1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THUỶ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 129 trang )


chú trọng phát triển sản xuất gắn với nâng cao đời sống nhân dân, giữ gìn môi

trường bền vững, thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư. Đây là một huyện ngoại

thành song có nhiều tiềm lực phát triển kinh tế và giàu truyền thống văn hoá.

Về lĩnh vực đào tạo ở cấp THPT, Huyện có 8 trường: 06 trường công

lập và 02 trường ngoài công lập. Tuy nhiên có 02 công lập trường thuộc diện

miền núi nên đặc thù hoạt động dạy- học của các trường THPT trong huyện là

rất khác nhau. Chất lượng giáo dục ở mức trung bình so với mặt bằng chung

của cả nước. Hàng năm có khoảng từ 2000 đến 2200 HS tham gia kỳ thi tốt

nghiệp THPT. Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT hàng năm trên 90%. Đội ngũ GV

tương đối đủ về số lượng và đạt chuẩn về trình độ đào tạo, số lượng GV

THPT trên chuẩn còn hạn chế. Về chất lượng, còn một bộ phận GV chưa đáp

ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện theo yêu cầu của

đổi mới chương trình GD&ĐT hiện nay.

Cơ chế chính sách xã hội, nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân

dân còn bất cập so với yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp giáo dục - đào tạo.

Khoảng cách kinh tế giữa các khu vực thị xã - nông thôn - miền núi còn cách

biệt nhiều, kéo theo sự phát triển giáo dục chưa đồng đều giữa các vùng miền

trong huyện. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dạy và học đang từng bước được

đầu tư và dần đi đến chuẩn hóa.

2.2.Vài nét về trƣờng THPT Thuỷ Sơn- Thành phố Hải Phòng

2.2.1.Lịch sử nhà trường

Trường THPT Thuỷ Sơn cách thị trấn trung tâm huyện Thủy Nguyên

khoảng 3 Km về phía Tây trên địa bàn xã Thủy Sơn. Khi mới thành lập năm

1997 trường có tên là trường THPT Bán Công Thuỷ Nguyên. Trường hoạt

động theo cơ chế trường THPT Bán Công cho đến năm 2007 khi luật giáo dục

xoá bỏ hệ bán công trường đổi tên thành THPT Thuỷ Sơn theo quyết định số

1848/QĐ-UB ngày 30/7/ 2007 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hải Phòng và

chuyển đổi mô hình sang công lập.

37



Từ năm 2007 trở về trước, trường hoạt động theo cơ chế hệ bán công

nên rất hạn chế trong việc thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học khá, giỏi vì số

lượng GV được tuyển vào biên chế rất ít. Chất lượng đầu vào của học sinh

thấp vì là đó là những HS tuyển lại sau khi đã trượt các trường công lập trong

huyện. Trong bối cảnh đó nhà trường vẫn phải phấn đấu duy trì mục tiêu giáo

dục đào tạo theo kịp các trường bạn về tỉ lệ tốt nghiệp cũng như các hoạt động

giáo dục khác. Cơ sở vật chất ban đầu của nhà trường ban đầu chỉ là một dãy

nhà cấp bốn dột nát của một trường THPT khác chuyển về nơi mới để lại.

Bắt đầu từ năm 2008 khi chuyển đổi mô hình thì nhà trường đã có

những bước khởi sắc rõ rệt. Học sinh lớp 10 của trường đã được thi tuyển đầu

vào tuy những năm đầu điểm vào trường còn thấp. Đội ngũ GV đã yên tâm

công tác và gắn bó lâu dài với nhà trường. Về cơ chế chính sách và đầu tư cơ

bản khác thì cho đến năm 2011 nhà trường mới được hưởng 100% như các

trường công lập khác trong huyện. Về cơ sở vật chất, cho đến nay nhà trường

đã xây dựng được 2 khu nhà 3 tầng để phục vụ dạy và học, có khu hiệu bộ

riêng. Trải qua rất nhiều khó khăn nhưng nhà trường đang từng bước phát

triển bền vững và ngày càng trưởng thành; đã, đang và sẽ trở thành một ngôi

trường có chất lượng giáo dục tốt, một địa chỉ tin cậy của cha mẹ học sinh và

học sinh Huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

2.2.2.Cơ cấu tổ chức của nhà trường

*Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường: Tổng số là 85; trong

đó: BGH có 4, giáo viên là 71 và nhân viên là 10.

*Trình độ chuyên môn: Trình độ Thạc sĩ có 02 đồng chí ( 03 GV hiện đang

học cao học); Trình độ Đại học có 74 đồng chí; Trình độ Cao đẳng, trung cấp,

sơ cấp có đồng chí.

*Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học: CSVC đã đáp ứng được phần lớn yêu cầu

dạy và học trong giai đoạn hiện nay. Đã có khu nhà hiệu bộ riêng với việc bố

trí các phòng chức năng làm việc hợp lý, các phòng này đều được kết nối

38



mạng nội bộ và Internet. Khu phòng học đủ điều kiện để 30 lớp học chính

khóa và phụ đạo. có phòng thực hành Lý- Công nghệ, Hóa – Sinh theo đúng

qui chuẩn của cấp THPT cùng với hệ thống các máy chiếu đa phương tiện,

máy chiếu hắt...Tuy nhiên xét riêng về cơ sở vật chất phục vụ cho bộ môn

ngoại ngữ thì nhà trường chỉ có 02 máy cassette và một số tranh ảnh; chưa có

phòng dạy Tiếng riêng nên khi dạy một số kỹ năng môn Tiếng Anh còn rất

hạn chế về chất lượng giảng dạy.

2.2.3. Chất lượng giáo dục toàn diện

Bảng 2.1: Chất lượng giáo dục toàn diện

Tính theo tỷ lệ %

Năm học



Xếp loại Học lực



Xếp loại Hạnh kiểm



Giỏi



Khá



TB



Yếu



Kém



Tốt



Khá



TB



Yếu



2006 – 2007



0.2



19.7



67.5



9.7



2.9



54.5



34.7



8.9



1.9



2007 – 2008



0.7



20.6



64.4



12.6



1.7



55.7



35.6



7.1



1.6



2008 – 2009



0.8



21.3



62.4



14.6



0.8



58.2



32.4



7.4



2.0



2009 – 2010



0.8



22.5



61.7



13.1



1.9



58.8



34.2



6.1



0.9



2010 - 2011



1.5



28.7



60.0



9.3



0.5



60.3



35.0



4.2



0.5



( Nguồn: Các báo cáo tổng kết của nhà trường 5 năm trở lại đây)

Nhận xét: Sĩ số HS nhà trường trong 5 năm trở lại đây là từ 1300 đến

1500 HS.Về xếp loại học lực như đã thể hiện trong bảng 2.1 thì số học sinh

giỏi là rất ít, có năm chỉ có 3 HS xếp loại văn hóa giỏi. nguyên nhân cơ bản

chủ điều này điểm tuyển đầu vào thấp, không có nhân tố mũi nhọn vì là HS

tuyển lại từ những HS không đỗ vào các trường công lập trong huyện. Thậm

chí như năm học 2008-2009 HS chỉ cần tổng 2 môn Toán và Văn 4 điểm là đã

đỗ vào trường. Số HS xếp loại học lực yếu kém còn hơn 10% mỗi năm học.

Đa số HS cùng với việc học yếu thì là thiếu ý thức rèn luyện và học tập. Học

kém thì khó tiếp thu bài trên lớp nên dễ dẫn đến quậy phá và vi phạm nội quy



39



nhà trường. Tỉ lệ HS xếp loại hạnh kiểm trung bình và yếu tuy đã có giảm

trong 2 năm trở lại đây nhưng vẫn còn là bài toán đặt ra cho nhà trường trong việc

giáo dục toàn diện HS.

2.2.4. Đặc điểm học sinh

Đối tượng giáo dục và đào tạo của nhà trường đều là HS đã tốt nghiệp

ở các trường THCS trong Huyện Thủy Nguyên. Môi trường xã hội nông thôn

tương đối thuần nhất, nhịp sống khẩn trương, náo nhiệt của nền kinh tế thị

trường chưa thâm nhập sâu và tác động đến nhà trường. Đa số các em đều

ngoan, chăm học, động cơ học tập nghiêm túc. Cùng với đặc điểm tâm lý của

lứa tuổi từ 15 đến 18 nên các em rất ham học hỏi cái mới, nhiệt tình học tập.

Điều này rất thuận lợi cho việc học tập các môn nói chung cũng như môn

Tiếng Anh nói riêng.

Tuy nhiên cũng phải kể đến một số khó khăn khi giáo dục học sinh. Số

HS tham gia học tập tại trường phân bố rộng khắp nhiều xã, thị trấn trong

toàn huyện. theo thống kê có năm lên tới 28 xã, thị trấn trong đó có cả những

xã thuộc khu vực miền núi cách trường hơn 10 Km đời sống kinh tế khó khăn.

Các em thậm chí còn chưa được học đủ chương trình môn Tiếng Anh THCS.

Điều này gây khó khăn cho việc học tập vì sách giáo khoa môn Tiếng Anh

được liên thông từ lớp 6 đến lớp 12.

Hơn nữa sự phân hóa trong trình độ HS cũng gây không ít cản trở cho

GV trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Anh. Hàng năm tỉ lệ bỏ học vẫn còn

ở mức cao so với toàn thành phố một phần cũng là do Huyện đang chuyển đổi

từ sản xuất nông nghiệp sang các thành phần kinh tế đặc thù là các khu công

nghiệp giày da và đóng tầu thu hút nhiều lao động phổ thông , không cần tốt

nghiệp THPT. Mặt khác, là HS nông thôn thì việc tiếp cận với ngoại ngữ và

tin học luôn hạn chế hơn so với HS ở thành thị do điều kiện sống chưa cao

cũng như môi trường văn hóa gia đình, xã hội chưa cho các em thấy được tầm

quan trọng của việc biết Tiếng Anh. Việc huy động cộng đồng tham gia vào

40



công tác giáo dục còn nhiều hạn chế. Một bộ phận cha mẹ HS còn ỷ lại,

khoán trắng cho nhà trường, chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con

em. Nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn bất cập so với yêu

cầu cấp thiết của sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

2.3.Thực trạng về hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh ở trƣờng THPT

Thuỷ Sơn- Thành phố Hải Phòng

2.3.1. Thực trạng hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh của giáo viên

2.3.1.1. Đội ngũ GV Tiếng Anh:

Bộ môn Tiếng Anh của nhà trường hiện nay gồm có 11 GV, trong đó

có 1 GV là nam (có 9 GV biên chế, 2 GV hợp đồng). Số GV trong độ tuổi 2535 là 10 người, độ tuổi 40- 50 là 01 người. 100% đạt trình độ cử nhân Tiếng

Anh, chưa có GV đạt trình độ thạc sĩ.

Trong số 11GV Tiếng Anh của trường, có 01 GV giỏi cấp thành phố,

5 GV giỏi cấp huyện, không có GV nào được học tập và công tác ở các nước

bản ngữ; chỉ có 6 GV được đào tạo chính quy từ hệ sư phạm của các trường

đại học ngoại ngữ, số còn lại là các GV học Tiếng Anh như một chuyên

ngành hai hoặc tốt nghiệp các khóa không chính quy của các đại học chuyên

ngữ. Điều này cũng dễ lý giải vì trước đây mô hình của trường là hệ ngoài

công lập nên việc thu hút sinh viên giỏi, chính quy rất hạn chế do cơ chế

chính sách cũng như đãi ngộ không được như các trường THPT công lập.

Qua các số liệu đã điều tra ở trên và trao đổi với lãnh đạo nhà trường,

tôi nhận thấy đội ngũ giáo viên môn Tiếng Anh nhiệt tình, có trách nhiệm,

yêu nghề, ham học hỏi những kiến thức và phương pháp giảng dạy mới; gắn

bó với nhà trường mong muốn nhà trường phát triển; chất lượng chuyên môn

và nghiệp vụ sư phạm đa số đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.

Tuy nhiên cũng phải thừa nhận một số hạn chế. Trình độ GV Tiếng

Anh của trường THPT Thủy Sơn không đồng đều, một số người tốt nghiệp hệ

không chính quy, một số tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo thường không được

41



cho là có chất lượng cao, tỉ lệ GV nam và nữ chênh lệch quá lớn; Nhiều GV

chưa quen với dạy Tiếng Anh hiện đại, không thể giao tiếp dù là giao tiếp thông

thường bằng Tiếng Anh; Trình độ tiếng (lý thuyết) và kỹ năng thực hành thấp,

it cơ hội để giao tiếp tiêng Anh với người nước ngoài, không có động cơ giao

tiếp bằng Tiếng Anh ở trường và ít có điều kiện để cập nhật với những phát

triển mới trong dạy và học ngoại ngữ. Các GV trẻ với thâm niên giảng dạy

chưa nhiều; chưa có GV đạt trình độ chuyên môn trên chuẩn.

2.3.1.2. Hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên

Một đội ngũ GV giảng dạy tốt không chỉ có đủ bằng cấp mà phải là

những người giảng dạy có hiệu quả. việc sử dụng công nghệ tin học trong quá

trình giảng dạy môn Tiếng Anh theo PP D-H tích cực là rất cần thiết. Đa số

các GV Tiếng Anh đều nhận thức rõ vấn đề này nhưng không phải ai cũng có

khả năng sử dụng tin học vào giảng dạy. Có thể nói hiện nay vẫn còn một số

GV Tiếng Anh chưa nắm vững kỹ năng chuẩn bị bài, kỹ năng đứng lớp, kỹ

năng thiết kế các hoạt động giảng dạy... số GV trẻ kinh nghiệm giảng dạy

chưa nhiều vì thế nghiệp vụ sư phạm của họ chưa dành dược sự đánh giá cao

từ phía HS cũng như từ phía các GV. Phương pháp chủ đạo vẫn là lấy người

dạy làm trung tâm, phi giao tiếp, nặng về dịch và giảng giải.

Trong các thành phần ngôn ngữ: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng thì ngữ

pháp được chú trọng nhiều nhất vì kiểm tra và thi có tác dụng định hướng cho

dạy và học. Có thể nói rằng những gì HS học đều hướng tới kiểm tra và thi.

Hậu quả là, GV chỉ tập trung dạy những gì thường được đem ra kiểm tra còn

những nội dung khác, do không bao giờ được đưa vào bài kiểm tra, đều bị cả

thầy và trò lãng quên.

Để khảo sát hiện trạng các hoạt động giảng dạy của giáo viên tác giả đã

tiến hành xin ý kiến của 70 HS trường THPT Thủy Sơn. Kết quả thể hiện ở

bảng 2.2 sau đây.



42



Bảng 2.2: Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động giảng dạy của GV

TT



Đánh giá mức độ thực hiện (%)

Thƣờng

xuyên



1

2

3

4

5

6

7

8



9

10



2



36



9



50



27



18



60



22



5



50



45



70



20



10



62



Lấy ý kiến phản hồi của HS sau

khi kết thúc môn học, rút kinh

nghiệm để điều chỉnh phương

pháp dạy học

Chú ý tìm hiểu những khó khăn

HS gặp phải trong quá trình học

tập

Thực hiên kiểm tra, thi nghiêm

túc, đánh giá đúng kết quả học

tập của HS



18



23



Cập nhật mở rộng bài giảng với

nhưng kiến thức mới

Sử dụng phương tiện dạy học

tích cực

Thay đổi phương pháp giảng

dạy khi HS không hứng thú học

tập

Trao đổi với HS về phương

pháp học tập

Yêu cầu và hướng dẫn HS

chuẩn bị bài ở nhà

Kiểm tra việc tự học của HS



Không bao

giờ



55



Chuẩn bị bài soạn kỹ trước lên lớp



Đôi khi



80



Nội dung hoạt động



24



14



3



20



77



8



13



79



88



12



0



Nhận xét: Việc chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp quyết định rất

nhiều đến chất lượng giờ dạy. Đa số GV đã làm tốt nhiệm vụ này nhưng cũng

còn có số ít GV chủ quan, chưa chú trọng khâu chuẩn bị bài lên lớp. Thêm

vào đó chưa có nhiều sự đầu tư vào chuyên môn nên có đến gần 50% số GV

không thường xuyên hoặc chưa cập nhật thông tin mở rộng bài giảng cho HS.

Ngoài ra phần lớn GV mới chỉ đơn thuần lo hoàn thành việc truyền đạt kiến

thức mà chưa quan tâm nhiều việc làm thế nào cho HS cảm thấy hứng thú học

tập, chỉ có 18% GV thường xuyên trao đổi trong khi có tới 22% ý kiến HS



43



cho rằng GV không bao giờ trao đổi với HS về phương pháp học tập hiệu quả.

Việc sử dụng phương tiện dạy học tích cực còn có tới 27% GV không bao giờ

sử dụng. Điều này chứng tỏ sự trì trệ, tâm lý ngại khó sợ mất thời gian khi

chuẩn bị lên lớp của GV. Cũng qua bảng khảo sát ta thấy GV đã chú ý yêu

cầu HS chuẩn bị bài trước khi đến lớp nhưng việc kiểm tra thì còn chưa triệt

để do đó đôi khi không tạo được hứng thú cho những HS chăm chỉ, nghiêm

túc làm bài mặt khác có thể dẫn tới việc chuẩn bị bài theo kiểu đối phó như

chép hoặc tham khảo sách giải của những HS chưa có ý thức tự học.

Việc lấy ý kiến phản hồi của HS sau khi kết thúc môn học và tìm hiểu

những khó khăn HS gặp phải trong quá trình học tập chỉ có rất ít GV thực

hiện. Có đến 78% GV không bao giờ lấy ý kiến phản hồi của HS, chỉ có 3%

GV thường xuyên lấy ý kiến và 8% GV quan tâm đến những khó khăn của

HS trong quá trình học môn Tiếng Anh. Với thực tế này GV sẽ hầu như

không hiểu được HS và không giúp đỡ được HS tháo gỡ khó khăn trong học

tập. Đây là hạn chế rất lớn trong việc GV tự điều chỉnh mình trong quá trình

giảng dạy.

Đa số GV đều nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác kiểm tra, thi

nên họ đã thực hiện nghiên túc việc đánh giá kết quả học tập của HS.

Để khảo sát thực trạng giảng dạy 4 kỹ năng đặc trưng của môn Tiếng

Anh và mức độ sử dụng PP D-H và phương tiện dạy – học của GV tác giả đã

tiến hành xin ý kiến của 15 CBQL &GV và 70 HS trường THPT Thủy Sơn.

Kết quả thể hiện trong bảng 2.3 và 2.4 sau đây:



44



Bảng 2.3: Thực trạng giảng dạy 4 kỹ năng Tiếng Anh trên lớp theo

chương trình của GV

Đánh giá mức độ thực hiện (%)

Các kỹ năng

Đọc (Reading)

Nói (Speaking)

Nghe(Listening)

Viết (Writing)

Trọng tâm ngôn ngữ

( Grammar)



Thƣờng xuyên

CBQL

HS

&GV

100

82

50

37

40

45

45

30

100



100



Đôi khi

CBQL

HS

&GV

0

18

50

60

40

50

55

62

0



0



Không bao giờ

CBQL

HS

&GV

0

0

0

3

20

5

0

8

0



0



Nhận xét: Qua kết quả thu được ở bảng trên, ta thấy được rằng các kỹ

năng: nghe, nói, viết chỉ được thực hiện khoảng trên dưới mức TB. Phần ngữ

pháp (grammar) theo kết quả đánh giá thì 100% GV và HS đã thực hiện đủ

theo yêu cầu của chương trình, điều đó nói nên rằng cả GV và HS chỉ tập

trung vào những nội dung để thi cử còn những phần khác đều bị cả thày và trò

xem nhẹ trong chương trình dạy và học.

Kiểm tra và thi có tác dụng định hướng cho dạy và học. Ở THPT có thể

nói rằng, những gì HS học đều hướng tới kiểm tra và thi. Hai kỹ năng nghe và

nói không có trong nội dung các bài thi và kiểm tra. Nghiên cứu những bài

kiểm tra 15 phút, 1 tiết, hết học kỳ, hết năm học, và những bài thi tốt nghiệp,

vào đại học thậm chí những bài thi HS giỏi Tiếng Anh THPT những năm gần

đây và thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy ở trường THPT Thủy Sơn

có thể khẳng định rằng những bài kiểm tra chỉ tập trung vào ngữ pháp – từ

vựng, đọc hiểu và viết lại câu, viết đoạn. Vì vậy có thể nói giữa kiểm tra và

thi cử liên quan tỷ lệ thuận với việc dạy và học từng nội dung trong chương

trình. Điều này dẫn đến thực tế là nội dung giảng dạy của GV còn tập trung

quá nhiều vào cấu trúc ngôn ngữ, không phát huy được tính tích cực của HS



45



trong lớp, không khuyến khích HS giao tiếp bằng Tiếng Anh ở trong và ngoài

lớp học.

Bảng 2.4: Thực trạng sử dụng PPD-H và phương tiện dạy – học của GV

TT

I

1

2

3

II

1

2

3



Thƣờng

Đôi khi (%)

Nội dung

xuyên (%)

GV

HS

GV

HS

Các phƣơng pháp D-H

Thuyết trình, vấn đáp

20

22

40

45

Thảo luận nhóm

30

78

60

20

Đóng vai theo tình huống

25

33

58

52

Các phƣơng tiện D-H

Bảng phấn

100 100

0

0

Các phương tiện hiện đại phục vụ

10

16

62

67

D-H ngoại ngữ

Phương tiện đa dạng

5

10

25

17



Không bao

giờ (%)

GV

HS

40

10

13



33

2

9



0



0



28



17



66



73



Nhận xét: Các phương tiện dạy học, PP được sử dụng thường xuyên nhất

vẫn là thuyết trình và vấn đáp. Theo kết quả điều tra có tới 60% GV và 67%

HS đưa ra ý kiến về vấn đề này. Chỉ một số GV cho rằng họ sử dụng phương

pháp làm việc theo nhóm, đóng vai theo tình huống, nhưng những phương

pháp đó mới chỉ dừng lại ở mức bắt chước những hội thoại trong vài học rất ít

GV lôi cuốn được toàn bộ HS trong lớp tích cực tham gia. Nhiều GV chỉ đơn

thuần luyện các cấu trúc ngữ pháp, còn các kỹ năng khác thì bỏ qua. Chính vì

vậy dẫn đến cảm giác nhàm chán trong giờ học, nảy sinh suy nghĩ học đối phó

của HS. Điều này được các GV giải thích là lớp học quá đông nên yêu cầu HS

làm việc theo nhóm, đóng vai theo tình huống sẽ rất mất trật tự, hơn nữa thời

gian dành cho HS thực hành ít. Mục tiêu của môn học Tiếng Anh là rèn luyện

cho HS cả 4 kỹ năng, nghe, nói, đọc, viết. Nhưng trên thực tế đa số HS chỉ

thành thạo kỹ năng đọc hiểu còn các kỹ năng khác thì rất lúng túng.

Đa số các GV chỉ sử dụng các phương tiện hiện đại vào các kỳ hội giảng.

100% GV sử dụng phương tiện truyền thống: bảng, phấn. Việc sử dụng các

đồ dùng trực quan trong giảng dạy rất hiếm. Theo số liệu đã có ở trên, việc sử



46



dụng phương tiện dạy học hiện đại: như là cát-sét, CD/VCD,.. cho thấy các

GV không thường xuyên sử dụng trong HĐD-H.

2.3.2.Thực trạng hoạt động học tập môn Tiếng Anh của học sinh

Khi nghiên cứu về thực trạng hoạt động D-H môn Tiếng Anh ở THPT

chúng ta cần phải tìm hiểu về người học. Trong quá trình học tập thì mục đích

động cơ học tập ảnh hưởng đến ý thức tự học của HS. Tác giả đã tiến hành

khảo sát động lực học Tiếng Anh của 45 HS trường THPT Thủy Sơn, với

nhưng nội dung khảo sát, kết quả như sau:

Bảng 2.5 : Khảo sát động lực học học Tiếng Anh

Động lực

TT

1

2

3

4

5

6

7

8

9



6

80

18

53

16

51

35



Không

đồng ý

(%)

74

12

69

42

65

26

45



63



31



6



35



51



14



Đồng ý

(%)



Vì là môn dễ học

Vì là môn thi tốt nghiệp THPT

Vì dễ đạt điểm cao

Để có kết quả toàn diện

Vì có cơ hội nhận học bổng

Vì cần cho công việc trong tương lai

Vì thích môn học này

Vì nhận thức được tầm quan trọng của

môn học

Vì dễ khám phá nền văn hóa của các

nước nói Tiếng Anh



Không có ý

kiến (%)

20

8

13

5

19

23

20



Nhận xét: Qua kết quả khảo sát ta thấy rằng hầu hết HS đều cho rằng

Tiếng Anh không phải là môn dễ học. Điều này cũng dễ hiểu vì đây là đối

tượng HS nông thôn, năng lực văn hóa tổng thể của các em còn thấp. Không

tiếp cận được với kiến thức ngôn ngữ tiếng nước ngoài cho nên các em cảm

thấy Tiếng Anh là môn khó học. Nhìn và kết quả ở cột đồng ý ta thấy HS có

động cơ cao nhất khi Tiếng Anh là môn thi tốt nghiệp THPT. Như vậy HS

vẫn nặng về tâm lý học để thi cử là chính mà chưa quan tâm nhiều tầm quan

trọng của Tiếng Anh cho công việc, cuộc sống tương lai. Số lượng HS thích

môn học này chỉ có 35%. Như thế là hầu hết các em học Tiếng Anh chỉ để đối

phó nên càng khó khăn hơn trong việc nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh.

47



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

×