1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 108 trang )


Căn cứ quyết định số 420/QĐ-NCKH ngày 28 tháng 6 năm 2007 của

hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ về việc ban hành “Kế hoạch chiến

lược phát triển Trường Đại học Công nghệ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm

2020”. Căn cứ vào quy mô đào tạo của trường, căn cứ vào số lượng đội ngũ

giảng viên hiện có, điều kiện cơ sở vật chất hiện tại, trường Đại học Công nghệ

định hướng phát triển và xác định nhu cầu phát triển đội ngũ giảng viên trên

các lĩnh vực sau:

Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đạt chất lượng quốc tế và bồi

dưỡng nhân tài trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ tiên tiến như công

nghệ thông tin và truyền thông, điện tử và tự động hóa, khoa học và công nghệ

nanô, công nghệ nanô sinh học, khoa học trí thức, hệ thống thông tin quản lý

và quản lý công nghệ…

Sáng tạo và chuyển giao những kết qủa sản phẩm KH- CN tiên tiến, có

giá trị tầm cỡ khu vực, quốc tế; tạo ra một số trường phái KH- CN mạnh.

Phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học đạt trình độ

quốc tế.

Hợp tác, liên kết với các cơ sở nghiên cứu khoa học, các tập đoàn công

nghệ cao có uy tín trong nước và quốc tế trong việc triển khai các hoạt động

đào tạo và nghiên cứu KH- CN, phát triển KH- CN đáp ứng các yêu cầu kinh

tế – xã hội của đất nước.

Phát triển trường Đại học Công nghệ trên cơ sở lấy CNTT và truyền

thông làm trung tâm, được công nghệ thông tin và truyền thông hỗ trợ, mở

rộng môi trường hoạt động và phát triển cho CNTT và truyền thông.

Đào tạo chất lượng cao dựa trên việc tích hợp giảng dạy với nghiên cứu

KH- CN trình độ cao. Phát triển, cung cấp các giải pháp công nghệ là ưu tiên

chiến lượng trong suốt quá trình phát triển trường Đại học Công nghệ.

Phát huy sức mạnh tổng hợp mọi nguồn lực, trong đó nội lực là chính và

ngoại lực là yếu tố quan trọng, gắn kết mật thiết, chặt chẽ với trường Đại học



68



Khoa học Tự nhiên và Viện CNTT trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội với

các viện nghiên cứu và các cơ sở sản xuất trong và ngoài nước.

Từng bước phát triển toàn diện, bền vững kết hợp ưu tiên đầu tư phát

triển các hướng trọng điểm, mũi nhọn nhằm nhanh chóng đạt trình độ khu vực,

quốc tế trên một số lĩnh vực, ngành chuyên ngành chọn lọc.

Với những lý do trên, tác giả thấy rằng để đạt mục tiêu đề ra, một trong

những việc đặc biệt quan trọng là xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển đội

ngũ giảng viên và thực hiện đồng bộ, triệt để kế hoạch đó. Đây là việc làm

quan trọng, cần thiết và không thể thiếu, làm tốt việc này là tạo điều kiện cho

Trường một đội ngũ giảng viên đủ cả về số lượng và đảm bảo về chất lượng,

đồng bộ về cơ cấu, trình độ và độ tuổi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo các

bậc học, loại hình đào tạo và chuyên ngành đào tạo đạt mục tiêu chiến lược

của Trường đã đề ra.

Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển đội ngũ giảng viên phải xuất phát

từ yêu cầu nhiệm vụ giáo dục - đào tạo và thực trạng đội ngũ giảng viên, đồng

thời thực hiện quy hoạch tổng thể với quy hoạch tạo nguồn, quy hoạch phát

triển đội ngũ cán bộ khoa học đầu đàn, đầu ngành những năm trước mắt cũng

như lâu dài.

Xác định tiêu chí của sự đồng bộ và hợp lý các loại giảng viên ở từng

khoa và toàn trường, đảm bảo cân đối giữa tuyển vào và chuyển ra, nghỉ hưu..

Xây dựng và thực hiện thống nhất quy trình đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng

và quản lý đảm bảo sự nhất quán, đồng bộ nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.

3.1.2. Nội dung kế hoạch

3.1.2.1. Kế hoạch phát triển về số lượng giảng viên.

Dự báo số lượng giảng viên cần có của mỗi ngành học, mỗi đơn vị giảng

dạy, luôn đáp ứng đủ nhu cầu về số lượng giảng viên thường xuyên của từng

ngành, của toàn trường.

Để dự báo được số lượng giảng viên, cần phải tính toán được quy mô

đào tạo của nhà trường. Trước mắt từ nay đến năm 2010 về số lượng sinh viên,

69



về cơ cấu các ngành, cơ cấu các loại hình, trình độ đào tạo; căn cứ nội dung

chương trình, kế hoạch dạy học giảng dạy của từng ngành học (cần tính đến

phần học lý thuyết, phần học thực hành của mỗi khoa), trên cơ sở đó dự báo số

lượng giảng viên cần tuyển cho mỗi khoa.

Xác định nhu cầu bổ sung, thay thế số giảng viên đến tuổi nghỉ hưu,

thuyên chuyển công tác, thôi việc...hàng năm, và từ nay đến năm 2010.

Căn cứ số liệu thống kê về số lượng cán bộ giảng dạy hiện có so với

tổng số giờ giảng mà đội ngũ giảng viên phải đảm nhiệm, cho thấy số lượng

giảng viên hiện đang thiếu của trường Đại học Công nghệ. Trên cơ sở dự báo

và tính toán số lượng giảng viên cần có để hoàn thành nhiệm vụ thường xuyên

cũng như nhiệm vụ đột xuất của nhà trường, căn cứ kế hoạch phát triển quy

mô đào tạo của nhà trường, dưới đây là dự kiến quy mô phát triển đào tạo đến

năm 2010.

Dự kiến kế hoạch phát triển quy mô đào tạo đến năm 2010

TT



Bậc và loại hình đào tạo



1.750



2.500



280



1.500



Sau đại học



650



900



Chất lượng cao, chất lượng quốc tế



17



200



Đại học không chính quy



2



Năm 2010



Chất lượng cao, chất lượng quốc tế



1



Năm 2007



500



450



Đại học chính quy



Cần xây dựng một kế hoạch tổng thể phát triển đội ngũ giảng viên, đảm

bảo đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi

dưỡng, tạo môi trường nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt

cũng như lâu dài của nhà trường. Góp phần thực hiện thành công chương trình

bổ sung 50 tiến sĩ trong giai đoạn 2005-2010.

3.1.2.2. Kế hoạch phát triển về chất lượng đội ngũ giảng viên.



70



Dự báo về yêu cầu chất lượng đối với đội ngũ giảng viên của Trường

trong những năm tới để đáp ứng quy mô đào tạo, trình độ đào tạo, cơ cấu

ngành và các loại hình đào tạo.

Căn cứ vào kế hoạch phát triển quy mô đào tạo ở các loại hình của

Trường trong những năm tới, trên cơ sở đó xác định nhu cầu về số lượng và

chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng với quy mô phát triển của đào tạo.

Trước mắt xác định đến năm 2010 đưa tổng số cán bộ giảng dạy, nghiên

cứu lên 140 người; cán bộ giảng dạy có học vị sau đại học chiếm 85% trong

đó trên 60% có học vị tiến sĩ, TSKH và trên 15 % có chức danh GS, PSG; 20%

có thể giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ; 100% giảng viên của trường

tham gia hoặc chủ trì đề tài khoa học công nghệ.

Tập trung đầu tư đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành, đầu đàn, các chủ

nhiệm bộ môn trong tất cả các ngành, chuyên ngành khoa học công nghệ của

trường đều phải có học vị tiến sĩ trở lên, trong đó 50% có chức danh giáo sư,

phó giáo sư.

Trên cơ sở chất lượng đội ngũ giảng viên hiện có và mục tiêu phấn đấu

về chất lượng mà nhà trường đã xác định, xây dựng các kế hoạch về nguồn

tuyển, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất

đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ giảng viên của Trường cho mỗi

năm và những năm tiếp theo trước mắt từ này đến năm 2010.

Dự kiến Đội ngũ giảng viên đến năm 2010

2007

TT



Đơn vị



2010



GV Trình

Trình

Đạt tỷ

Số

Đạt tỷ

hiện

độ

độ

lệ

lượng

lệ



TS

TS

47

21 23,33% 70

58 41,42%



1



Khoa công nghệ TT



2



Khoa ĐT - VT



31



4



4,44%



45



36



25,57%



3



Khoa VLKT&CNNN



9



3



3,33%



15



8



5,71%



4



Khoa CHKT&TĐH



3



3



3,33%



10



7



5,00%



71



Tổng cộng



90



31



34,44%



140



109



77,7%



Kế hoạch phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên phải quan tâm đến

quy hoạch về cơ cấu chuyên ngành đào tạo trên cơ sở nhiệm vụ giáo dục - đào

tạo của nhà trường, đồng thời phải đảm bảo hợp lý cả về cơ cấu độ tuổi, chức

danh, trình độ và giới tính.

Trong kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên bao gồm cả quy hoạch đội

ngũ cán bộ lãnh đạo khoa, bộ môn, đội ngũ giảng viên đầu đàn, đầu ngành và

phải thường xuyên quan tâm từ khâu tạo nguồn, đào tạo – bồi dưỡng đến quản

lý và sử dụng. Một điều không thể không tính đến trong kế hoạch là điều kiện

làm việc thông thoáng kèm theo các chính sách ưu đãi đối với người tài là rất

cần thiết. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ về

nguồn lực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông giữa các cơ quan hành chính

sự nghiệp của nhà nước với các công ty nước ngoài, các công ty liên doanh

liên kết với nước ngoài. Đặc biệt là nguồn nhân lực trẻ tuổi và có hàm lượng

trí tuệ cao. Sự cạnh tranh này diễn ra gay gắt bằng các điều kiện làm việc, môi

trường làm việc, bằng việc trả tiền lương, tiền công hàng tháng…

3.1.3. Điều kiện thực hiện

Phát triển đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu của trường dựa vào nguồn

tiến sĩ đang được đào tạo ở trong và ngoài nước, đội ngũ cán bộ tạo nguồn của

trường. Ngoài ra nhà trường cần phải chủ động tạo nguồn giảng viên dựa vào

các đối tượng có khả năng đào tạo thành tiến sĩ trong các năm tiếp theo. Tập

trung mọi giải pháp thực hiện đến năm 2010 đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu

đạt trên 85% trình độ sau đại học.

Tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị

phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đầu tư xây dựng các phòng thí

nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm mục tiêu, các chương trình đào tạo chất

lượng cao, chất lượng quốc tế cho các đơn vị mới được thành lập trong trường.



72



Cần có sự quan tâm, tạo điều kiện của Đại học Quốc gia Hà Nội về công

tác quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên. Thực hiện đồng bộ nhiều biện

pháp để khuyến khích, động viên, thu hút người tài giỏi bổ sung cho đội ngũ

giảng viên.

Tập trung tất cả các nguồn lực, có kế hoạch chủ động sử dụng nguồn nội

lực trong nước và của nhà trường để bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ khoa học

công nghệ đầu đàn, đầu ngành; tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để đội ngũ

giảng viên tham gia các hoạt động chuyên môn; thực hiện chế độ định kỳ nghỉ

giảng dạy để tập trung nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật và thâm nhập

thực tế, cứ 2 năm được nghỉ giảng dạy 1 học kỳ để đi nghiên cứu trao đổi.

Xây dựng chính sách để giữ cán bộ giỏi và thu hút nhân tài, đặc biệt là

đối với cán bộ đầu ngành, đầu đàn, cũng như cán bộ khoa học trẻ tài năng vào

làm việc ở các đơn vị thuộc trường Đại học Công nghệ.

Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu và sự

phối hợp của các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, sự đoàn kết nhất trí

trong tập thể nhà trường.



3.2. Cụ thể hoá quy trình tuyển dụng giảng viên

3.2.1. Lý do

Khi thành lập (khoa Công nghệ cũ), do thiếu cán bộ nghiêm trọng không

những đối với đội ngũ giảng viên và cả khối phục vụ giảng dạy cũng vậy, nên

việc tuyển chọn giảng viên bổ sung cho đội ngũ cán bộ giảng dạy của trường

chưa có tính chiến lược, đồng bộ, hệ thống, chưa có quy chế tuyển chọn rõ

ràng, cụ thể nên công tác tuyển giảng viên còn mang tính giải quyết tình thế,

đôi khi còn có tính nể nang. Để khắc phục tình trạng này, từ khi thành lập

Trường Đại học Công nghệ thì việc thi tuyển hoặc xét tuyển đội ngũ giảng dạy

mới dần đi vào nề nếp dưới sự hướng dẫn và quản lý của Đại học Quốc gia Hà

Nội. Nhà trường đã có kế hoạch tuyển dụng với số lượng, tiêu chuẩn cụ thể



73



của từng khoa, bộ môn cho từng năm đồng thời thực hiện những biện pháp

đồng bộ liên quan đến quy trình và phương thức tuyển chọn.

Để phát triển đội ngũ giảng viên đủ về số lượng mạnh về chất lượng,

đồng bộ về cơ cấu một cách lâu dài. Trước mắt để khắc phục sự thiếu hụt về số

lượng như đã phân tích trình bày ở chương 2, công tác tuyển dụng bổ sung cho

đội ngũ giảng viên cho các khoa của trường ĐHCN gồm các nội dung:

3.2.2. Nội dung giải pháp

Xây dựng và thực hiện đúng quy định tuyển dụng tại Nghị định

116/2003/NĐ-CP về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức

trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước và Thông tư số 10/2004/TT-BNV của

Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định

116/2003/NĐ-CP. Trường Đại học Công nghệ trực thuộc ĐHQGHN nên trong

công tác tuyển dụng cần phải thực hiện theo Quyết định số 1955/TCCB của

Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quy định về tuyển dụng đào tạo, bồi

dưỡng giảng viên ở Đại học Quốc gia Hà Nội.

Việc xây dựng và thực hiện đúng các quy định về tuyển dụng cán bộ

công chức của Nhà nước cũng như của ĐHQGHN sẽ tạo được cơ sở pháp lý,

công bằng, ổn định cho đội ngũ giảng viên của các khoa trong trường. Đồng

thời qua đó cũng nêu rõ tính ổn định về tiêu chuẩn và tiêu chí để những người

có nguyện vọng trở thành giảng viên của trường có mục tiêu, kế hoạch học tập

rèn luyện và phấn đấu cụ thể, rõ ràng.

Quy trình tuyển dụng giảng viên của trường cần tuân thủ các bước cụ

thể sau:

Bước 1: Căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế được Đại học

Quốc gia Hà Nội phê duyệt và nguồn tài chính của đơn vị, Trường Đại học

Công nghệ báo cáo và xin ý kiến ĐHQGHN kế hoạch tuyển dụng.

Bước 2: Phòng Tổ chức Cán bộ tổng hợp và báo cáo Ban giám hiệu về

số lượng cần tuyển và trình Ban giám hiệu kế hoạch tuyển dụng chi tiết, cụ thể

như : Thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về số

74



lượng cần tuyển, tiêu chuẩn (ngoài tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, cần

phải có ngoại hình phù hợp), điều kiện, chức danh, vị trí cho mỗi ngành,

chuyên ngành, kế hoạch tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển, trả lời những thông

tin cần thiết cho các đối tượng dự tuyển (nếu có) và dự kiến Hội đồng tuyển

chọn

Hội đồng tuyển dụng có 05 hoặc 07 thành viên gồm: Chủ tịch hội đồng

là hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng phụ trách tổ chức nhân sự, phó chủ tịch là

trưởng phòng Tổ chức Cán bộ và các thành viên thuộc diện lãnh đạo các khoa,

phòng chức năng liên quan.

Bước 3: Hội đồng thành lập các tiểu ban chấm thi tại các khoa (các tiểu

ban này có các thành viên của hội đồng tuyển dụng trường tham dự) như tiểu

ban chấm thi về năng lực chuyên môn, tiểu ban chấm thi về ngoại ngữ và tiểu

ban chấm thi về quản lý hành chính nhà nước, trong đó có phần thi về sự hiểu

biết đối với trường Đại học Công nghệ và Đại học Quốc gia Hà Nội…

Sau khi các tiểu ban tổ chức thi, chấm thi có kết quả gửi báo cáo kết quả

về Hội đồng tuyển dụng của trường.

Hội đồng tuyển dụng trường tổng hợp điểm của các tiểu ban báo cáo,

căn cứ vào các quy định về thang cho điểm của Nhà nước cũng như các quy

định của Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đồng xem xét điểm các môn thi cũng

như những khả năng về sư phạm, ngoại hình…của từng trường hợp cụ thể với

từng đơn vị cụ thể để quyết định đưa các đối tượng trúng tuyển vào danh sách.

Kết quả tuyển dụng được công bố công khai

Bước 4: Sau khi đã thực hiện đúng các bước trên, danh sách được thông

báo công khai theo đúng thời gian quy định, nếu không có khiếu nại, tố cáo về

việc tuyển dụng, Hiệu trưởng nhà trường chính thức gửi danh sách các ứng

viên trúng tuyển báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội để ra quyết định công nhận

kết quả trúng tuyển.



75



Theo quy định, trong thời hạn chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày công bố

kết quả trúng tuyển, người trúng tuyển phải đến Trường làm các thủ tục để ký

hợp đồng làm việc.

3.2.3. Điều kiện thưc hiện

Phải thống nhất quan điểm và đạt được sự đồng thuận cao trong Đảng

uỷ, Ban giám hiệu nhà trường về việc tuyển dụng, nhằm chọn được những

người thực sự có tài, có đức bổ sung cho đội ngũ giảng viên, đồng thời việc

phân công, bố trí sử dụng, đãi ngộ, điều động đội ngũ giảng viên cũng phải hết

sức khoa học tạo sự ổn định để phát triển.

3.3. Chính sách thu hút giảng viên giỏi.

3.3.1. Lý do chọn giải pháp

Xây dựng một đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên giỏi, yên tâm với

công việc, tâm huyết với sự nghiệp trồng người. Ngoài việc thực hiện đúng các

quy định, chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước, trong điều kiện hiện nay

các trường được tự chủ về tài chính phải có chính sách quan tâm ưu đãi thêm

đối với đội ngũ giảng viên. Đây là lực lượng cán bộ quan trọng quyết định chất

lượng đào tạo của một nhà trường, đồng thời quan tâm, tạo điều kiện về mọi

mặt đối với các cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có uy tín trong khoa học,

có nhiều công trình nghiên cứu khoa học được đăng tải trong nước và quốc tế,

có phương pháp giảng dạy tiên tiến là nhiệm vụ rất cần thiết, trên cơ sở đó đào

tạo, bồi dưỡng thành những cán bộ khoa học đầu đàn, đầu ngành, các chủ

nhiệm bộ môn, trưởng các nhóm nghiên cứu có trình độ ngang tầm khu vực và

tiếp cận được trình độ quốc tế.

Có chính sách ưu đãi và thu hút giảng viên và các chuyên gia giỏi từ các

viện, trường, chuyên gia người nước ngoài, các nhà khoa học Việt Nam tại

nước ngoài về trường làm công tác giảng dạy hoặc hợp tác giảng dạy và

nghiên cứu khoa học.

Với quan điểm chỉ đạo của Đảng ủy, Ban giám hiệu trường Đại học

Công nghệ là tập trung mọi nguồn lực, chủ động sử dụng nguồn nội lực trong

76



nước và của nhà trường để bồi dưỡng cán bộ KH-CN đầu ngành, đầu đàn (đáp

ứng các tiêu chí của ĐHQGHN); tạo mọi điều kiện thuận lợi để cán bộ giảng

dạy tham gia các hoạt động chuyên môn.

Trước mắt tập trung chủ yếu ưu tiên bồi dưỡng và tạo điều kiện phát

triển cho các cán bộ thuộc diện quy hoạch chủ nhiệm bộ môn đã được Đảng ủy

thông qua. Các tiến sĩ trẻ có thành tích giảng dạy và nghiên cứu khoa học, có

hướng nghiên cứu xác định, đã có một số kết quả khoa học xuất bản trên các

tạp chí khu vực và quốc tế.

3.3.2. Nội dung chính sách

Đội ngũ giảng viên trường Đại học Công nghệ là một tập thể nhà giáo,

gồm nhiều thành phần trình độ, lứa tuổi, năng lực và uy tín nghề nghiệp khác

nhau. Trong đội ngũ ấy luôn cần có những giảng viên giỏi cả về trình độ

chuyên môn uy tín nghề nghiệp lẫn kỹ năng sư phạm và khả năng tập hợp và

có ảnh hưởng tích cực tới giảng viên trong khoa, bộ môn, họ là những giảng

viên có thể gọi là đầu đàn, họ làm trụ cột cho sự phát triển đội ngũ giảng viên

của mỗi khoa, bộ môn cũng như đội ngũ giảng viên của trường.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá khen ngợi và suy tôn

không là chưa đủ mà cần phải có chính sách ưu đãi cụ thể để giữ người giỏi

yên tâm công tác đồng thời thu hút người tài đến làm việc cho trường là rất

quan trọng. Qua phiếu trưng cầu ý kiến đội ngũ giảng viên cho thấy trong số

người được hỏi có 70% trả lời rất hài lòng với công việc của người giảng viên,

22% tạm hài lòng, 3% chấp nhận và 5% muốn chuyển nghề. Điều này chứng

tỏ rất cần một chính sách thiết thực để tránh tình trạng “chảy máu chất xám tại

chỗ” trong các cơ quan đơn vị hành chính nhà nước.

Ngay từ khi mới thành lập trường (tháng 5/2004), các thế hệ lãnh đạo đã

ý thức được việc đào tạo đội ngũ cán bộ nguồn bổ sung cho đội ngũ giảng

viên. Với chủ trương thu nhận tất cả các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, loại

xuất sắc, có nguyện vọng ở lại trường thì được ký hợp đồng trong thời gian 2 3 năm, trong thời gian đó các em học tiếp cao học, tham gia đề tài nghiên cứu

77



khoa học, một số em tìm học bổng để đi đào tạo ở nước ngoài, đến nay một số

em đã học xong và có nguyện vọng về trường làm công tác giảng dạy.

- Chính sách với hợp đồng tạo nguồn.

Đối với một trường đại học, đội ngũ giảng viên là lực lượng quyết định

chất lượng đào tạo, đội ngũ này luôn có sự biến động về số lượng, hàng năm

tuyển dụng bổ sung cho đội ngũ đồng thời một số người cũng nghỉ hưu khi

đủ điều kiện. Do vậy mỗi trường cần có chính sách ký hợp đồng tạo nguồn để

có thời gian, điều kiện lựa chọn người tốt bổ sung cho đội ngũ giảng viên,

tránh tình trạng thiếu hụt quá lớn về số lượng để khi tuyển lại tuyển ồ ạt, giải

quyết tình thế và như vậy sẽ không thể đảm bảo được về chất lượng của đội

ngũ.

Nhà trường cần có chính sách để ký hợp động tạo nguồn với tất cả các

đối tượng sau:

- Có trình độ tiến sĩ, có chuyên ngành đào tạo phù hợp

- Tốt nghiệp thạc sĩ, có bằng tốt nghiệp đại học và thạc sĩ loại giỏi trở lên.

- Nghiên cứu sinh chuyển tiếp từ cử nhân và thạc sĩ có bằng tốt nghiệp đại học

loại giỏi trở lên đang thực hiện luận án tại trường, do cán bộ khoa học cơ hữu

của trường hướng dẫn.

- Cử nhân tốt nghiệp các trường đại học tiên tiến nước ngoài loại giỏi trở lên,

đạt giải Olympic quốc tế; cử nhân tốt nghiệp loại giỏi trở lên các chương trình

đào tạo kỹ sư tài năng của các trường đại học có uy tín của Việt Nam.

Nguyên tắc xếp lương cho đối tượng này: nếu là cử nhân thì xếp lương

bậc 1, thạc sĩ bậc 2, tiến sĩ bậc 3.

- Quyền lợi của các đối tượng này được hưởng như giảng viên cơ hữu gồm:

được tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hướng dẫn luận văn tốt nghiệp,

luận văn cao học, được cử đi đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn

nghiệp vụ.

- Cần có chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế để các em yên tâm công tác,

học tập, các em được thanh toán tiền thù lao giảng dạy theo quy định, sau một

78



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

×