1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 129 trang )


Quốc bảo. Những vấn đề về lãnh đạo – quản lý và sự vận dụng vào điều hành

nhà trường, Bài giảng cho học viên cao học quản lý giáo dục, 2010...

Nhiều đề tài luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục đã nghiên cứu về các

biện pháp quản lý hoạt động dạy- học trong nhà trường THPT. Liên quan trực

tiếp đến đề tài tác giả đang nghiên cứu có một số công trình sau đây: Tuyển

tập các bài báo khoa học Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ, 19952005; Nguyễn Thị Thu Phương. Các biện pháp quản lý quá trình đổi mới

phương pháp dạy học Tiếng Anh tại các trường trung học phổ thông thành

phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục, 2007; Nguyễn Thị Bình. Các

biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường trung học

phổ thông quận Lê Chân thành phố Hải Phòng, Luân văn thạc sỹ quản lý giáo

dục, 2009; Lê Vũ Huy. Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học môn

Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn,

Luận Văn thạc sỹ quản lý giáo dục, 2010.

Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã đạt được những thành tựu

nhất định về lý luận cũng như thực tiễn . Tuy nhiên việc áp kết quả nghiên

cứu sẽ còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện thực tế của các nhà trường. Cho

đến nay việc nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng

Anh ở trường THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng chưa có ai thực hiện.

Khi tác giả lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài này sẽ kế thừa những kết

quả các công trình nghiên cứu đã đề cập tới và tiếp tục đề xuất một số giải

pháp khả thi mới để quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh tại trường

THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng.

1.2. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Quản lý, biện pháp quản lý

1.2.1.1. Khái niệm quản lý

Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu

đời của con người. Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội.

6



Quản lý là một việc cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và

là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Lý luận về quản lý vì vậy được hình

thành và phát triển qua các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế xã

hội. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của

quá trình quản lý và dần hình thành các “lý thuyết quản lý”. Từ khi F.W.Taylor

phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành

một ngành khoa học. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của

nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính

sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ

cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý.

Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp

cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị. Có thể điểm

qua một số lý thuyết đó như sau:

K.Markx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự

chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiệ những chức năng

chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận

động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều

khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”[ 23, tr.480]

Như vậy K.Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động

để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình

phát triển của xã hội loài người. Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi

nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một

loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và

hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung.

Tác giả H. Knoontz cũng nhấn mạnh: “ Quản lý là một hoạt động thiết

yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các nhân nhằm đạt được mục đích

của nhóm ( tổ chức ). Mục đích của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành môi

7



trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời

gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [ 17, tr 33 ].

Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học

quản lý và khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung

là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”

[25,tr.35].

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt

động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người

quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ

chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8, Tr. 9].

Tác giả Phạm Văn Kha khẳng định: “ Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ

chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và

việc sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục đích đã định”[21, Tr.6].

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu chung các định

nghĩa trên đều thống nhất:

Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố:

chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị

quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi,

cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể

quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết,

thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối

quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.

1.2.1.2. Biên pháp quản lý

Nghiên cứu về khoa học quản lý, tác giả Trần Quốc Thành nêu ra bốn

biện pháp quản lý chính, đó là: Biện pháp thuyết phục, biện pháp hành chínhtổ chức, biện pháp kinh tế, biện pháp tâm lý - giáo dục.

8



Biện pháp thuyết phục: Là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối

tượng quản lý bằng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa

nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các

yêu cầu này. Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người. Biện pháp

thuyết phục gắn với tất cả các biên pháp quản lý khác và phải được người

quản lý sử dụng trước tiên vì nhận thức là bước đi đầu tiên trong hoạt động

của con người.

Biện pháp hành chính- tổ chức : Là cách tác động của chủ thể quản lý

vào đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ quyền lực tổ chức, quyền hạn hành

chính. Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật của tổ chức, bởi lẽ bất cứ

một hệ thống nào cũng có quan hệ tổ chức. Trong đó người ta sử dụng quyền

uy và sự phục tùng trong bộ máy này. Khi sử dụng biện pháp hành chính – tổ

chức, chủ thể quản lý phải nắm chắc các văn bản pháp lý, biết rõ giới hạn,

quyền hạn trách nhiệm, phỉa kiểm tra và nắm được các thông tin phản hồi.

Biện pháp kinh tế: Là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng

quản lý thông qua lợi ích kinh tế. Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật

kinh tế, thông qua nó để tác động vào tâm lý đối tượng. Nội dung của biên

pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm vụ, kế hoạch … tương ứng với các

mức lợi ích kinh tế. Đối tượng bị quản lý có thể lựa chọn phương án thích hợp

để vừa đạt được mục tiêu của tập thể vủa đạt được lợi ích kinh tế của cá nhân.

Khi sử dụng biện pháp này cần tránh dẫn đến chủ nghĩa thực dụng hay sự mất

đoàn kết nếu thiếu công bằng.

Biện pháp tâm lý- giáo dục: Là cách tác động vào đối tượng quản lý

thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng con người. Cơ sở của biện pháp này là

dựa vào quy luật tâm lý và chức năng tâm lý con người. Nội dung của biện

pháp là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người. Muốn quản lý

thành công nhà quản lý cần phải hiểu rõ tâm lý của bản thân mình và đối

tượng quản lý.

9



1.2.1.3.Các chức năng quản lý

Qua nghiên cứu lý luận và thực tế công tác quản lý nói chung, có thể

tóm lược rằng: quản lý bao gồm bốn chức năng cơ bản là kế hoạch hóa, tổ

chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá.

Chức năng kế hoạch hóa : là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ

thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó. Kế

hoạch là nền tảng của quản lý, lập kế hoạch bao gồm: Xác định chức năng,

nhiệm vụ và các công việc của đơn vị, dự báo, đánh giá triển vọng, đề ra mục

tiêu, chương trình, xác định tiến độ, xác định ngân sách, xây dựng các nguyên

tắc tiêu chuẩn, xây dựng các thể thức thực hiện...

Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền

hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và

đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Xây dựng các cơ cấu,

nhóm, tạo sự hợp tác liên kết, xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp bồi

dưỡng cho phù hợp, phân công nhóm và cá nhân.

Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo, điều khiển): là quá trình tác động đến các

thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt

được các mục tiêu của tổ chức.Trong chỉ đạo chú ý sự kích thích động viên,

thông tin hai chiều đảm bảo sự hợp tác trong thực tế.

Chức năng kiểm tra: là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá

và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức. Xây dựng định mức

và tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá, rút kinh nghiệm và

điều chỉnh.

Ngoài 4 chức năng cơ bản trên đây, cần lưu ý rằng, trong mọi hoạt

động của QLGD, thông tin QLGD đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được

coi như “mạch máu” của hoạt động QLGD. Chính vì vậy nhiều nghiên cứu

gần đây đã coi thông tin như một chức năng trung tâm liên quan đến các chức

năng quản lý khác. Nếu thiếu hoặc sai lệch thông tin thì công tác quản lý gặp

10



nhiều khó khăn, tạo nên những quyết định sai lầm, khiến công tác quản lý

kém hiệu quả hoặc thất bại. Vì vậy, có thể biểu diễn sơ đồ đầy đủ về mối

quan hệ giữa các chức năng quản lý với vai trò đặc biệt của thông tin quản

lý như sau:

Sơ đồ 1.1: Thông tin trong QLGD



Kế hoạch



Kiểm tra,

đánh giá



Thông tin



Tổ chức



Chỉ đạo



Nguồn:Công nghệ thông tin trong QLGD - Ngô Quang Sơn, [ 26, Tr.13]

Quá trình quản lý nói chung, quá trình QLGD nói riêng là một thể thống

nhất trọn vẹn. Sự phân chia thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối

giúp cho người quản lý định hướng thao tác trong hoạt động của mình. Trong

thực tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ ràng, thậm chí có chức năng

diễn ra cả ở một số giai đoạn khác nhau trong quá trình đó.

1.2.2. Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường

1.1.2.1. Quản lý giáo dục

Khoa học quản lý là một khoa học liên ngành sử dụng tri thức của

nhiều lĩnh vực: Tâm lý học, Xã hội học, Triết học v.v...



11



Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý

nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là một

khoa học tương đối độc lập.

Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội bởi lẽ Giáo dục là

một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện

một cách tự giác, cũng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người,

giáo dục cũng cần phải quản lý. dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động

chuyên biệt thì quản lý giáo dục là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo

dục như trường học,các đơn vị phục vụ đào tạo Dưới góc độ xã hội, quản lý

giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội . Đã có nhiều tác giả

nghiên cứu về lý thuyết QLGD và thực tế cho thấy cũng có nhiều quan điểm

khác nhau về vấn đề này, có thể kể đến một số quan điểm chủ yếu sau:

Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên xô trước đây) thì:

QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của

chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống GD (từ bộ đến

trường) nhằm nục đích đảm bảo việc GD Chủ nghĩa cộng sản và đảm bảo

phát triển toàn diện, hài hòa cho thế hệ trẻ.

Tác giả M.I.Kônđacốp, một chuyên gia GD khác của Liên xô cũ cho

rằng: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích

của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (

từ bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho

thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy tắc chung của xã hội

cũng như những quy luật của quá trình GD, của sự phát triển tâm thế và

tâm lý trẻ em.

Ở Việt Nam, QLGD cũng là một lĩnh vực được Đảng và nhà nước đặc

biệt quan tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương

Đảng khó VIII khẳng định: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ



12



thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống

giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [28, tr.50]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là

khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân

hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học): “Quản lý giáo dục là hệ thống

những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý

nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,

thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà

tiêu điểm hội tụ là quá trình DH – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục

tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[25, tr.35].

Tác giả Phạm Minh Hạc cũng khẳng định:“Quản lý giáo dục là tổ chức

các hoạt động DH. Có tổ chức được các hoạt động DH, thực hiện được các tính

chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo

dục, tức là cụ thể hoa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành

hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [13, tr.9].

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục,

trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất.

Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là

hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể

quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài

nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định,

nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác

giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội. Trong QLGD, quan hệ cơ

bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn

các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với HS ,

giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và

học tập.



13



1.1.2.2. Quản lý nhà trường

Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường

là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về

nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ

chức cơ sở mang tính Nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp

những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ

khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội

đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự cơ. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi

hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ.

Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến

lên trạng thái mới” [25, tr.43].

Còn theo tác giả Phạm Viết Vƣợng thì “Quản lý trường học là lao

động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của GV, HS

và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo

dục để nâng cao chất lượng GD&ĐTtrong nhà trường” [29, tr.205].

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “ Quản lý nhà trường ở Việt Nam là

thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục

tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [13, tr.71]

Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những

quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của

nó. Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định

bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình DH,

giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa

là chủ thể hoạt động của bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là



14



nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và

rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận.

Mục đích của quản lý nhà trường: là đưa nhà trường từ trạng thái đang

phát triền lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và

phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào

việc phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.

Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:

+ Quản lý toàn bộ cơ sở vât chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ

tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS.

+ Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên

tắc quản lý tài chính của nhà nước đồng thời thực hiện xã hội hóa giáo

dục, động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở

vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và DH.

+ Quản lý đội ngũ các thầy giáo , cán bộ công nhân viên và tập thể HS

thực hiện tốt các nhiệm vụ trong trương chình công tác của nhà trường.

+ Quản lý tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục

của Bộ GD & ĐT.

+ Quản lý tốt việc học tập của HS; bao hàm cả quản lý thời gian và chất

lượng học tập, quản lý tinh thần và thái độ và phương pháp học tập.

+ Quản lý việc kiểm tra và đánh giá.

+ Quản lý việc chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể

GV, công nhân viên của nhà trường.

Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát

triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả. Thành

công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà

trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường.



15



1.2.3. Hoạt động dạy - học và quản lý hoạt động dạy - học ở trường THPT

1.2.3.1. Hoạt động dạy - học ở trường THPT

Hoạt động dạy - học bao gồm hai hoạt động thống nhất biên chứng,

hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS.

“Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến

thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm

xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân”[ 14, tr.18].

Theo tác giả Phạm Viết Vƣợng “ Nói đến dạy học là nói đến hoạt

động dạy và học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp học

sinh nắm vững ”hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ

xảo và thái độ tích cực đối với học tập và cuộc sống” [ 30, tr.110].

Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm

khoa học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò. Hoạt động dạy

giúp trò lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách. Vai trò chủ đạo

của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt

động học của trò, giúp trò nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ.

Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển. Nội dung,

chương trình dạy học theo một quy định bắt buộc và được thống nhất trong

mỗi cấp học. Để đạt được mục đích, người dạy và người học đều phải phát

huy các yếu tố chủ quan của cá nhân để xác định nội dung, lựa chọn phương

pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy - học phù hợp.

Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của

người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm

từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình

thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày

càng hoàn thiện. Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng

kép là lĩnh hội và tự điều khiển. Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ

hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học,

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

×