1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY- HỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 104 trang )


khác, chương trình đào tạo luôn có xu hướng góp phần tạo ra nguồn nhân lực

đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động ở các giai đoạn phát triển khác nhau

của xã hội. Do vậy, chương trình đào tạo cũng được phát triển không ngừng

để thực hiện đúng chức năng của mình. Hơn nữa, thời đại bây giờ là thời đại

bùng nổ thông tin, với những tiến bộ như vũ bão của khoa học và công

nghệ, nhất là công nghệ thông tin viễn thông 12, tr.3. Cứ năm hoặc bảy

năm khối lượng thông tin toàn cầu lại tăng gấp đôi. Nếu không thường

xuyên phát triển chương trình thì kiến thức sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu.

Chính vì vậy việc định kỳ tổ chức đánh giá chương trình đào tạo là rất

cần thiết. Đây là một quá trình thu thập các cứ liệu để có thể xác định điểm

mạnh điểm yếu của chương trình đào tạo hiện hành hoặc xác định hiệu quả

của nó sau khi đã thực hiện được một thời gian, từ đó quy định, chấp thuận

hay sửa đổi và phát triển chương trình đó 12, tr.35.

Tại Trường Đại học Y Hải Phòng, từ năm học 2000-2001, bộ môn

Ngoại ngữ đã biên soạn một giáo trình Tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên

của trường. Qua bốn năm, bộ môn mới chỉ áp dụng giảng dạy và chưa có kế

hoạch đánh giá chương trình một cách toàn diện. Chắc chắn chương trình còn

có những hạn chế chưa được xác định cụ thể. Để chương trình đào tạo ngày

một hữu hiệu hơn, đảm bảo chất lượng hơn, trong thời gian trước mắt, bộ môn

sẽ từng bước tổ chức triển khai thực hiện công tác này .

3.1.2. Nội dung biện pháp:

3.1.2.1. Định hướng kế hoạch chung:

+ Rà soát lại mục tiêu chương trình đào tạo theo các tiêu chí, kỹ năng,

kiến thức mà sinh viên cần có khi kết thúc môn học.



62



+ Lập kế hoạch đánh giá cho từng bài, từng phần theo các bước cụ thể, chi

tiết từ việc xác định mục tiêu bài giảng đến việc thực hiện đánh giá và hiệu chỉnh.

+ Khảo sát lại việc lựa chọn và sắp xếp nội dung chương trình, phương

pháp đào tạo, phương pháp đánh giá kết quả theo những nguyên tắc và mục tiêu

đã đưa ra.

+ Tiến hành đánh giá nhiều lần để thu thập thông tin, để cải tiến và bổ

sung chương trình đang được thực thi và hoàn thiện nó.

+ Đánh giá tổng kết để xác định hiệu quả của toàn bộ chương trình, rút

ra kết luận về mức độ đạt được mục tiêu nhằm phát triển chương trình và

nâng cao chất lượng dạy học.

+ Sử dụng các nguồn thông tin từ giảng viên và sinh viên đang học

hoặc đã tốt nghiệp để phát hiện ra điểm mạnh điểm yếu của chương trình và

từ đó có quyết định điều chỉnh và nâng cao phù hợp.

+ Đề nghị Ban Giám hiệu, phòng Quản lý khoa học tạo điều kiện, cấp

kinh phí để bộ môn sửa đổi và phát triển chương trình giảng dạy Tiếng Anh

chuyên y cho thích hợp với tình hình mới.

3.1.2.2. Kế hoạch ưu tiên thực hiện:

+ Cải tiến bộ giáo trình dạy học theo hướng xây dựng “Hồ sơ môn học”

cho môn tiếng Anh chuyên ngành ở cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, trước

mắt ưu tiên hai kỹ năng đọc, viết bằng cách:

- Tiến hành xây dựng lại chương trình chi tiết, xác định mục tiêu cụ thể

của từng kỹ năng.

- Xây dựng đề cương bài giảng theo cấp độ nhận thức và yêu cầu kỹ

năng thực hành tiếng.

- Xây dựng tập bài giảng, bộ tài liệu Tiếng Anh theo các chuyên khoa



63



nội, ngoại, sản, nhi, mắt, tai-mũi-họng, y học cổ truyền phù hợp với thời

lượng giảng dạy.

- Sưu tầm các băng hình chuyên y để sinh viên thực hành bổ trợ kỹ

năng nghe nhìn.

+ Mời chuyên gia hoặc bác sỹ là giảng viên của trường và một số viện,

trường quốc tế đến trao đổi, giao lưu nhằm tăng cường giao tiếp, nâng cao hiệu

quả sử dụng Tiếng Anh chuyên ngành đã học.

+ Mở rộng quan hệ với bộ môn ngoại ngữ ở các trường y khác để xây

dựng mục tiêu và phát triển chương trình cập nhật.



64



3.2. Kế hoạch hoá nguồn nhân lực ở bộ môn Ngoại ngữ.

3.2.1. Cơ sở đề xuất biện pháp:

Đối với các trường đại học nói chung và Trường Đại học Y nói riêng,

đội ngũ giảng viên là những máy cái quyết định chất lượng của nhà trường.

Chính vì vậy bộ môn Ngoại ngữ ở Trường đại học y Hải Phòng đã xác định

được rằng việc xây dựng đội ngũ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng là việc

làm rất quan trọng. Hơn 10 năm qua, việc kiện toàn đội ngũ giảng viên ở bộ

môn còn chậm. Các giảng viên dạy quá giờ chuẩn chiếm khoảng 80%. Nhà

trường đang trên đường phát triển cả quy mô và chất lượng cũng như số

lượng. Việc kế hoạch hóa nguồn nhân lực ở bộ môn vì vậy là việc rất cần

thiết. Đặc điểm quy hoạch đội ngũ giảng viên phải là quy hoạch dài hạn. Bởi

lẽ để có được một giảng viên đứng lớp vững vàng, có chất lượng không

phải là việc một sớm một chiều mà có được, phải mất ít nhất từ năm đến

mười năm 37, tr.20.

3.2.2. Nội dung biện pháp :

3.2.2.1. Tăng cường về số lượng:

Việc xác định số lượng đội ngũ giảng viên nằm trong việc xây dựng

quy mô đào tạo của trường. Tuy nhiên, dựa vào định mức giờ chuẩn, bộ môn

cũng xác định được số lượng giảng viên của mình. Công việc trước mắt mà

bộ môn phải làm là kế hoạch hoá nguồn nhân lực tại bộ môn, nhằm đảm bảo

nhu cầu luôn được đáp ứng, đặc biệt là nhu cầu tương lai, từng bước nâng cao

chất lượng cho giảng viên. Hai biện pháp chính về phát triển số lượng là:

+ Dự báo nguồn nhân lực:

Đây là một việc làm cần thiết nhằm đảm bảo sự đồng đều về độ tuổi kế

tục giữa các thế hệ. Trong vòng từ bảy đến mười năm tới, bộ môn phải xác

định được lượng giáo viên mà bộ môn cần, kèm theo những tiêu chuẩn cụ thể.

65



+ Kiểm kê nguồn nhân lực:

Đây cũng là việc phải làm kỹ lưỡng nhằm nắm rõ các thông tin về từng

giảng viên, điểm mạnh và điểm yếu của mỗi người, số giờ giảng viên đảm

nhiệm trong một năm và chất lượng giảng dạy của họ. Dựa vào các thông tin

đó, bộ môn sẽ có kế hoạch cân đối nguồn nhân lực và thông báo với Ban

Giám hiệu khi cần.

3.2.2.2. Tăng cường về chất lượng:

Chất lượng giảng viên quyết định chất lượng đào tạo ở bộ môn. Do đó

phải chọn người có thực tài. Quyền tuyển chọn đầu tiên là thuộc về trường, bộ

môn. Tuy nhiên, ngoài tiêu chuẩn về chuyên môn, đạo đức, sức khoẻ thì cần

chú ý:

+ Tuyển chọn giảng viên theo quy trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo và

Bộ Y tế, quan tâm đến các yêu cầu sư phạm: ngoại hình, tiếng nói, chữ viết, lòng

yêu nghề.

+ Xây dựng bộ tiêu chí chuẩn cho giảng viên dạy ngoại ngữ ở trường

đại học y nhằm tuyển chọn và phát triển nhân lực có chất lượng.

+ Bồi dưỡng, phát triển giảng viên trẻ một cách vững chắc, tạo điều

kiện cho họ được học tập nâng cao trình độ. Mục đích cuối cùng là làm cho

bộ môn vừa có giảng viên giàu kinh nghiệm làm hình mẫu (role model), vừa

có giảng viên trẻ đạt chuẩn giảng viên đại học đảm bảo chất lượng dạy học.

3.3. Đổi mới quản lý các điều kiện đảm bảo chất lƣợng.

3.3.1. Quản lý hoạt động chuyên môn ở bộ môn Ngoại ngữ.

3.3.1.1. Cơ sở đề xuất biện pháp:

Hiện nay, do nội dung công việc đã được lượng hoá, nên việc quản lý

hoạt động chuyên môn chủ yếu là dựa vào định mức giờ giảng. Việc quản lý

theo giờ hành chính là không cần 37, tr.22. Tuy nhiên, vì tầm quan trọng của



66



quản lý chuyên môn là rất lớn, nên bộ môn cũng cần quán triệt cho các thành

viên của bộ môn mình có ý thức trách nhiệm trong công việc, có tác phong

chuẩn mực, có đạo đức nghề nghiệp, cùng tôn trọng và giúp đỡ nhau tiến bộ,

luôn chăm lo đến lợi ích của tập thể và đặt lợi ích tập thể lên trên hết.

3.3.1.2. Nội dung biện pháp:

+ Tổ chức cho các giảng viên nghiêm túc thực hiện các nhiệm vụ được

phân công, theo chức năng của mình.

+ Xây dựng nề nếp, kỷ cương của bộ môn trong việc thực hiện quy chế

chuyên môn một cách chặt chẽ, đồng thời tham gia một cách đầy đủ các hoạt

động nghiên cứu khoa học, hoạt động công đoàn của nhà trường.

+ Đôn đốc các giảng viên trong bộ môn cùng thực hiện tốt nhiệm vụ,

gắn với công tác thi đua của từng cá nhân và của cả bộ môn.

+ Hợp tác cùng soạn bài, chuẩn bị phương tiện hỗ trợ và các tài liệu

thực cho từng bài giảng để cùng đạt hiệu quả cao.

+ Tổ chức hoạt động chuyên môn định kỳ và có kế hoạch cụ thể cho

từng hoạt động.

3.3.2. Quản lý kế hoạch giảng dạy.

3.3.2.1. Xây dựng kế hoạch giảng dạy.



 Cơ sở đề xuất biện pháp:

Trách nhiệm quản lý kế hoạch giảng dạy của giảng viên chủ yếu thuộc về

bộ môn. Tuy nhiên, để có cơ sở thực hiện và đảm bảo sự đồng bộ, bộ môn phải

tuân theo kế hoạch của nhà nước, Bộ giáo dục và nhà trường quy định 19,

tr.92.

Kế hoạch dạy học ở bộ môn phải được xem xét điều chỉnh sao cho phù

hợp với các yêu cầu mà sinh viên phải đạt được sau khi kết thúc môn học.

Nếu không, sẽ rơi vào tình trạng nội dung chương trình thì quá tải, mà hiệu



67



quả lại không cao. Chính vì thế, ngay từ đầu năm học, phải xây dựng kế

hoạch giảng dạy chi tiết cho từng học kỳ và cho cả năm. Các giảng viên tự

xây dựng kế hoạch của bản thân cho phù hợp với kế hoạch chung của bộ môn.

Dựa vào đó bộ môn sẽ quản lý được các hoạt động giảng dạy của từng người.

Việc thực hiện chương trình phải đảm bảo đúng tiến độ. Các giờ lên lớp phải

được quản lý nghiêm theo quy định của trường. Thông qua các giờ này, bộ

môn có thể thấy được việc đảm bảo yêu cầu của một tiết dạy (đảm bảo về nội

dung kiến thức, các kỹ năng), đảm bảo về thực hiện nội quy, quy chế chuyên

môn của giảng viên.



 Nội dung biện pháp:

+ Xây dựng kế hoạch của bộ môn thật chi tiết và cụ thể.

+ Giao kế hoạch giảng dạy cả năm cho giảng viên ngay từ đầu năm

học để họ chủ động bố trí thời gian.

+ Thông báo cụ thể tên bài giảng, người giảng, ngày giảng, giờ giảng,

giảng đường, đối tượng học trên lịch của bộ môn.

+ Thông qua kế hoạch bài giảng, đề cương bài giảng trước bộ môn để

được góp ý về nội dung, phương pháp bởi vì kế hoạch bài giảng chính là công

cụ để bộ môn quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên.

3.3.2.2. Tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch.



 Cơ sở đề xuất biện pháp:

Công tác giảng dạy đại học nói chung và giảng dạy Tiếng Anh chuyên

ngành y nói riêng trong giai đoạn hiện nay được xem xét rộng hơn việc chỉ

đơn thuần là truyền đạt kiến thức cho sinh viên bởi lẽ bản chất của việc giảng

dạy là sáng tạo ra những tình huống mà ở đó sự học diễn ra một cách phù hợp.

Công việc mà một giảng viên cần làm là sắp xếp các tình huống đó để có thể

tiến hành hạot động dạy học một cách có hiệu quả. Nói một cách khác, dạy và

học là hai mặt của cùng một vấn đề và phải được xem xét đồng thời. Giảng



68



dạy có ba nhiệm vụ được cụ thể hoá như sau: Truyền đạt kiến thức; Tư vấn,

giám sát, hướng dẫn, cố vấn cho sinh viên; Thực hiện công tác nghiệp vụ sư

phạm. Thực ra ba nhiệm vụ này chỉ là một trong những nhiệm vụ chính của

người giảng viên vì rằng ngoài việc giảng dạy, giảng viên còn phải nghiên

cứu khoa học, làm dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng và thực hiện bổn

phận công dân với tư cách là nhà khoa học 11, tr.6. Chính vì vậy để làm tốt

ba việc trong giảng dạy, trước hết, giảng viên phải coi việc chuẩn bị bài giảng

là một trong những việc quan trọng nhất.

Bài soạn là bản thiết kế chi tiết, xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của một

bài về tri thức, kỹ năng và thái độ mà sinh viên phải đạt được. Đồng thời nó

cũng là con đường dẫn dắt sinh viên lĩnh hội những tri thức đó đạt kết quả

cao. Việc chuẩn bị bài tốt giúp cho giảng viên vận dụng được phương pháp

dạy học đã được thống nhất lựa chọn ở bộ môn và nó cũng giúp cho sinh

viên biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Việc chỉ đạo và kiểm

tra đánh giá thực hiện kế hoạch giảng dạy của giảng viên qua từng tiết giảng

cần được xác định theo những yêu cầu trọng tâm.



 Nội dung biện pháp:

+ Mục tiêu bài giảng phải rõ ràng, hướng vào người học, phù hợp với

nội dung và điều kiện cụ thể của trường.

+ Bài soạn mang tính khoa học, vừa sức với sinh viên của trường nhằm

tạo điều kiện thuận lợi cho họ tư duy và vận dụng sáng tạo. Các bước lên lớp

phải logic, phù hợp với thời gian cho phép. Các kỹ năng thực hiện qui trình

bài giảng phải có hệ thống để cho sinh viên vừa tiếp thu bài dễ dàng vừa có

thể tham gia tích cực vào quá trình học. Có hình thức kiểm tra mức độ đạt của

mục tiêu ở cuối mỗi bài. Đặc biệt trong mỗi bài soạn phải có phần xác định

nhữhg tình huống có thể xảy ra, chỉ rõ những gì sinh viên khó hiểu, dễ hiểu

nhầm hay sử dụng sai do những khác biệt ngôn ngữ và văn hóa.



69



+ Tổ chức kiểm tra đánh giá hiệu quả giờ lên lớp của giảng viên để xác

nhận mức độ hoàn thành nhiệm vụ của họ và trên cơ sở đó nâng cao tinh thần

chủ động thực hiện và tự điều chỉnh của giảng viên trong việc thực hiện kế

hoạch giảng dạy của mình.



70



3.3.3. Cải tiến nội dung bài giảng

3.3.3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp:

Nâng cao hiệu quả giờ giảng và gây hứng thú cho sinh viên là một trong

những mục tiêu lớn của quá trình dạy và học ngoại ngữ. Một trong những

cách tạo ra hứng thú đó là việc giúp sinh viên tiếp xúc với môi trường ngoại

ngữ. Thông qua tranh ảnh, hình vẽ, băng hình liên quan đến y học. Trong môi

trường này, sinh viên sẽ được tiếp xúc với ngôn ngữ họ đang học ở những

tình huống khác nhau và việc này sẽ làm cho họ hiểu ngôn ngữ đó một cách

rõ ràng hơn và sẽ học hiệu quả hơn. Ngữ liệu đã trở nên phổ biến và có lợi rất

nhiều cho việc dạy Tiếng Anh. Với ngữ liệu thực tế, giáo viên không những

cung cấp cho sinh viên các thông tin cập nhật, nâng cao hiểu biết của mình

mà còn mang đến cho họ những niềm say mê tìm tòi trong học tập chuyên

môn. Nó còn giúp cho họ có thể vận dụng kiến thức thu được ở lớp học để

tham gia một cách có hiệu quả vào các hoạt động ngôn ngữ thật sự. Ngữ liệu

thực tế dễ tìm nhất đó là từ báo chí, tạp chí, tranh ảnh, băng hình. Việc sử

dụng báo chí phù hợp với kiến thức trong giáo trình để thiết kế nên các dạng

bài tập có thể coi là một chiếc cầu nối những hoạt động ở lớp với thế giới bên

ngoài. Việc sử dụng băng hình sẽ cho phép giảng viên có những hoạt động để

phát triển các kỹ năng khác nhau, như nghe-nhìn, nghe hiểu, nghe lấy thông

tin, giao tiếp theo tình huống cụ thể của đoạn băng đó.

Mục tiêu và nội dung bài giảng quyết định phương pháp. Cải tiến mục

tiêu và nội dung bài giảng là phải lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp

với mục tiêu và nội dung đó. Vì vậy, phải bắt đầu từ việc xác định rõ mục tiêu

và cải tiến nội dung của từng bài giảng. Dựa trên cơ sở của một giáo trình

khung, phần lớn ngữ liệu thực tế sẽ do giảng viên tự sưu tầm để bổ trợ cho

giáo trình chính, tức là giảng viên chủ động trong các nguồn tư liệu hỗ trợ.



71



Đối với phần Tiếng Anh chuyên ngành, giảng viên có thể rút từ các ấn

phẩm y khoa có ở thư viện của trường những bài, những phần mà sinh viên có thể

tiếp thu và đối chiếu với những gì họ đã được học trong chuyên môn y của họ.

Ngữ liệu tham khảo đóng vai trò quan trọng trong việc rèn luyện các kỹ

năng thực hành tiếng, đặc biệt là kỹ năng đọc hiểu, đọc tìm thông tin của sinh

viên, và điều này rất có ích cho họ sau này khi nghiên cứu khoa học và tham

khảo tài liệu nước ngoài phục vụ chuyên môn.

3.3.3.2. Nội dung biện pháp:

+ Xây dựng bộ “tài liệu thực” (Authentic materials) chuyên ngành và

có thể cập nhật.

+ Đảm bảo tài liệu học tập cho sinh viên.

+ Lựa chọn tài liệu tham khảo phù hợp với từng đối tượng sinh viên.

+ Phân loại trình độ của sinh viên để dễ đánh giá và có biện pháp giúp

đỡ đối tượng yếu kém.

+ Giới hạn khối lượng bài tập và các dạng bài tập để rèn luyện hai kỹ

năng đọc và viết là chủ yếu.

+ Giao bài tập cho sinh viên và yêu cầu chuẩn bị trước để sinh viên

chủ động, tích cực hơn trong giờ học và tiết kiệm được thời gian.

+ Chuẩn bị kỹ lưỡng giáo án, phương án trả lời các câu hỏi của sinh

viên.

+ Tăng phần mềm cho bộ môn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy

và học Tiếng Anh chuyên ngành.

3.3.4. Lựa chọn phương pháp giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành phù

hợp.

3.3.4.1. Cơ sở đề xuất biện pháp:

Kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh bao gồm nghe - nói - đọc - viết. Tuy

nhiên trong giảng dạy ngoại ngữ, không phải lúc nào cũng chú ý đồng đều cả

bốn kỹ năng đó. Đối với sinh viên ở các trường y nói chung, khi học Tiếng Anh

72



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×