1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 108 trang )


- Đào tạo nguồn nhân lực đại học, sau đại học, bồi dưỡng nhân tài thuộc lĩnh

vực khoa học, công nghệ;

- Nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ đáp ứng nhu cầu

phát triển kinh tế – xã hội.

Đặc trưng cơ bản và điển hình nhất về sứ mạng của Trường Đại học

Công nghệ là “đào tạo và bồi dưỡng nhân tài”.

Trên cơ sở các thành tựu đạt được qua quá trình phát triển Khoa Công

nghệ, Trường Đại học Công nghệ nhất quán mục tiêu xây dựng một trường đại

học định hướng nghiên cứu, từng bước đưa trình độ dạy – học, nghiên cứu

khoa học và triển khai công nghệ tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực. Các

giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên cơ hữu (cả về số lượng và chất

lượng) hướng tới trình độ quốc tế, các giải pháp liên kết Trường – Viện – Cơ

sở công nghiệp được đặc biệt chú trọng. Đây là những giải pháp thực hiện chủ

trương của nhà nước ta thể hiện qua ý kiến phát biểu tại Hội nghị Giáo dục đại

học toàn quốc từ ngày 01 đến ngày 03 thán 10 năm 2001 của Thủ tướng Phan

Văn Khải: “Để bổ sung nguồn lực giảng dạy đại học trong nước, cần tận dụng

đội ngũ cán bộ ở các viện và trung tâm nghiên cứu. Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường, các Trung tâm Khoa học Tự nhiên

và Công nghệ Quốc gia, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia

cùng các Bộ có liên quan cần bàn bạc để trước mắt có thể huy động đội ngũ

cán bộ nghiên cứu tham gia giảng dạy đại học và tiến tới có sư kết hợp về mặt

tổ chức, sao cho công tác đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học gắn bó chặt

chẽ với nhau”[7].

Bằng việc tổ chức các khoa với sự tham gia của các viện nghiên cứu

thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Trường Đại học

Công nghệ là một trong những đơn vị đi đầu ngành đại học cả nước, trong việc

thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc kết hợp giữa trường đại

học và viện nghiên cứu. Trong những năm qua nhà trường huy động được

nguồn lực con người, vật chất kỹ thuật trình độ cao từ các viện cho hoạt động

34



dạy – học và nghiên cứu khoa học rất hiệu quả. Nhà trường xác định mối liên

kết hiệu quả mang tính chiến lược và bền vững này là một trong những giải

pháp “đi tắt, đón đầu” để nhanh chóng tiếp cận được trình độ tiên tiến trong

khu vực, từng bước tiếp cận trình độ quốc tế.

2.1.1. Đặc điểm Trường Đại học Công nghệ

Trường Đại học Công nghệ được Chính phủ thành lập ngày 25/5/2004 là

một trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, một trung tâm

đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng Khoa học – Công nghệ

đa ngành đa lĩnh vực chất lượng cao của Việt Nam, được thành lập theo một

mô hình mới, ưu tiên đầu tư về cán bộ, tài chính, cơ sở vật chất, có quyền chủ

động cao trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu Khoa học – công nghệ, tài

chính, quan hệ quốc tế và tổ chức bộ máy.

Trường Đại học Công nghệ có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trình

độ đại học, sau đại học chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu và triển

khai ứng dụng một số lĩnh vực khoa học, công nghệ mũi nhọn và ưu tiên của

Nhà nước.

Trường Đại học Công nghệ đã và đang xây dựng mô hình liên kết đào

tạo và nghiên cứu khoa học với các viện nghiên cứu, đang được Đại học Quốc

gia Hà Nội, Bộ Giáo dục - Đào tạo và Nhà nước khuyến khích xây dựng mô

hình cán bộ giảng dạy kiêm nhiệm áp dụng đối với các nhà khoa học trong và

ngoài nước, đặc biệt là đối với các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài.

Sau giai đoạn xây dựng và phát triển khoa Công nghệ, Trường Đại học

Công nghệ hiện nay là một trong các đơn vị được Bộ GD-ĐT chọn làm đơn vị

trọng điểm đào tạo công nghệ thông tin và là một trong số rất ít cơ sở trong cả

nước sớm tiếp cận và tổ chức đào tạo, nghiên cứu lĩnh vực khoa học và công

nghệ nanô. Phát triển nhảy vọt và mạnh mẽ về KH- CN, phát triển kinh tế tri

thức toàn cầu đã tạo ra nhu cầu, cơ hội và điều kiện để phát triển giáo dục đại

học cả về quy mô và chất lượng. Toàn cầu hóa, hội nhâp quốc tế tạo điều kiện

hợp tác để học tập, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao và tiếp nhận công nghệ

35



đào tạo tiên tiến. Sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và truyền thông

tạo điều kiện rất thuận lợi về thông tin phục vụ dạy, học và nghiên cứu. Đây là

một thế mạnh đồng thời là trách nhiệm vinh dự và nặng nề mà Đảng và Nhà

nước giao cho trường Đại học Côngnghệ.

Bên cạnh những thuận lợi và thời cơ trên những khó khăn thách thức

cũng không nhỏ đó là:

- Kinh nghiệm và thành tích nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu công

nghệ và khoa học ứng dụng còn khiêm tốn; tỉ lệ đề tài khoa học và các công

trình khoa học được công bố còn thấp.

- Tỷ lệ giảng viên/sinh viên còn thấp 1/16,5; đặc biệt tỷ lệ giáo sư, phó giáo

sư/sinh viên còn rất thấp.

- Khả năng về trình độ ngoại ngữ để hội nhập trao đổi, quốc tế của một số

đông cán bộ giảng dạy còn hạn chế.

2.1.2. Mô hình tổ chức bộ máy trường Đại học Công nghệ

2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức của trường



TRƯỜNG ĐẠI HỌC

CÔNG NGHỆ



Hội đồng



BAN GIÁM HIỆU



Khoa học và Đào tạo



Các đơn vị đào tạo

(Khoa, Văn phòng liên

kết đào tạo quốc tế)



Các đơn vị NCKH

(Trung tâm NCKH, PTN

trọng điểm)



Các khoa:

- Khoa Công nghệ Thông tin

- Khoa Điện tử – Viễn thông

36



Các phòng chức

năng, đơn vị phụcvụ



Các PTN, Bộ môn phối

thuộc trường tại các viện

NC và các sở công

nghiệp



- Khoa Vật lý Kỹ thuật và Công nghệ Nanô

- Khoa Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa.

Các Trung tâm nghiên cứu và các Phòng thí nghiệm trọng điểm

- Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm

- Trung tâm Nghiên cứu Điện tử – Viễn thông

- Trung tâm Mạng và e-Learning (Trung tâm Máy tính)

- Phòng thí nghiệm các Hệ thống Tích hợp Thông minh

- Phòng thí nghiệm Công nghệ Micro và Nano

2.1.2.2. Hệ thống đào tạo

a) Bậc và loại hình đào tạo

- Bậc đào tạo: Tiến sĩ , thạc sĩ, cử nhân, kỹ sư

- Loại hình đào tạo đại học: chính quy, tại chức, chuyên tu, văn bằng hai và

liên kết đào tạo quốc tế.

- Loại hình đào tạo sau đại học: tập trung, không tập trung, liên kết đào tạo

quốc tế.

b) Chương trình đào tạo

- Các loại chương trình đào tạo bậc đại học: chuẩn, chất lượng cao, quốc tế.

- Các chương trình đào tạo bậc sau đại học: thạc sĩ định hướng nghiên cứu,

thạc sĩ phối hợp/ tiến sĩ phối hợp, tiến sĩ.

c) Quy mô đào tạo.

- Đại học chính quy:



2.240 sinh viên



- Đại học không chính quy:



2.036 sinh viên



- Cao học:



636 học viên



- Nghiên cứu sinh:



37



- Liên kết quốc tế:



17



2.1.2.3. Hệ thống nghiên cứu khoa học – công nghệ

Cơ cấu tổ chức hoạt động khoa học – công nghệ (KH-CN) ở trường ĐHCN

gồm:



37



- Các trung tâm nghiên cứu khoa học, các phòng thí nghiệm (PTN) trọng điểm,

Chương trình nghiên cứu và triển khai công nghệ trực thuộc trường; PTN,

PTN vệ tinh trực thuộc Trung tâm, trực thuộc PTN trọng điểm.

- Khoa, bộ môn – PTN trực thuộc khoa, bộ môn.

- Khoa, bộ môn phối thuộc với các viên nghiên cứu và các tập đoàn sản xuất.

Trường Đại học Công nghệ đang từng bước đổi mới cơ chế quản lý theo định

hướng đại học nghiên cứu, gắn kết chặt chẽ các hoạt động KH-CN với đào tạo,

đặc biệt là đào tạo sau đại học, gắn kết nghiên cứu khoa học với phục vụ thực

tiễn.

2.1.2.4. Nguồn lực: đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, các nguồn kinh phí

- Đội ngũ cán bộ: Tính đến ngày 8/2007, tổng số cán bộ, viên chức cơ hữu là

140 người, trong đó cán bộ giảng dạy có: 90

- Trong số 90 này có: Giáo sư tiến sĩ khoa học: 02, Phó giáo sư tiến sĩ: 13,

Tiến sĩ 32; Thạc si 27, Đại học 16. Tỷ lệ cán bộ giảng dạy cơ hữu có trình độ

trên đại học hiện tại chiếm 82,22%. Trong mô hình mở của Đại học Quốc gia

Hà Nội, hàng năm có khoảng 60 cán bộ giảng dạy từ các trường đại học thành

viên, các khoa trực thuộc tham gia giảng dạy các môn học cơ bản thuộc khối

kiến thức chung cho sinh viên các ngành của trường. Ngoài ra, trường còn có

đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm từ các viện nghiên cứu khoảng 40 người có trình

độ tiến sĩ trở lên, hợp đồng giảng dạy với trường và đông đảo đội ngũ hợp

đồng tạo nguồn tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

- Cơ sở vật chất: hiện nay Đại học Công nghệ có tổng diện tích sử dụng mặt

bằng là 4.320m2 tại 144 Xuân Thủy, ngoài ra tại khu vực Hòa Lạc, trường Đại

học Công nghệ đang được khẩn trương thiết kế, xây dựng cơ sở mới, hiện đại

trên diện tích 130 ha. Dự kiến đến năm 2010 một bộ phận của nhà trường sẽ di

chuyển lên cơ sở này làm việc.

- Các nguồn kinh phí: Trường Đại học Công nghệ có các nguồn thu sau đây:

1. Nguồn từ ngân sách nhà nước cấp bao gồm kinh phí sự nghiệp giáo

dục và đào tạo, kinh phí sự nghiệp KHCN (chiếm khoảng 70% tổng kinh phí

38



hoạt động thường xuyên), vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung và các chương

trình mục tiêu quốc gia.

2. Nguồn thu sự nghiệp từ học phí, lệ phí, dịch vụ (dịch vụ đào tạo…),

sản xuất thử – thử nghiệm, dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ…(chiếm

khoảng 29% tổng kinh phí hoạt động thường xuyên).

3. Nguồn thu từ tài trợ, viện trợ, quà tặng của các tổ chức và cá nhân

(chiếm khoảng 1% tổng kinh phí hoạt động thường xuyên).

2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên Trƣờng Đại học Công nghệ

2.2.1. Về số lượng

Mặc dù trường Đại học Công nghệ mới được thành lập nhưng số lượng

giảng viên ở các khoa giảng dạy đã dần được tăng cường về số lượng, đảm bảo

về chất lượng đáp ứng nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

So với tính toán biên chế đội ngũ giảng viên hiện có tại trường là: 90.

Số lượng giảng viên thiếu hụt được thể hiện cụ thể như sau:



Bảng 1: Cơ cấu Đội ngũ giảng viên trƣờng ĐHCN

STT



Số giảng viên

Đơn vi (Khoa)



Nhu cầu



Hiện có



Thiếu



1



Khoa CNTT



57



47



10



2



Khoa ĐTVT



37



31



6



3



Khoa VLKT&CNNN



13



9



4



4



Khoa CHKT&TĐH



6



3



3



113



90



23



Cộng



(Nguồn: Phòng Tổ chức cán bộ – trường Đại học Công nghệ)

Phân tích số liệu thống kê ở Bảng 1 cho thấy:

Số lượng giảng viên hiện có ở tất cả các Khoa đều thiếu hụt so với số

giảng viên cần phải có để đảm nhiệm khối lượng công việc. Tổng số giảng



39



viên hiện có là 90, Trong đó có 13 giảng viên (chiếm 14,44%) hiện đang cử đi

đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại nước ngoài. Căn cứ vào số giờ thực mà đội ngũ

giảng viên của trường phải đảm nhiệm thì số giảng viên cần phải có là 113,

như vậy còn thiếu 23 người (chiếm 20,35%), trong thời gian tới trường cần

phải có kế hoạch tuyển dụng bổ sung để vừa đảm bảo đủ về số lượng vừa tính

đến số giảng viên hiện đã gần đủ tuổi để nghỉ hưu (nam 60; nữ 55), dù đã có

chính sách đối với giáo sư, phó giáo sư đã được Đại học Quốc gia đồng ý cho

kéo dài thời gian công tác từ 01 năm đến không quá 05 năm nhưng số lượng

cần bổ sung vẫn là 23 người. Bên cạnh đó có thể chuyển hẳn một số cán bộ ở

ngạch giảng viên sang ngạch khác vì không đủ điều kiện tiếp tục làm công tác

giảng dạy, đồng thời có thể chuyển một số cán bộ hiện đang ở ngạch khác sang

ngạch giảng viên nếu có đủ điều kiện và tiêu chuẩn theo yêu cầu của ngạch

giảng viên.



Biểu đồ 1: Thống kê số lƣợng giảng viên trƣờng ĐHCN

60

50

40

Ph¶I cã

30



HiÖn cã

ThiÕu



20

10

0

K.CNTT



K. DTVT



K. VLKT



K.CHKT



Để khắc phục sự thiếu hụt về đội ngũ giảng viên nhà trường đã chọn

giải pháp là áp dụng mô hình ký hợp đồng giảng dạy kiêm nhiệm với các nhà

khoa học có trình độ cao, hiện đang công tác tại các trường đại học, các viện

nghiên cứu và hợp đồng giảng dạy đối với đội ngũ cán bộ tạo nguồn (gồm các



40



tiến sĩ, thạc sĩ đã đào trong và ngoài nước có nhu cầu về trường làm công tác

giảng dạy tại các khoa, các sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, loại giỏi của

trường được giữ lại để tiếp tục đào tạo sau đại học), đặc biệt là đối với các nhà

khoa học Việt Nam đã có thời gian dài làm việc ở nước ngoài có tâm huyết và

nhu cầu về nước làm việc, các cán bộ có trình độ cao đã nghỉ hưu tham gia

công tác giảng dạy của nhà trường.

Bảng 2: Số lƣợng Hợp đồng kiêm nhiệm và Hợp đồng tạo nguồn

Tổng số

cán bộ

HĐ GD

34



Hợp đồng

kiêm

nhiệm

01



Hợp

đồng tạo

nguồn

12



1



K. CNTT



Tổng số

cán bộ cơ

hữu

47



2



K. ĐTVT



31



07



03



04



3



K. VLKT&CNNN



09



24



22



02



4



K. CHKT&TĐH



03



14



14



00



90



58



40



18



STT



Khoa



Cộng



(Nguồn: Phòng Tổ chức cán bộ)

Thống kê cán bộ hợp đồng giảng dạy tại Bảng 2 của trường cho thấy: sự

chênh lệch giữa số cán bộ cơ hữu với số cán bộ hợp đồng là rất lớn và số hợp

đồng kiêm nhiệm, hợp đồng tạo nguồn giữa các khoa cũng vậy.

Khoa Công nghệ thông tin và khoa Điện tử Viễn thông là hai khoa có số

đông cán bộ ngay từ khi mới thành lập trường (khoa CNTT là 30 người), (khoa

ĐTVT là 17 người) trong khi đó, khi mới thành lập trường Khoa Vật lý Kỹ

thuật & Công nghệ nanô có 04 người và khoa Cơ học kỹ thuật &Tự động hóa

có 01 người. Hơn nữa hai lĩnh vực công nghệ trên đặc biệt là công nghệ thông

tin hiện nay đang phát triển rất nhanh đòi hỏi phải cập nhật tri thức mới thường

xuyên, điều này đối với những cán bộ công tác nhiều năm càng lớn tuổi thì

càng gặp khó khăn, do vậy số lượng hợp đồng kiêm nhiệm ở hai khoa này ít

cũng là điều dễ hiểu.



41



Đối với Khoa Vật lý Kỹ thuật & Công nghệ nanô và Khoa Cơ học kỹ

thuật &Tự động hóa ngay từ khi mới thành lập trường, 2 khoa này mới được

đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển, nên chủ trương của nhà trường

là mời các cán bộ có trình độ cao từ các viện nghiên cứu (chủ yếu là Viện

Khoa học và Công nghệ Việt Nam) sang xây dựng khung chương trình và

chương trình chi tiết cho các ngành học, môn học mới và tham gia giảng dạy

với các môn học này với số lượng mỗi khoa 01 lớp, mỗi lớp khoảng 50 sinh

viên.

Cho đến nay, số lượng cán bộ cơ hữu của 2 khoa này đã từng bước được

tăng cường bằng nhiều nguồn khác nhau. Chủ yếu là cán bộ giảng dạy có trình

độ từ tiến sĩ trở lên được chuyển công tác từ các viện về trường. Tuy nhiên để

đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy, nhà trường tiếp tục chủ trương mời

các nhà khoa học có trình độ cao về lĩnh vực trên tham gia giảng dạy kiêm

nhiệm hoặc mời một số cán bộ tâm huyết với công tác giảng dạy- đào tạo

chuyển hẳn công tác về trường. Bên cạnh đó nhà trường vẫn có chủ trương

“chiêu hiền đãi sĩ” từ các cơ sở đào tạo chất lượng cao, các cán bộ được đào

tạo cơ bản, chuyên sâu về các lĩnh vực mà hiện nay nhà trường đang cần từ

nước ngoài về đồng thời sớm có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế

cận, cán bộ nguồn (chọn từ những sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc và loại

giỏi) để tiếp tục bổ sung cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, không những của hai

khoa mới mà cho tất cả các khoa trong trường.

Biểu đồ 2: Số lƣợng GV kiêm nhiệm và GV tạo nguồn



42



50

40

30



CBCH



20



HDKN

HDTN



10

0

K. CNTT



K.DTVT



K. VLKT



K. CHKT



Theo Quyết định số 1712/QĐ-BĐH ngày 18/12/1978 của Bộ trưởng Bộ

Đại học và Trung học chuyên nghiệp quy định về chế độ làm việc của cán bộ

giảng dạy đại học, cụ thể:

Giáo sư – Giảng viên cao cấp



290 - 310 giờ chuẩn



Phó giáo sư - giảng viên chính:



270 – 290 giờ chuẩn



Giảng viên:



260 – 280 giờ chuẩn



Căn cứ quy định trên so sánh với bảng thống kê số giờ mà trường Đại

học Công nghệ phải giảng có thể thấy cường độ lao động thực tế của Đội ngũ

giảng viên trường Đại học Công nghệ là trong tình trạng quá tải về khối lượng

giờ giảng (chiếm 20,96%) trong đó chưa kể đến số giờ phải giảng dạy của các

cán bộ được cử đi đào tạo ở nước ngoài (14 người) và số giờ của những cán bộ

ở ngạch giảng viên chính nhưng không tham gia giảng dạy hoặc giảng dạy rất

ít vì được điều động làm quản lý ở các phòng, ban. Đây là một áp lực lớn đối

với ĐNGV đồng thời cũng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của mỗi giảng

viên.

Hiện nay trường Đại học Công nghệ đang phấn đấu xây dựng thành một

trường chuẩn quốc gia, từng bước ngang tầm khu vực và quốc tế, với quy mô

đào tạo ngày càng tăng, số lượng cán bộ cử đi đào tạo, trao đổi hợp tác và

nghiên cứu khoa học ở nước ngoài nhiều. Vì vậy số giảng viên tuy tăng song

vẫn không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, dẫn đến tình trạng quá tải đối

với đội ngũ giảng viên của trường. Hơn nữa, với mục tiêu xây dựng đội ngũ



43



cán bộ giảng viên không những đủ về số lượng mà đảm bảo chất lượng được

đặt lên hàng đầu, nên trong những năm qua trường Đại học Công nghệ tuyển

giảng viên chủ yếu là từ trình độ tiến sĩ. Những giảng viên có trình độ thạc sĩ

nằm trong kế hoạch đào tạo trình độ tiến sĩ, cộng với số cán bộ đã tuyển cũ,

còn trẻ nay được cử đi đào tạo chiếm 34,44%.

Bảng 3: Thống kê số giờ giảng năm học 2006 – 2007

Tổng số giờ giảng

STT



Khoa

Số giờ thực



Nghĩa vụ



Vượt



1



K. CNTT



15.675



12.690



2.985



2



K. ĐT-VT



9.990



8.370



1.628



3



K. VLKT&CNNN



3.510



2.430



1.072



4



K. CHKT&TĐH



1.620



810



810



30.975



24.300



6.495



Cộng



(Nguồn: Phòng Đào tạo Đại học)

Số liệu ở Bảng 3 cho thấy số giờ thực tế đều vượt giờ định mức. Tổng

số giờ vượt là: 6.495 giờ (chiếm 20,96%).

Số liệu trên cho thấy đội ngũ giảng viên của trường Đại học Công nghệ

chưa đủ về số lượng, vì vậy cường độ lao động luôn luôn cao, vượt chuẩn quy

định. Điều này đồng nghĩa với việc không có thời gian dành cho nghiên cứu

khoa học và khó thực hiện được chủ trương của nhà trường là “cứ 2 năm được

nghỉ giảng dạy một học kỳ để đi nghiên cứu, trao đổi”theo Kế hoạch chiến

lược phát triển trường Đại học Công nghệ.

Các biểu thống kê giờ giảng của giảng viên cũng cho thấy: hầu hết số

giảng viên chính đề vượt giờ định mức, có người vượt trên 30%. Thực tế này

dẫn đến một số giảng viên không có thời gian dành cho hoạt động tự học tập

nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tham gia các sinh hoạt xã hội

khác ngoài hoạt động giảng dạy. Từ đó ảnh hưởng không tốt tới chất lượng bài

giảng, trình độ đội ngũ giảng viên, chất lượng đào tạo của nhà trường.

44



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

×