1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

1 Bộ môn Ngoại ngữ.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 104 trang )


học tập, trao đổi chuyên môn, tham gia nghiên cứu khoa học. Ngoại ngữ

chính là cầu nối cho thành đạt của họ.

Bộ môn hiện có bốn giảng viên Tiếng Anh và hai giảng viên Tiếng

Pháp (xem phụ lục 4). Ba giảng viên đang hoàn thành chương trình sau đại

học. Hàng năm, bộ môn chịu trách nhiệm giảng dạy cho gần 400 sinh viên

thuộc các hệ đào tạo dài hạn, chuyên tu và bác sỹ chuyên khoa I. Ngoài ra bộ

môn còn đảm trách chương trình giảng dạy Tiếng Pháp và đào tạo chuyên

ngành y của khối đại học Pháp ngữ, chương trình trao đổi sinh viên, giảng

viên và trao đổi thông tin, hợp tác giữa các trường đại học y trong cộng đồng

Pháp ngữ. Đã có nhiều sinh viên của trường tham gia thực tập, học tập và làm

việc tại Cộng hoà Pháp. Đồng thời hàng năm trường cũng tiếp nhận các sinh

viên Pháp và Anh sang thực tập và giao lưu.

2.1.2. Tình hình đội ngũ giảng viên Tiếng Anh

- Các giảng viên đều có trình độ đại học chuyên ngữ và đều tốt nghiệp

trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, nên ngoài trình độ chuyên môn,

các giảng viên còn có năng lực sư phạm tốt.

- Một giảng viên là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt nam. Các giảng viên

khác đều có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề và hết lòng vì sinh viên.

- Từ năm 1993 đến năm 2004, số lượng giảng viên Tiếng Anh không

thay đổi. Chỉ đến tháng 01 năm 2005 mới được bổ sung thêm một giáo viên

trẻ. Điều này đã giúp cho bộ môn chủ động hơn trong giảng dạy.

- Do nhận thức được tầm quan trọng của việc phải trau dồi kiến thức

chuyên môn để nâng cao chất lượng giảng dạy, hai giảng viên nữ của nhóm

đã tham gia các lớp cao học.

- Vài năm trở lại đây, cùng với việc mở ra các lớp đào tạo hệ chuyên tu

bốn năm và số lượng sinh viên hệ dài hạn ngày càng tăng, nên số giờ mà các

giảng viên Tiếng Anh phải đảm nhiệm cũng nhiều hơn.



43



2.1.3 Nhiệm vụ giảng dạy

Hai đối tượng chính mà bộ môn có nhiệm vụ giảng dạy là:



44



2.1.3.1. Sinh viên hệ dài hạn:

Nguồn tuyển sinh của đối tượng này là học sinh đã tốt nghiệp trung

học phổ thông, đã vượt qua kỳ thi tuyển vào trường. Sau sáu năm học, những

sinh viên này sẽ trở thành bác sỹ đa khoa, có khả năng làm việc tại các trung

tâm y tế, bệnh viện trong cả nước hoặc tại các tỉnh Duyên hải phía Bắc. Ngoài

ra họ cũng có thể học tiếp chuyên khoa định hướng, chuyên khoa I và chuyên

khoa II hay tham dự thi tuyển công chức để trở thành cán bộ giảng dạy ở các

trường thuộc BộY tế.

2.1.3.2. Sinh viên hệ chuyên tu:

Đối tượng này gồm các sinh viên là y sỹ, kỹ thuật viên, những người đã

từng học tại các trường Trung cấp Y của các tỉnh thuộc vùng Duyên hải phía

Bắc. Sau khi đã làm việc tại các trạm y tế xã, phường, vùng sâu, hải đảo được

ít nhất là ba năm, họ đã vượt qua được kỳ thi tuyển vào trường và trở thành

sinh viên hệ chuyên tu. Sau bốn năm học, họ sẽ trở về nơi họ đã từng làm việc

để công tác, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.

2.2. Thực trạng quản lý chất lƣợng dạy-học Tiếng Anh chuyên ngành ở

trƣờng Đại học Y Hải Phòng

2.2.1. Thực trạng chất lượng dạy - học Tiếng Anh chuyên ngành

2.2.1.1. Mục tiêu giảng dạy và chuẩn đánh giá kỹ năng thực hành tiếng.

Đối tượng của Tiếng Anh chuyên y trước hết là những sinh viên bắt

đầu học năm thứ ba tại các trường đại học y. Ngoài ra còn có các đối tượng

khác như bác sỹ, chuyên viên y tế, y tá và những người muốn nâng cao trình

độ Tiếng Anh của mình vì những lý do khác nhau như để đọc tạp chí y học,

viết cho đồng nghiệp, nghe được người bản xứ nói tại các hội nghị y học hoặc

giao tiếp với các bệnh nhân người nước ngoài.



45



Riêng đối với sinh viên y khoa, việc dạy Tiếng Anh không nhằm truyền

đạt kiến thức y học, mà chỉ nhằm dạy Tiếng Anh trong y khoa cho họ. Chính

vì vậy, mục tiêu của việc dạy - học Tiếng Anh chuyên y là:

+ Củng cố kiến thức và kỹ năng thực hành tiếng cơ bản mà sinh viên đã

học qua chương trình Tiếng Anh phổ thông.

+ Trang bị vốn kiến thức về từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm và các kỹ năng

đọc viết qua một hệ thống chủ điểm gắn với chuyên môn y.

+ Sử dụng Tiếng Anh một cách hiệu quả trong các tình huống liên quan

đến chuyên môn y.

+ Hình thành và phát triển khả năng độc lập suy nghĩ bằng ngoại ngữ

đang học cả trong giao tiếp, cũng như sử dụng tốt ngoại ngữ để phát triển khả

năng nghiên cứu khoa học cho sinh viên.

Để đạt được những mục tiêu chung ở trên, sinh viên phải có trình độ

kiến thức về Tiếng Anh phổ thông. Đây là điều kiện tiên quyết đối với chất

lượng của việc giảng dạy và học tập Tiếng Anh chuyên y.

Bên cạnh đó, không thể không tính đến hệ thống chuẩn đánh giá các kỹ

năng thực hành tiếng nhằm đo lường kết quả và quản lý được chất lượng dạy học. Trong phạm vi của đề tài, luận văn đi sâu vào hai kỹ năng đọc và viết.

+ Chuẩn đánh giá kỹ năng đọc

Sau khoá học sinh viên phải đọc và dịch được các bài đọc có ở trong

giáo trình, phải có các kỹ năng đọc lướt, đọc hiểu, đọc lấy ý chính theo các

yêu cầu của bài học. Với mỗi bài đọc, sinh viên phải tìm ra được từ mới trong

bài, đoán nghĩa từ thông qua ngữ cảnh, trả lời được các câu hỏi theo bài, hiểu

được bài qua hệ thống các bài tập, để nắm bắt thông tin thông qua các tập hợp

từ, các mẫu câu, các thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong y văn.

+ Chuẩn đánh giá kỹ năng viết:



46



Sinh viên có thể sử dụng các câu đơn, câu phức hợp, câu ghép, câu chủ

động và câu bị động, câu điều kiện v.v. để viết về dấu hiệu, triệu chứng, cách

điều trị và phòng ngừa của các bệnh đã được học, biết cách viết các bản tóm

tắt nghiên cứu khoa học của họ.



47



2.2.1.2. Nội dung chương trình dạy học Tiếng Anh chuyên ngành

Xuất phát từ mục tiêu dạy học, nội dung chương trình dựa vào phần

cứng là khung chương trình đào tạo bác sỹ đa khoa tuyến cơ sở của Bộ Y tế.

Bộ môn đã tự biên soạn chương trình Tiếng Anh chuyên ngành y phù hợp với

các đối tượng sinh viên của trường. Cụ thể là:

+ Đối với sinh viên hệ dài hạn:

Chương trình bao gồm 20 bài về các chủ điểm có liên quan đến y học

thường thức. Thời gian học bắt đầu từ năm thứ ba, với thời lượng là 75 tiết

học. Qua giáo trình này sinh viên phải sử dụng được các kiến thức của phần

Tiếng Anh cơ bản để nắm bắt thông tin trong y học. Ngoài ra, với một lượng

bài tập đáng kể trong giáo trình, họ sẽ biết thêm các tập hợp từ, các mẫu câu,

các thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong y văn.

Giảng viên ngoại ngữ không phải là bác sỹ, do đó họ chỉ dạy tiếng chứ

không dạy chuyên môn y. Các môn học như giải phẫu, sinh lý, sinh lý bệnh,

sinh hoá, vi sinh, bệnh học, ký sinh trùng... sinh viên đều đã được học bằng

Tiếng Việt, nên các kiến thức y học được đề cập đến trong giáo trình Tiếng

Anh chuyên ngành không xa lạ gì với họ và vấn đề sẽ chỉ còn là học từ vựng,

các thuật ngữ và các cấu trúc thông dụng trong y văn mà thôi.

Các kỹ năng ngôn ngữ chính đươc chú trọng trong phần này là đọc –

viết. Các kỹ năng nghe và nói cũng được đề cập, nhưng không nhiều, chủ yếu

là trao đổi giữa giảng viên và sinh viên về một bài cụ thể, nhằm giúp sinh viên

mạnh dạn nói Tiếng Anh. Đây là một giáo trình thí điểm cho sinh viên y khoa

ở Trường Đại học Y Hải Phòng và đang trong giai đoạn thử nghiệm, nên chắc

chắn sẽ còn phải chỉnh lý.

+ Đối với sinh viên hệ chuyên tu:

Trước đây họ chỉ học ba năm và không học ngoại ngữ. Nhưng từ năm

học 2001-2002 họ học theo chương trình bốn năm và bắt đầu học ngoại ngữ



48



trong 150 tiết. Năm thứ nhất họ học 105 tiết Tiếng Anh phổ thông và ở học kỳ

I năm thứ hai, họ học 45 tiết Tiếng Anh chuyên y.

Giáo trình cho sinh viên chuyên tu gồm 20 bài, với nội dung đơn giản

hơn. Các bài học đều liên quan đến y học cộng đồng. Học xong giáo trình

này, sinh viên thu được các thông tin bằng Tiếng Anh về các dấu hiệu và triệu

chứng, cách phòng ngừa và điều trị một số bệnh thông thường như sốt, lao,

tiêu chảy, ho gà, động kinh, da liễu, hoa liễu, đau mắt, thiếu máu v.v.

Như vậy, về mức độ nội dung chương trình học và yêu cầu đối với từng

đối tượng học ở Đại học Y Hải Phòng có sự khác biệt đáng kể. Trong quá

trình giảng dạy ở những lớp sinh viên thuộc các đối tượng khác nhau, giảng

viên trong bộ môn cố gắng căn cứ vào mục tiêu đào tạo, nhiệm vụ giảng dạy

mà xác định lựa chọn phương pháp giảng dạy và đưa ra yêu cầu cụ thể của

môn học, bài học cho phù hợp với đối tượng người học.

2.2.1.3. Đội ngũ giảng viên với hoạt động giảng dạy.

+ Phương pháp giảng dạy.

Thực tế việc giảng dạy Tiếng Anh hiện nay của bộ môn chủ yếu là theo

phương pháp truyền thống. Giáo viên giảng ngữ pháp, học sinh luyện tập

những bài tập của giáo trình. Nói chung, giáo viên và học sinh tập trung vào

dạy và học lý thuyết là chính. Sinh viên phải học thuộc từ mới, học kỹ ngữ

pháp thì mới áp dụng vào các dạng bài tập tình huống cụ thể của giáo trình

được. Ngoài ra, họ còn phải hiểu và nhớ theo cách của riêng mình. Học theo

phương pháp này thì sinh viên mới chỉ nắm được các kiến thức cơ bản trong

giáo trình, nhưng nó cũng giúp cho họ vượt qua các kỳ thi và kiểm tra của bộ

môn. Như vậy, chương trình quy định của Bộ, của trường cũng như của bộ

môn vẫn được đảm bảo.

Trong những năm gần đây, các giảng viên cũng đã thử áp dụng phương

pháp giao tiếp, nhưng cũng không được nhiều lắm vì thời lượng học Tiếng

Anh chuyên ngành là không nhiều và sinh viên lại chưa có thói quen giao tiếp

49



trước mọi người. Thêm vào đó, việc ít sử dụng các trang thiết bị dạy học, tài

liệu học tập chưa được soạn thảo theo hướng giao tiếp. Tất cả những điều đó

chưa làm cho sinh viên tiếp cận được với phương pháp mới một cách chủ

động và sinh viên chưa phát huy được tính tích cực trong học tập.

+ Cách tổ chức kiểm tra và đánh giá chất lượng.

Hình thức thi phổ biến và đánh giá kết quả của sinh viên ở môn Tiếng

Anh vẫn là thi viết: chủ yếu là trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận.

Hầu hết các bài kiểm tra đều được thiết kế theo kiểu này. Sinh viên phải làm

được các bài trắc nghiệm: ghép đôi, điền khuyết, chọn đáp án đúng, đối chiếu.

Bài trắc nghiệm tự luận ở dạng đơn giản về các chủ đề đã học trong chương trình

như đã nêu ở phần về kỹ năng viết. Bài kiểm tra đánh giá sinh viên năm thứ ba

có cấu trúc và số lượng câu như bài của sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai,

nhưng khác ở chỗ kiến thức được kiểm tra chủ yếu là về Tiếng Anh chuyên

ngành y. Thông thường, trước khi kết thúc học kỳ, sinh viên nêu thắc mắc và

giảng viên có trách nhiệm giải đáp và hệ thống lại các kiến thức đã học để sinh

viên dễ ghi nhớ. Bài kiểm tra cuối kỳ kéo dài 120 phút, bao gồm nhiều nhất là

100 câu, tương đương với 10 điểm. Điểm thi hết môn được dùng để đánh giá kết

quả học tập của sinh viên theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2.2.1.4. Đội ngũ sinh viên với hoạt động học tập

Hai đối tượng chính của Trường Đại học Y Hải Phòng có những đặc

điểm riêng, ảnh hưởng đáng kể đến việc học tập nói chung và học tập môn

Tiếng Anh nói riêng.

Sinh viên dài hạn đại đa số đều còn trẻ, ở độ tuổi 18-20. Họ có quá

trình học liên tục từ phổ thông lên đại học, do đó, họ còn nắm chắc kiến thức

phổ thông trong đó có các kiến thức Tiếng Anh. Nhiều sinh viên có kiến thức

Tiếng Anh rất khá. Khi bước vào đại học, những sinh viên này lại được học



50



lại từ đầu nên họ học rất dễ dàng, không vất vả như những sinh viên khác.Tuy

vậy, họ có động cơ học tập rất nghiêm túc, thực hiện tất cả những bài luyện

mà giáo viên yêu cầu. Họ là những nhân tố làm cho giờ học có hiệu quả hơn.

Cũng có những sinh viên, lúc đầu học Tiếng Anh còn bỡ ngỡ, khó khăn

nhưng do xác định được mục đích học tập đúng đắn, có ý thức học tập tốt,

chăm chỉ cần cù, biết tận dụng thời gian để học môn này, nên kết quả học tập

cũng rất tốt và ổn định, kể cả phần Tiếng Anh chuyên ngành.

Sinh viên chuyên tu tuy không trẻ như đối tượng dài hạn, tuổi trung

bình từ 26 - 45, nhưng do nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của ngoại

ngữ đối với quá trình học tập hiện tại và công tác sau này của họ, nên ngay từ

khi bắt đầu nhập học, họ đã thực sự cố gắng: đi học đầy đủ, làm hết bài tập,

chịu khó học các từ mới và lý thuyết ngữ pháp. Kết quả kiểm tra đánh giá

cuối học kỳ của họ đều đạt yêu cầu, cũng có những sinh viên đạt điểm khá và

giỏi.

Khó khăn chủ yếu của sinh viên dài hạn là trình độ Tiếng Anh đầu vào

chênh lệch khá lớn do kiến thức học phổ thông ở những vùng khác nhau.

Nhiều sinh viên có thuận lợi do được học môn học này liên tục từ cấp trung

học cơ sở đến phổ thông trung học, nhưng cũng có những sinh viên sống ở

các vùng sâu, vùng xa và ngoài hải đảo nên việc học ngoại ngữ còn nhiều hạn

chế. Hơn nữa, việc dạy và học Tiếng Anh ở phổ thông thường chỉ hướng vào

thi tốt nghiệp phổ thông trung học là chính, nên dù có được học Tiếng Anh

nhiều năm như vậy, vào đại học lại học lại từ đầu và học thêm môn tiếng Anh

chuyên ngành với thời lượng cố định không nhiều, nhưng một số sinh viên

vẫn không đạt yêu cầu do chủ quan và chưa có phương pháp tự học một cách

khoa học.



51



Sinh viên chuyên tu cũng có những khó khăn của họ: họ đều lớn tuổi,

sức tiếp thu chậm hơn, hầu hết đều phải phân tâm lo nghĩ về gia đình; họ phải

học toàn bộ chương trình đào tạo bác sỹ chỉ trong bốn năm, do đó họ phải thi

liên tục và không có nhiều thời gian dành cho ngoại ngữ. Vả lại, việc học

Tiếng Anh đã khó tiếp thu, khó nhớ và mau quên, việc học Tiếng Anh chuyên

ngành càng khó hơn, đòi hỏi họ phải không ngừng cố gắng trong suốt quá

trình học tập thì mới có thể đáp ứng được các yêu cầu của môn học.

2.2.1.5 Kết quả khảo sát đội ngũ sinh viên về hoạt động học tập.

Khảo sát 174 sinh viên của cả hai hệ dài hạn và chuyên tu của Trường

Đại học Y Hải Phòng qua phiếu hỏi ý kiến cho thấy:

+ Nhận thức của sinh viên về tác dụng của ngoại ngữ

Bảng 2.1 Khảo sát về nhận thức của sinh viên về tác dụng của ngoại ngữ

Đồng ý

(%)



Không

đồng ý

(%)



Stt



Tác dụng của ngoại ngữ



Rất

đồng ý (%)



1



Ngoại ngữ giúp nâng cao trình độ văn

hoá chung



46,55



46,55



6,90



2



Ngoại ngữ nâng cao năng lực tư duy

cơ bản và tư duy logic



22,41



61,49



16,10



3



Ngoại ngữ giúp rất nhiều cho nghiên

cứu khoa học



50,00



45,97



4,03



4



Ngoại ngữ là cầu nối cho thành đạt và

tri thức của sinh viên



37,35



60,91



1,74



5



Ngoại ngữ góp phần giáo dục tính kiên

trì vượt khó



31,60



57,47



10,93



Nhận xét:



52



Trên 83% sinh viên đã nhận thức được tác dụng của môn ngoại ngữ.

Tuy nhiên vẫn còn 16,10 % sinh viên còn mơ hồ, chưa nhận thức được đầy

đủ, chính xác vai trò của ngoại ngữ như là một phương tiện, công cụ giúp họ

phát huy khả năng trong học tập, nâng cao năng lực tư duy cơ bản và tư duy

logic, cũng như góp phần giáo dục tính kiên trì vượt khó.



53



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×