1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.79 MB, 129 trang )


hoạt động này vì hầu hết các trường học ở Nhật Bản là các trường bán trú. Tuy

nhiên, các hoạt động ngoài giờ lên lớp này tập trung chủ yếu vào việc giáo dục

đạo đức và giáo dục truyền thống cho học sinh như dạy các nghi thức giao tiếp

theo tập tục của người Nhật, dạy cách pha trà, nấu nướng, các nghề truyền

thống của Nhật Bản . Chương trình cải cách giáo dục của Nhật Bản giảm bớt

thời lượng các giờ lên lớp để tăng cường nhiều hơn các hoạt động ngoài giờ

lên lớp cho học sinh [36]

J.A.Cô men xki - ông tổ của nền sư phạm cận đại trong thời gian làm cố

vấn giáo dục tại Hung ga ri đã rất coi trọng hoạt động ngoài giờ lên lớp. Ông

đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở rộng các hình thức

học tập ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm

rèn luyện cá tính cho học sinh, đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới

đầy tính thuyết phục[11]..

1.1.2. Trong nước

Sự nghiệp giáo dục đào tạo Việt Nam ngay từ khi ra đời: Bác Hồ- vị lãnh

tụ thiên tài, nhà giáo mẫu mực của chúng ta đã đặt nền móng cho sự nghiệp

giáo dục với phương châm “Dân tộc - Khoa học - Đại chúng”. Chủ trương

trong việc giáo dục là phải chú trọng “Đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN,

giáo dục văn hoá, kỹ thuật và lao động sản xuất”

Qua các giai đoạn phát triển khác nhau, tư tưởng giáo dục toàn diện của

Hồ Chí Minh và của Đảng ta đã chính thức là kim chỉ nam cho hành động phát

triển giáo dục. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời chiến hay thời bình, thời kì

giáo dục khó khăn nhất hay hưng thịnh nhất thì sự nghiệp phát triển giáo dục

vẫn luôn phải chú trọng đến giáo dục toàn diện cho học sinh. Những tư tưởng

đó được thể hiện rõ ràng trong nguyên lý “ Học đi đôi với hành, lý luận gắn

liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”. Đặc biệt trong giai đoạn

đổi mới hiện nay, tư tưởng giáo dục toàn diện cũng được thể hiện qua các mặt

: Đức – Trí – Thể – Mỹ – Lao động nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách

học sinh.



8



Để đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho học sinh,

từ những năm 1983-1984 Bộ Giáo dục đã hướng dẫn các trường phổ thông

cần chú ý tăng cường các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cân đối và song

song với kế hoạch dạy học nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mà Bộ đề ra.

Tác giả Phạm Lăng khi tìm hiểu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở

trường trung học Chu Văn An – Hà Nội đã xác định nhiều hình thức hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp và nhấn mạnh : Nếu tổ chức hoạt động này một

cách khoa học sẽ không làm giảm đi chất lượng các môn học [13]

Tác giả Nguyễn Văn Thiềm cho rằng chất lượng giáo dục học sinh ở nhà

trường giảm sút có nguyên nhân từ việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài

giờ lên lớp bị buông lỏng [27]

Tác giả Đinh Xuân Huy với công trình nghiên cứu các biện pháp quản lý

hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của người hiệu trưởng trong trường phổ

thông Dân Tộc Nội Trú – Tỉnh Lai Châu đã khẳng định vai trò quan trọng của

tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với việc nâng cao chất

lượng giáo dục của trường phổ thông Dân Tộc Nội Trú, xây dựng các biện

pháp quản lý hoạt động này của người hiệu trưởng[19].

Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã làm nổi

rõ tầm quan trọng của các hoạt động ngoài giờ lên lớp và chỉ ra nhiều biện

pháp cho người hiệu trưởng để tổ chức và quản lý tốt các hoạt động này nhằm

nâng cao chất lượng giáo dục. Trong điều kiện và giới hạn nghiên cứu, luận

văn này nêu rõ những biện pháp nào là cần thiết và hữu hiệu để tổ chức và

quản lí các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, nhất là các biện pháp phù

hợp với điều kiện, hoàn cảnh trường THPT Đồ Sơn thành phố Hải Phòng.

1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Khái niệm chung về quản lí

1.2.1.1. Khái niệm quản lý

Quản lý là một quá trình lựa chọn các tác động nhà quản lý phải biết sắp xếp

và thể hiện hợp lý các tác động lên đối tượng bị quản lý sao cho đảm bảo sự

cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển của bộ máy. Quản lý còn là việc đặt ra



9



mục tiêu, lựa chọn các phương tiện, điều kiện và tác động vào vào từng thành

tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu quản lý.

Về phương diện nhà quản lý thì quản lý là sự tác động của nhà quản lý trong

việc chỉ huy, điều khiển, tổ chức quản lý hướng vào các quá trình xã hội và

hành vi hoạt động của từng con người trong quá trình quản lý nhằm đưa đến

sự phát triển, biến đổi phù hợp với quy luật khách quan, đạt mục tiêu quản lý.

Quản lý phải trả lời các câu hỏi: "Phải đạt mục tiêu nào đề ra ?"; "Phải đạt

mục tiêu đó như thế nào và bằng cách nào ?"; "Phải mở rộng ảnh hưởng của

tổ chức bằng cách nào ?"; "Phải thu hút, lôi kéo thêm ai và bằng cách nào ?"

Để quản lý, người quản lý phải lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và

kiểm soát công việc.

Khái niệm "Quản lý" đã được các nhà khoa học định nghĩa một cách khác

nhau nhưng đều đạt đến mục đích chung. Sau đây là một số các định nghĩa về

quản lý: "Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để

tạo ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống nhằm đạt được mục đích nhất

định".

Theo PGS Nguyễn Văn Lê "Quản lý là một hệ thống tác động khoa học nghệ

thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt

được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống" [14].

"Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một

hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục

tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống

mà người quản lý mong muốn" [28].

Theo Giáo sư Mai Hữu Khuê "Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập

thể những người lao động nhằm đạt được kết quả nhất định và mục đích đã

đặt trước”

Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực

hiện được mục tiêu dự kiến .” [23].



10



“Quản lý là tính toán sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài

lực)

nhằm thực hiện các nhiệm vụ của hệ đề ra với kết quả tối ưu.” [39].

“Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ

chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất” [38].

Như vậy quản lí là một quá trình tác động có định hướng , có tính chất lựa

chọn các tác động phù hợp dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng

và môi trường nhằm tạo cho đối tượng vưà vận hành trong thế ổn định, vừa tạo

sự phát triển theo mục đích đề ra được thực hiện thông qua các hoạt động lập

kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá.

Qua những nội dung trên, có thể đưa ra một sơ đồ logic của quá trình

quản lý như sau:

Chủ thể quản lý

Mục tiêu

Đối tượng quản lý

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ logic của quá trình quản lý

1.2.1.2. Khái niệm quản lí giáo dục

Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quản lý nói chung và quản lý

giáo dục nói riêng ở trong và ngoài nước. Các công trình này đã nghiên cứu

chủ yếu về mặt lý luận như các khái niệm quản lý và chức năng quản lý, về

mối liên hệ giữa kế hoạch quản lý giáo dục với những kế hoạch khác. Những

kết qủa của việc nghiên cứu trên đã được ứng dụng rộng rãi trong đội ngũ cán

bộ quản lý giáo dục nói chung, đội ngũ quản lý các trường phổ thông nói riêng

và đã mang lại kết quả nhất định.

Nhà giáo dục học người Nga P. V Khu đô min xki cho rằng “ Quản lí là

những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ



11



thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục

nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà cho thế hệ trẻ”.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: Quản lí giáo dục là hệ thống

những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí

nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng,

thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm là quá

trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu, tiến lên trạng thái

mới về chất [23].

Giáo sư Phạm Viết Vượng cho rằng: Mục đích cuối cùng của quản lí giáo

dục là tổ chức quán trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông

minh sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản

thân và xã hội. Để hiểu một cách chính xác hơn về "Quản lý giáo dục", ta xem

xét các quan niệm sau:

"Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp

quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối,

nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ

nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ,

đưa hệ giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất". [34]

Theo M.M .Mêchti - Zađe, nhà lý luận Xô Viết trước đây thì : “Quản lý

giáo dục là tập hợp những biện pháp (Tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo

dục, kế hoạch hoá, tài chính ...) nhằm đẳm bảo sự vận hành bình thường của

các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở

rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng.”

Về thực chất, quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng cơ

bản sau: Phải có chủ thể quản lí giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước

mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào

tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo, ở tầm vi mô là cán bộ quản lí ở các trường

học. Phải có hệ thống tác động quản lí theo một nội dung, chương trình kế



12



hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo

dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội.

Khái quát lại, có thể nói, quản lí giáo dục về thực chất là quản lí có hiệu

quả chất lượng giáo dục(bao gồm dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được

thực hiện thông qua các tác động có mục đích, có kế hoạch, qua các chức năng

tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá để đào tạo thế hệ trẻ thông minh sáng tạo,

năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội.

1.2.1.3. Khái niệm quản lí nhà trường

Nhà trường là một hệ thống xã hội bao gồm các thành phần khác nhau tạo

thành: lớp học, các bộ môn, phòng chức năng, đội ngũ giáo viên và học sinh,

cán bộ quản lí, nhân viên phục vụ. Nhà trường là một tổ chức theo kiểu phòng

ban – tổ chức nhiệm sở với các cấu trúc, các quy tắc, các chế độ khuyến khích

được thiết lập và kiểm soát chặt chẽ theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện

các mục tiêu nhất định. Trường học là một hệ thống các mối tương tác xã hội

trong đó quan trọng nhất là mối tương tác của người thầy với ba phạm trù: Nội

dung giáo dục, phương pháp giáo dục, người được giáo dục.

Công tác quản lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra

trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động

ngoài xã hội. Quản lý trường học như là quản lý một hệ thống bao gồm các

thành tố:

- Thành tố tinh thần: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục các kế hoạch

biện pháp giáo dục.

- Thành tố con người: Cán bộ - giáo viên - công nhân viên và học sinh.

- Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, tài chính các trang thiết bị, phương

tiện phục vụ giảng dạy và học tập.

Theo M .I. Kônđacốp: "Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh,

chúng ta hiểu quản lí nhà trường (công việc nhà trường) là: Hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt. Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa

học và có hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà



13



trường, để đảm bảo tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình

dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên [31]

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường

lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo

đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”. [17]

Như vậy xét một cách đầy đủ: Quản lý nhà trường phổ thông là sự tác

động có định hướng có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực

theo nguyên lý giáo dục. Nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến

tới mục tiêu giáo dục. Trọng tâm của nó là hoạt dộng dạy học và hoạt động

giáo dục tiến lên trạng thái mới về vật chất.

Bản chất của quản lí nhà trường là : Quản lí hoạt động dạy- học, quản lí

hoạt các hoạt động giáo dục trong đó có hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,

hoạt động giáo dục hướng nghiệp – dạy nghề. Quá trình quản lí ấy làm sao

đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần đạt mục tiêu.

Các hoạt động trong nhà trường bản thân nó đã có tính giáo dục, song cần có

sự quản lí, tổ chức chặt chẽ mới phát huy được hiệu quả của bộ máy.

Mục tiêu quản lí nhà trường được cụ thể hoá trong kế hoạch, nhiệm vụ

năm học, tập trung vào việc phát triển toàn diện nhân cách của học sinh. Để

thực hiện mục tiêu này, người Hiệu trưởng phải tiến hành các hoạt động quản

lí: xây dựng môi trường giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất nhà trường và các

điều kiện phục vụ cho dạy và học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tạo

lập và duy trì tốt mối quan hệ nhà trường-gia đình- xã hội, thực hiện dân chủ

hoá trong quản lí nhà trường và các hoạt động khác.

Như vậy quản lí nhà trường là việc người hiệu trưởng xây dựng mục

tiêu, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm ta đánh giá các kết quả đạt

được so với yêu cầu và chuẩn mực đề ra trong chương trình giáo dục và

nhiệm vụ năm học về chất lượng phát triển toàn diện nhân cách của học sinh.

Dưới đây là sơ đồ quá trình quản lý giáo dục ở trường phổ thông



14



Sơ đồ 1. Quá trình giáo dục ở trƣờng phổ thông

HĐ DẠY- HỌC

QUÁ TRÌNH

GIÁO DỤC Ở

TRƢỜNG PT



MỤC TIÊU

GIÁO DỤC



HĐGDNGLL



HĐ GDHN- DN



Sơ đồ 1.2. Quá trình giáo dục ở trƣờng phổ thông

1.2.2. Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

1.2.2.1. Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một hoạt động giáo dục được thực

hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực thi quá

trình đào tạo học sinh, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội.

Hoạt động này do nhà trường quản lí, tiến hành ngoài giờ dạy trên lớp .

Nó được tiến hành xen kẽ hoặc tiếp nối chương trình dạy học trong phạm vi

nhà trường hoặc trong đời sống xã hội, được diễn ra trong suốt năm học và cả

thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình đó có thể

được thực hiện mọi nơi, mọi lúc.

1.2.2.2. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Đây là hoạt động của nhà quản lý tác động đến tập thể giáo viên và học

sinh ngoài giờ lên lớp nhằm tổ chức, điều hành để đưa hoạt động

HĐGDNGLL thành nền nếp, phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu đào tạo

nhân cách người học sinh trong nhà trường THPT. Hoạt động này được tiến

hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường

hoặc trong đời sống xã hội do nhà trường quản lý. Nó diễn ra trong suốt năm

học. Nhà quản lý vừa phải kiểm soát được mục tiêu, vừa có các biện pháp



15



quản lý kế hoạch tổ chức các hoạt động, vừa nắm chắc các điều kiện cần thiết

trong quá trình tổ chức, lại vừa hướng dẫn cán bộ , giáo viên thực hiện sao cho

có hiệu quả các hoạt động này.

1.2.3. Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung

học phổ thông

HĐGDNGLL là điều kiện thuận lợi để học sinh phát huy vai trò chủ thể

của mình trong hoạt động, nâng cao tính tích cực hoạt động, rèn luyện nhân

cách phát triển toàn diện. Với ý nghĩa đó, mục tiêu của HĐNGLL được thể

hiện ở những điểm sau:

- Thứ nhất, HĐGDNGLL tăng cường hiểu biết về các giá trị truyền thống

của dân tộc cũng như những giá trị tốt đẹp của nhân loại; củng cố, mở rộng

kiến thức đã học trên lớp; có ý thức với bản thân, gia đình và xã hội; bước đầu

có ý thức định hướng nghề nghiệp.

- Thứ hai, HĐGDNGLL tiếp tục rèn luyện các kĩ năng cơ bản đã có từ

THCS để trên cơ sở đó tiếp tục phát triển các năng lực chủ yếu như: năng lực

tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động chính

trị – xã hội, năng lực tổ chức quản lí, năng lực hợp tác…

- Thứ ba, HĐGDNGLL giúp học sinh biết tỏ thái độ đúng đắn trước

những vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân:

đấu tranh tích cực với những biểu hiện sai trái của bản thân (để tự hoàn thiện

mình) và của người khác biết cảm thụ và đánh giá cái đẹp trong cuộc sống.

1.2.4. Vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với việc phát

huy tính tích cực hoạt động và giáo dục đạo đức của học sinh

1.2.4.1. Theo tâm lí học, nhân cách được hình thành và phát triển trong hoạt

động, bằng hoạt động của chính chủ thể. Chính trong hoạt động, con người

bộc lộ được tiềm năng của mình, thể hiện được khả năng hiểu biết, những kĩ

năng cơ bản mình rèn luyện được bằng vốn kinh nghiệm sống. Hoạt động của

con người đa dạng, phong phú, mỗi kiểu hoạt động lại có yêu cầu riêng, đòi



16



hỏi phải có một sự thích ứng tích cực mới có thể thực hiện có hiệu quả hoạt

động. Như vậy tính tích cực hoạt động là thành phần cơ bản trong cấu trúc của

một nhân cách. Tính tích cực đó chỉ có thể đước nảy sinh và phát triển bằng sự

tham gia trực tiếp của con người vào hoạt động.

Đối với học sinh, tính tích cực hoạt động là một trong những yêu cầu

không thể thiếu được trong quá trình học tập và rèn luyện của các em. Tham

gia vào hoạt động tập thể là cách tốt nhất để các em được rèn luyện tính tích

cực. Chính vì vậy, nhà trường cần tổ chức nhiều hoạt động khác nhau, tạo cho

mọi học sinh có cơ hội để rèn luyện tính tích cực cho bản thân mình.

HĐGDNGLL với các hình thức hoạt động khác nhau giữ vai trò rất quan trọng

trong việc phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh

Thứ nhất, HĐGDNGLL với tính đa dạng của nó sẽ thu hút HS tham gia

vào quá trình tổ chức hoạt động. Tính đa dạng và phong phú của

HĐGDNGLL thể hiện rõ ở nội dung, hình thức tổ chức, các điều kiện thực

hiện hoạt động. Là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn

hoá, HĐGDNGLL phải hết sức phong phú về nội dung . Sự phong phú đó

phải được biểu hiện ở cả bề rộng lẫn bề sâu, nghĩa là nội dung hoạt động phải

chứa đựng cả lĩnh vực tự nhiên và xã hội nhân văn, hoặc rất cụ thể và kĩ lưỡng

về một vấn đề nào đó. Chính điều đó là một trong những yếu tố quan trọng

kích thích tính tích cực của học sinh.

Mỗi lứa tuổi học sinh có những yêu cầu riêng, hứng thú riêng đối với

hoạt động. Vì vậy, sự thay đổi các hình thức tổ chức hoạt động cho phù hợp

với lứa tuổi học sinh khác nhau là đòi hỏi tất yếu đối với nhà trường. Sức

hấp dẫn học sinh, sự lôi cuốn các em tham gia tích cực vào hoạt động phụ

thuộc nhiều vào sự thay đổi các hình thức tổ chức hoạt động. Điều đó đòi

hỏi sự nỗ lực cao của các giáo viên, các nhà giáo dục trong việc sáng tạo ra

nội dung và hình thức tổ chức.



17



Thứ hai, để phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh thì

HĐGDNGLL giữ vai trò chủ chốt trong các hoạt động giáo dục ở nhà trường.

Thật vậy, với đặc thù riêng của HĐGDNGLL, với nội dung và quỹ thời gian

thực hiện được khẳng định trong chương trình, HĐGDNGLL đã tạo nên

những điều kiện thuận lợi để học sinh rèn luyện tính tích cực hoạt động. Các

nội dung hoạt động với tính đa dạng của nó đã thực sự đem lại cho học sinh

nhiều niềm hứng thú để tham gia.

Thứ ba, HĐGDNGLL có nhiệm vụ liên kết các lực lượng giáo dục trong

và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình tổ chức hoạt động. Trong mối liên

kết này, nhà trường giữ vai trò chủ đạo điều phối các quan hệ, trong đó có

quan hệ giữa giáo viên với học sinh và với những lực lượng giáo dục khác.

Chính những mối quan hệ này tạo tiền đề để học sinh phát huy tính tích cực

hoạt động, giúp các em có thêm kinh nhiệm trong việc tổ chức và điều khiển

hoạt động. Có thể coi đây là vai trò gián tiếp của HĐGDNGLL trong việc thức

đẩy tính tích cực hoạt động của học sinh.

HĐGDNGLL là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường với

xã hội. Thông qua HĐGDNGLL, nhà trường có điều kiện phát huy vai trò tích

cực của mình đối với cuộc sống. HĐGDNGLL là điều kiện, phương tiện để

huy động sức mạnh cộng đồng(các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà

trường) cả về vật chất và tinh thần nhằm thúc đẩy sự phát triển của nhà trường

và sự nghiệp giáo dục nói riêng.

1.2.4.2. Học sinh THPT ngoài tham gia các hoạt động học tập ra còn tham gia

các HĐGDNGLL. Các HĐGDNGLL có thể được thực hiện ở trong trường, ở

các câu lạc bộ, ở nhà văn hoá và địa phương nơi học sinh sống. Các

HĐGDNGLL thực hiện nhiệm vụ giáo giáo dục đa dạng và đưa học sinh vào

thực tế lĩnh hội các tri thức khoa học, các chuẩn mực đạo đức và hình thành

các hành vi một cách tự giác HĐGDNGLL góp phần hoàn thiện quá trình giáo

dục, hướng các em vào các mục tiêu giáo dục sau:



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

×