyện vọng và vƣớng mắc

của SV. Tất cả những vấn đề đƣợc giải quyết trong cuộc đối thoại đƣợc công

khai trong buổi chào cờ hàng tháng.

Bên cạnh đó, trƣờng duy trì đƣợc các buổi họp vào cuối mỗi tháng với

toàn thể GVCBNV, hàng tuần đều có các cuộc họp giao ban, mọi vấn đề của

trƣờng đều đƣợc bàn luận công khai trong những buổi họp này. Chính nhờ

cách làm DCH nhƣ vậy, nên mọi thành viên trong trƣờng đều nhận thức đƣợc

vai trò của mình, mọi ngƣời tin tƣởng, an tâm làm việc, học tập và rèn luyện.

2.3.2. Công tác quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học

Giúp việc cho Hiệu trƣởng về công tác quản lý đào tạo và NCKH là

Trợ lý Đào tạo, Trợ lý Thanh tra đào tạo, Phòng Đào tạo và Hội đồng Khoa

học và đào tạo.

Với phƣơng châm “chất lượng là sự sống còn”, ĐHDL Hải Phòng đặc

biệt coi trọng các hoạt động có liên quan đến công tác đào tạo. Trƣờng đã đi

sâu vào nghiên cứu cải tiến công tác tổ chức quản lý, từ việc quản lý SV lên

lớp, kiểm tra nội dung chƣơng trình, lịch trình, khối lƣợng giảng dạy, chuẩn

bị và tổ chức thi nghiêm túc, chấm thi công bằng.

Đội ngũ GV của trƣờng, bao gồm cả GV thỉnh giảng và cơ hữu đƣợc

đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm các quy định về công tác giáo vụ. Trong lĩnh

vực đào tạo, trƣờng đã cử một cán bộ thuộc Phòng Đào tạo chuyên trách về

công tác GV, cán bộ này có trách nhiệm lập thời khoá biểu, giữ mối liên hệ và

theo dõi giờ giảng của đội ngũ GV, ……

ĐHDL Hải Phòng đã xây dựng các chƣơng trình đào tạo của trƣờng

dựa theo chương trình khung của Bộ GD-ĐT, đồng thời tham khảo các

chƣơng trình của các trƣờng ĐH công lập đi trƣớc, mặt khác, trƣờng cũng

nghiên cứu nhu cầu của xã hội, của địa phƣơng để có sự thay đổi phù hợp đối



58



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

×