1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 116 trang )


trường nói chung và quản lý đội ngũ nói riêng được đặt ra một cách nghiêm

túc và thể hiện rõ vai trò của đội ngũ cũng như quản lý để đạt hiệu quả và chất

lượng giáo dục. Ví dụ Dự án phát triển THPT, Dự án SREM, Dự án Việt

Nam-Singapore….Điều này cho thấy được chủ trương của Chính phủ không

chỉ dừng lại ở lý luận mà Chính phủ đã cụ thể hoá bằng các chương trình,

triển khai các đề án có mục tiêu cụ thể và cũng chỉ đạo sát sao đối với Bộ

GD&ĐT để sao cho các chủ trương mau đi vào thực tiễn.

3.2. Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trƣờng ngoài

công lập

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

Kế thừa là quy luật chung của tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Kế

thừa được định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt có nghã là "Sự thừa hưởng, giữ

gìn và tiếp tục phát huy". Do đó nguyên tắc đầu tiên làm cơ sở sở khoa học

cho việc lựa chọn các biện pháp là đảm bảo tính kế thừa. Chúng ta không thể

xây dựng một biện pháp mới hoàn toàn khi chúng ta không quan tâm đến cái

hiện có, mà phải nghiên cứu xem nó diễn ra thế nào, cái nào là tốt và cần phải

gìn giữ phát huy. cái nào không còn phù hợp cần chỉnh sửa hoặc thay thế. Tựu

chung lại, các biện pháp cần được xây dựng làm sao để khi áp dụng vào thực

tế đảm bảo "ít bị xáo trộn nhất".

Thực tế cho thấy nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa là nguyên tắc về

phương pháp luận để nhận thức quá trình quản lý đội ngũ giáo viên trung học

phổ thông ngoài công lập. Công tác quản lý đội ngũ giáo viên trung học phổ

thông ngoài công lập nhà trường là sự bảo tồn những nghiên cứu, quy định đã

được Nhà nước quy định nhằm có những biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên

các trường ngoài công lập nói chung, các trường THPT NCL nói riêng. Các

quy định đó cũng đã đặt ra những yêu cầu nhất định về trình độ chuyên môn,

số lượng, chuẩn mực đạo đức…, nguyên tắc tính kế thừa thể hiện sự tôn trọng

lịch sử, tôn trọng quá khứ và chỉ thay đổi những gì bất cập. Các biện pháp ở

67



đây sẽ đưa ra cũng phải phát huy yêu cầu vốn có các quy định hiện hành,

nhưng đồng thời cũng sẽ đặt các yêu cầu có sự chính xác hơn, cụ thể hơn và

bám sát hơn với thực tế phát triển hiện tại và tương lai của sự phát triển của

lực lượng; đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL của nhà trường, của xã

hội, phát huy được hiệu quả quản lý của Sở GD&ĐT đối với đội ngũ giáo

viên các trường THPT NCL để luôn đảm bảo các yêu cầu đặt ra đối với đội

ngũ giáo viên này trong tình hình hoạt động hiện nay và tương lai của các

trường THPT NCL.

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với tình hình thực tiễn

Xuất phát từ những định hướng, những xu thế thế phát triển của giáo

dục và đào tạo trong bối cảnh hiện tại, biện pháp đề xuất đòi hỏi cấp bách của

thực tiễn nhằm giải quyết những mâu thuẫn nội tại trong quá tình phát triển để

duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống các trường THPT

NCL. Do vậy, biện phát đề xuất phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện, hoàn

cảnh cụ thể của các trường THPT NCL trên địa bàn Hà Nội hiện nay và xu

thế phát triển xã hội.

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

Biện pháp phát triển phải xuất phát từ thực trạng trong công tác quản lý

đội ngũ giáo viên của các trường THPT NCL nhằm giải quyết các vấn đề về

số lượng, chất lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và việc đảm

bảo chất lượng lên lớp của đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL một cách

hiệu quả nhất. Do đó, mỗi biện pháp đưa ra có hiệu quả khi và chỉ khi biện

pháp đó có ý nghĩa, có nội dung cụ thể và được triển khai, thực hiện đạt kết

quả mong muốn và không làm nảy sinh những vấn đề mới khó khăn và phức

tạp hơn.

3.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

Biện pháp có tính khả thi cao khi được sự đồng thuận của các trường

THPT NCL, THPT công lập, các phòng ban của Sở GD&ĐT liên quan đến

68



hoạt động của đội ngũ giáo viên nhưng vẫn đảm bảo đúng với các quy định

hiện hành đối với cấp học THPT và các quy định đối với trường THPT NCL.

Bởi rằng công tác quản lý trước tiên phải căn cứ trên cơ sở của các quy

định có tính pháp quy của Nhà nước đối với giáo dục và đồng thời phải đảm

bảo các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ; quy chế hoạt động của ngành

giáo dục đề ra. Đồng thời khách quan cho ta thấy các khó khăn khi thực hiện

theo thực tiễn phát triển của địa phương. Từ đó cần có những giải pháp thông

qua các hoạt động quản lý dựa trên các quy định, quy chế. Biện pháp có tính

khả thi cao khi đánh giá được tác động kinh tế xã hội cũng như dự kiến được

các nguồn lực đảm bảo cho việc thực hiện các biện pháp

3.3. Mục tiêu quản lý đội ngũ giáo viên các trƣờng THPT NCL thành phố

Hà Nội trong bối cảnh hiện nay

Trên cơ sở phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên và công tác quản lý

đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL trên địa bàn Hà Nội trong bối cảnh

hiện nay, Sở GD&ĐT Hà Nội đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường năng

lực quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục, trong đó có công tác quản lý đội

ngũ giáo viên. Mặc dù vậy các biện pháp còn chưa thật đồng bộ bởi được xây

dựng từ chủ quan của các bộ phận với chức năng quản lý khác nhau. Vận

dụng lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đặt ra yêu cầu về tính thống

nhất; đồng bộ trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT

NCL, từ đó đề ra các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT

NCL trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện nay một cách có hiệu quả. Mỗi

biện pháp đều có những mục tiêu, nội dung, cách thức và điều kiện thực hiện,

nhưng để đề ra các biện pháp một cách hữu hiệu nhất, trước hết phải xác định

được rõ mục tiêu quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL trên địa

bàn Hà Nội trong bối cảnh hiện nay về số lượng, cơ cấu và chất lượng để từng

bước nâng cao chất lượng giáo dục trong hầu hết các trường THPT NCL trên

địa bàn Hà Nội .

69



3.3.l . Về số lượng

Theo Thông tư số 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 về việc ban

hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường Tiểu học, Trung học cơ sở,

Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục,

tại Điều 16 quy định tỉ lệ giáo viên cơ hữu phải đảm bảo ít nhất là 40% và số

giáo viên phải đảm bảo không thấp hơn quy định nhà nước về định mức giáo

viên cùng cấp công lập ( Theo Thông tư số 35/2006/TTLT/BGDĐT-BNV, số

lượng giáo viên đối với cấp THPT công lập là 2,25/lớp)

Như vậy trên cơ sở thực tế số lớp mà các trường THPT NCL tuyển sinh

được thì phải cố số lượng giáo viên tương ứng đảm bảo các quy định là trên

2,25 giáo viên trên lớp và 40% giáo viên cơ hữu trên tổng số giáo viên huy

động giảng dạy tại trường THPT NCL .

3.3.2. Về cơ cấu

Cần phải đảm bảo cơ cấu, đảm bảo tỉ lệ giữa các bộ môn phù hợp với

việc chọn ban dạy của nhà trường, không dạy chéo môn.

3.3.3. Về chất lượng

Theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ

GD&ĐT về việc ban hành Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ

thông và trường Phổ thông có nhiều cấp học, quy định về trình độ đối với

giáo viên cấp THPT là có bằng tốt nghiệp Đại học sư phạm hoặc có bằng tốt

nghiệp đại học phù hợp với môn học phổ thông và có chứng chỉ nghiệp vụ sư

phạm theo cấp học tương ứng. Ngoài ra với các trường THPT NCL, Thông tư

13/2011 của Bộ GD&ĐT còn quy định thêm về giáo viên cơ hữu là không

phải công chức, viên chức nhà nước. Do vậy mà các trường NCL việc có đủ

đội ngũ giáo viên cơ hữu là vấn đề hết sức cố gắng và vận dụng để đảm bảo

các quy định, từ đó vấn đề chất lượng giáo viên còn một số bất cập. Bởi vậy

cần có biện pháp quản lý để đảm bảo thực hiện đúng các quy định, nhưng

đồng thời cũng tạo điều kiện bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo



70



viên để chất lượng đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL ngày càng đảm

bảo được công tác giảng dạy cũng như cập nhật được sự đổi mới trong giáo

dục, hơn thế là góp phần cùng ngành giáo dục sẵn sàng đón nhận những thách

thức mới trong thời kì hội nhập quốc tế về giáo dục.

3.3.4. Về tính ổn định

Một đặc thù của các trường THPT NCL về đội ngũ giáo viên đó là tính

không ổn định đối với giáo viên thỉnh giảng và đôi khi ngay cả với giáo viên

cơ hữu, bởi vì các nhà trường phụ thuộc khá nhiều vào khả năng thích ứng về

thời gian của giáo viên thỉnh giảng. Nên khi ba mục tiêu trên đều đảm bảo với

giáo viên cơ hữu sẽ là cơ sở để tạo ra tính ổn định tương đối cao về việc đảm

bảo đội ngũ giáo viên trong các nhà trường THPT NCL.

3.4 Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trƣờng THPT NCL thành

phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay

3.4.1. Xây dựng hệ thống văn bản về quản lý đội ngũ CBQL, giáo viên của

các trường THPT NCL

3.4.1.1. Ý nghĩa của biện pháp

Để có căn cứ thực hiện việc bảo đảm về đội ngũ CBQL, giáo viên các

trường THPT NCL trên cơ sở đó bảo đảm các hoạt động giáo dục trong nhà

trường, từ đó bảo đảm chất lượng giáo dục của nhà trường, cần có các văn

bản quy định, chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện đảm bảo công tác quản lý đội

ngũ CBQL, giáo viên trong các trường THPT NCL.

- Đối với Sở GD&DDT, hệ thống văn bản pháp quy là để chỉ đạo, triển

khai thực hiện xuống các nhà trường. Đồng thời là căn cứ để kiểm tra, đánh

giá việc thực hiện các nội dung công tác;

- Đối với các trường, hệ thống văn bản là căn cứ, hướng dẫn để nhà

trường biết và thực hiện theo một quy định chung.

3.4.1.2. Nội dung biện pháp

- Cập nhật kịp thời các văn bản pháp quy của Chính phủ, Bộ GD&ĐT

và các Bộ, Ban ngành có liên quan;

71



- Tham mưu với UBND Thành phố để ra các văn bản nhằm bảo đảm

hoạt động các trường THPT NCL trong hoạt động chung của Ngành GD&ĐT

Thành phố;

- Sở GD&ĐT ra các văn bản chỉ đạo có tính định kỳ (đối với các hoạt

động thường niên), kịp thời (đối với các trường hợp đột xuất) để các trường

có cơ sở thực hiện nhiệm vụ giáo dục, trong đó có nội dung đảm bảo đội ngũ

CBQL, giáo viên theo quy định chung.

3.4.1.3. Tổ chức thực hiện biện pháp

- Đối với Sở GD&ĐT

+ Thường xuyên nắm bắt các văn bản pháp quy mới ra, kịp thời thông

tin đến các trường thông qua trang Web của Sở GD&ĐT;

+ Đối với các văn bản mới, cần sự chỉ đạo của UBND Thành phố thì

Sở GD&ĐT tham mưu với UBND Thành phố để kịp thời có văn bản chỉ

đạo thực hiện;

+ Mỗi năm học theo định kỳ Sở GD&ĐT có các văn bản chỉ đạo thực

hiện nhiệm vụ năm học và thống kê số liệu định kỳ theo quy định chung.

- Đối với các trường THPT NCL

+ Kịp thời nắm bắt các văn bản pháp quy mới được ban hành để có căn

cứ thực hiện công tác giáo dục trong nhà trường;

+ Nghiêm túc triển khai thực hiện các văn bản của Sở GD&ĐT yêu

cầu, đảm bảo các nội dung đề ra

3.4.2. Đổi mới công tác quản lý hồ sơ đội ngũ giáo viên trong các trường

THPT NCL

3.4.2.1. Ý nghĩa của biện pháp

Theo quy định về quản lý nhân sự trong các cơ quan sự nghiệp thuộc

Nhà nước nói chung và trong các nhà trường công lập nói riêng đã được quy

định cụ thể bằng các văn bản của Bộ Nội vụ và Bộ GD&ĐT, nhưng với các

trường NCL nói chung và trường THPT NCL nói riêng thì việc quản lý hồ sơ

72



nhân sự còn nhiều điều bất cập. Từ các kết quả khảo sát nhận thấy công tác

hồ sơ về đội ngũ giáo viên của các trường THPT NCL còn một số tồn tại

như sau:

- Từ phía các cơ quan quản lý lâu nay cũng chưa đặt thành các yêu cầu

đầy đủ như công lập;

- Từ phía các nhà trường thì việc xây dựng và quản lý hồ sơ còn sơ sài;

- Từ phía bản thân giáo viên cơ hữu cũng như thỉnh giảng cũng không

tích cực trong việc cung cấp hay đòi hỏi việc lập hồ sơ, quản lý hồ sơ của cá

nhân họ trong quá trình làm việc tại trường NCL bởi nhiều lẽ khác nhau.

Bởi vậy khi xác lập lại một cách khoa học, hệ thống các hồ sơ nhân sự

của đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL trên toàn thành phố Hà Nội sẽ

tạo sự thống nhất trong công tác quản lý từ các nhà quản lý giáo dục địa

phương mà ở đây là Sở GD&ĐT Hà Nội, lãnh đạo các trường THPT NCL, là

HĐQT hoặc BGH của nhà trường và các giáo viên tham gia giảng dạy tại các

trường THPT NCL.

Đồng thời lãnh đạo các đơn vị hiện đang quản lý các giáo viên thỉnh

giảng cũng sẽ góp phần vào việc quản lý đội ngũ thỉnh giảng sao cho các giáo

viên thỉnh giảng vẫn đảm bảo các công tác tại cơ quan nhà nước, nhưng vẫn

được tạo điều kiện góp thêm năng lực và thời gian của mình vào công cuộc

giáo dục của thành phố.

3.4.2.2. Nội dung của biện pháp

a. Đối với Sở GD&ĐT.

- Xây dựng hệ thống các thành phần Hồ sơ, gồm:

+ Lý lịch cá nhân đối với giáo viên cơ hữu và do địa phương nới cư

trú xác nhận; Lý lịch khoa học đối với giáo viên thỉnh giảng và do cơ quan

công tác hiện nay của giáo viên đó xác nhận; (theo mẫu hiện hành)

+ Văn bằng, chứng chỉ chuyên môn; (Bản sao công chứng)



73



+ Hợp đồng lao động đối với cả giáo viên cơ hữu và giáo viên thỉnh

giảng; (Theo quy định của Bộ Lao động thương binh và Xã hội)

+ Sổ Bảo hiểm xã hội đối với giáo viên cơ hữu hoặc Bản sao công

chứng Sổ hưu đối với giáo viên cơ hữu là những công chức, viên chức nhà

nước đã nghỉ hưu;

+ Túi đựng Hồ sơ. (Theo mẫu chung)

- Xây dựng mẫu biểu thống kê về thông tin nhân sự và quản lý thông

qua số liệu báo cáo thống kê từng giai đoạn trong năm học (Đầu năm học,

giữa học kì một, cuối học kì một, giữa học kì hai) trên cơ sở đảm bảo quản lý

về số lượng, tỉ lệ, cơ cấu và trình độ chuyên môn.

- Kiểm tra định kì công tác quản lý hồ sơ nhân sự của các trường THPT

NCL, trên cơ sở kết quả kiểm tra có những kiến nghị với nhà trường về công

tác quản lý hồ sơ nhân sự và hình thức xử lý với những trường hợp thực hiện

không đúng quy định chung hoặc cố tình làm sai số liệu để hợp lý hoá các

điều kiện đối với giáo viên.

b. Đối với các trường THPT NCL.

- Có trách nhiệm lập hồ sơ nhân sự của giáo viên cơ hữu và thỉnh giảng theo

quy định chung của Sở GD&ĐT và quản lý hồ sơ theo đúng quy định lưu trữ;

- Có trách nhiệm báo cáo thống kê nhân sự định kì theo quy định chung

của Sở đúng hạn và đủ nội dung (Theo mẫu do Sở GD&ĐT xây dựng).

c. Đối với giáo viên.

- Có trách nhiệm thực hiện và cung cấp đầy đủ các quy định về Hồ sơ

nhân sự theo quy định chung do Sở GD&ĐT xây dựng khi được nhà trường

nơi tham gia giảng dạy yêu cầu;

- Khi không tiếp tục tham gia giảng dạy tại nhà trường, phải có trách

nhiệm rút hồ sơ ra khỏi hệ thống quản lý nhân sự của nhà trường để tránh

trường hợp các báo cáo thông kê nhân sự của nhà trường không đúng với

thực tế.

74



3.4.2.3. Tổ chức thực hiện biện pháp

a. Đối với Sở GD&ĐT.

- Xây dựng thành phần hồ sơ, mẫu báo cáo thống kê;

- Trước khi vào năm học mới có văn bản hướng dẫn, nhắc nhở việc

thực hiện quy định về nội dung đội ngũ giáo viên để đảm bảo công tác giảng

dạy theo đúng các quy định hiện hành;

- Sở sẽ tổ chức kiểm tra định kì việc thực hiện lập hồ sơ giáo viên và

lưu trữ hồ sơ, trên cơ sở đó đánh giá được việc thực hiện nghiêm túc các quy

định về công tác quản lý của nhà trường, tuyển dụng giáo viên của nhà

trường, đảm bảo việc duy trì số lượng; cơ cấu; tỉ lệ của đội ngũ giáo viên theo

quy định của ngành, việc thực hiện nghiêm túc các quy định về hợp đồng lao

động với giáo viên, việc thực hiện chế độ chính sách của nhà trường đối với

giáo viên đang giảng dạy tại. Các vi phạm đều được xử lý và công khai trên

các phương tiện công khai của Sở GD&ĐT.

b. Đối với nhà trường và giáo viên.

- Hàng năm, trên cơ sở số lớp được giao và chọn ban học, nhà trường

lập kế hoạch sử dụng giáo viên cho các vị trí công tác. Rà soát đội ngũ giáo

viên hiện đang tham gia giảng dạy tại trường và có điều chỉnh bổ sung theo

thực tế nhu cầu sử dụng ngay sau khi kết thúc công tác tuyển sinh;

- Các giáo viên được mời tham gia giảng dạy và nhà trường lập hồ sơ

giáo viên và lưu giữ tại trường theo đúng quy định lưu trữ;

- Báo cáo thống kê nhân sự về Sở GD&ĐT theo mẫu chung trước khi

vào năm học mới; (báo cáo đầu năm học vào tháng 8 hàng năm)

- Nhà trường rà soát, điều chỉnh, bổ sung hồ sơ khi có sự thay đổi giáo

viên theo 4 kì trong năm: Đầu năm học; Giữa học kì một; Cuối học kì một;

giữa học kì hai.



75



3.4.3 Tăng cường hệ thống báo cáo thống kê định kì và ứng dụng công

nghệ thông tin trong quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL

3.4.3.1. Ý nghĩa của biện pháp

Trong công tác quản lý hành chính, Các báo cáo thống kê là một khâu

quan trọng trong quy trình thực hiện vì đó là sự lượng hoá các yêu cầu của cơ

quan quản lý và cũng là thông tin cơ bản, cốt yếu trong nội dung hoạt động

của đơn vị. Đồng thời đó cũng là một kênh thông tin, là cơ sở để cơ quan

quản lý giám sát, thanh tra, kiểm tra và đánh giá về nội dung đã thể hiện trong

báo cáo thống kê đó.

Đối với các báo cáo thống kê về đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL

ở đây cũng không nằm ngoài các ý nghĩa trên về phương diện quản lý, đồng thời

nó còn có nhiều ý nghĩa hơn với tình hình hiện nay của các trường NCL trên địa

bàn thành phố Hà Nội. Bởi tại Hà Nội hiện nay có 102 trường THPT NCL, trong

đó có 92 trường đang hoạt động mà tập trung tại các quận nội thành, nên việc

một giáo viên thỉnh giảng có thể tham gia giảng dạy tại nhiều trường và không

loại trừ nhũng trường hợp các trường do sức ép về tỉ lệ giáo viên cơ hữu theo

quy định mà đưa vào danh sách những giáo viên cơ hữu đã là cơ hữu ở những

trường khác. Từ đó tạo ra sự sai lệch trong thông tin, không đảm sự tuân thủ theo

các quy định và đặc biệt hơn là dễ tạo ra sự không ổn định giảng dạy khi có sự

thay đổi thời gian biểu làm việc dẫn đến cùng một lúc sẽ gây khó khăn trong

công tác giảng dạy - học tập tại nhiều trường. Điều này sẽ ảnh hưởng nhiều đến

chất lượng dạy và học ở các nhà trường. Bởi vậy việc báo cáo thống kê giúp cơ

quan quản lý có số liệu tổng thể và có ý kiến chỉ đạo kịp thời trước các tình

huống có thể xảy ra do việc không đảm bảo các quy định về đội ngũ. Bản thân

các nhà trường cũng sẽ thấy đây là một quy định buộc nhà trường nên phải cân

nhắc trong việc sử dụng và thống kê đội ngũ, tránh trường hợp các trường do

muốn tạo ra thương hiệu cho đơn vị thường dẫn chứng các giáo viên có uy tín

nhưng trên thực tế không diễn ra như vậy.

76



Đồng thời trên cơ sở số liệu tổng hợp đội ngũ giáo viên của tất cả các

trường THPT NCL cả cơ hữu và thỉnh giảng, bằng công nghệ thông tin Sở

GD&ĐT có thể rà soát được rõ đội ngũ giáo viên cơ hữu có đảm bảo tính sát

thực giữa các nhà trường hoặc có thể kiểm soát được giáo viên thỉnh giảng

hiện đang công tác tại trường THPT công lập thành phố Hà Nội để phục vụ

công tác đánh giá giáo viên toàn ngành.

3.4.3.2. Nội dung của biện pháp

- Về nội dung cần thống kê: Đảm bảo các thông tin cá nhân cần thiết

nhất như: Họ tên – Ngày sinh - Giới tính; thông tin về chuyên môn nghiệp vụ:

Trình độ chuyên môn đào tạo - Trình độ nghiệp vụ sư phạm; thông tin về

công tác: Giáo viên cơ hữu/Giáo viên thỉnh giảng – Nơi công tác hiện nay

(đối với GV thỉnh giảng)/Số sổ BHXH - Số sổ hưu trí (đối với GV cơ hữu) .

- Về quy định chế độ thống kê báo cáo:

+ Đối với Sở GD&ĐT tập hợp hệ thống email của các trường THPT

NCL để tạo ra kênh thông tin liên kết thường xuyên, kịp thời và hiệu quả giữa

Sở GD&ĐT với các trường THPT NCL; Theo định kì có văn bản đề nghị các

trường THPT NCL báo cáo thống kê theo mẫu dựng sẵn để các trường nhập

sỗ liệu và gửi về Sở đúng nội dung, đúng thời gian và có chất lượng cao.

+ Đối với trường THPT NCL thống kê nhân sự theo mẫu của Sở (trên

file mẫu do Sở gửi về qua email) và đảm bảo chất lượng nội dung thống kê và

gửi về Sở đúng thời hạn.

+ Sở GD&ĐT nhận số liệu thống kê, ghép nối thông tin, lưu trữ thông

tin và xử lý thông tin để có thể chia sẻ thông tin tới các bộ phận quản lý có

liên quan: Phòng Tổ chức cán bộ; Phòng Giáo dục Trung học; Phòng Kế

hoạch – Tài chính; Phòng Thanh tra…

3.4.3.3 Tổ chức thực hiện, biện pháp

- Sở GD&ĐT tập hợp thành hệ thống email các trường THPT NCL để

tạo sự liên kết tính thường xuyên, kịp thời hiệu quả (cần được các phòng ban

77



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

×