1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ TỰ HỌC NGOẠI NGỮ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.8 MB, 128 trang )


Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ TỰ HỌC

NGOẠI NGỮ

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới

Trong tiến trình lịch sử phát triển của Giáo dục, tự học luôn luôn nhận

được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Tuy nhiên, trong mỗi

giai đoạn lịch sử khác nhau, trong từng bối cảnh của xã hội khác nhau, điều kiện

phát triển khác nhau, vấn đề tự học lại được nhìn dưới những “lăng kính” khác

nhau, hay nói cách khác là dưới những khía cạnh, và góc độ khác nhau. Tuy

nhiên, Các nhà nghiên cứu đã đều khẳng định vai trò quan trọng của tự học, tự

nghiên cứu, tự khám phá của bản thân người học trong công tác học tập, nó là cơ

sở cho mọi sự thành công của mỗi cá nhân.

Khổng tử (551 – 479 trước công nguyên) là một người rất ham học. Với

ông, học là một hứng thú, một đam mê, không chỉ là chuyện nhất thời mà là suốt

đời. Ông là một con người “say sưa học tập và nghiên cứu tới mức quên cả ăn

uống; mỗi khi khám phá được điều hay thì quên hết cả ưu sầu, không biết tuổi

già đang sầm sập tới” (Phát phẫn vong thực, lạc dĩ vong ưu, bất tri lão chi tương

chí) (Luận ngữ - Thuật nhi)[37, tr.183]. Việc học và tự học của ông gắn liền với

đào tạo thế hệ trẻ mà ông đặt nhiều hi vọng. Khổng tử luôn quan tâm đến việc

kích thích suy nghĩ, sáng tao của người học. Với ông, người thầy chỉ tìm ra cho

học trò cái mấu chốt nhất, còn những vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra,

thầy giáo không được làm thay học trò “Không giận vì muốn biết thì không gợi

mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc bảo cho

biết một góc mà không suy ra ba góc thì không dạy nữa” (Bất phẫn, bất phải, bất

phi, bát phát. Cứ bất ngu, bất dĩ, tam ngung phản, tác bất phục dã) (Luận

ngữ ).[13, tr.55]

Socrat (469 – 390 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “ Anh hãy tự

biết lấy anh” qua đó ông muốn học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt câu

hỏi để dần dần tìm ra kết luận. [13, tr.55]

14



J.A.Comenxki (1592 – 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, người đặt

nền móng cho sự ra đời của Nhà trường hiện nay, nhà giáo dục lỗi lạc của

Slovakia và nhân loại cũng đã nêu ra các nguyên tắc, phương pháp giảng dạy

trong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại” nhằm phát huy tính tích cực chủ động

của học sinh và ông cương quyết phản đối lối dạy học áp đặt làm cho học sinh

có thói quen không tự giác trong học tập. Comenxki nói: “Tôi thường bồi dưỡng

cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong

việc ứng dụng các tri thức vào thực tiễn”. [13, tr.56]

Thế kỷ XVIII – XIX, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng như J.J. Rousseau

(1712 – 1778); Pestalogie (1746 – 1827); Distecvec (1790 -1866); Usinxki

(1824 -1873).... đều có chung quan điểm cần hướng cho học sinh tự nắm bắt

kiến thức bằng cách tự tìm tòi và sáng tạo.

Những năm gần đây, trên cơ sở kế thừa có phê phán các tư tưởng của các

tác giả đi trước, các nước phương tây nổi nên cuộc cách mạng để tìm phương

pháp giáo dục mới dựa trên tiếp cận “ lấy người học làm trung tâm” để phát huy

năng lực nội sinh của con người. Đại diện cho tư tưởng này là John Dewey

(1859 – 1952), ông phát biểu “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi

phương tiện giáo dục”. Một loạt các phương pháp dạy học theo quan điểm tư

tưởng này đã được đưa vào thực nghiệm: “Phương pháp tích cực”, “Phương

pháp hợp tác”, “Phương pháp cá thể hoá”. Nói chung đây là các phương pháp

mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà

còn từ HĐTH, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức. Giáo viên là người trọng tài, đạo diễn

thiết kế tổ chức giúp học sinh biết cách làm, cách học. [13, tr.59]

T.Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm

30 của thế kỷ XX đã cho rằng “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình

học tập và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi học sinh. Giáo dục xét như là

một quá trình hướng dẫn học sinh tự học”. [19, tr.7]

Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ

XXI, những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm về

quá trình “Nhận biết dạy – học” và ông chủ trương rằng người học phải là người

15



tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy – học”. Theo ông “Sự học tập do

người học chủ đạo.” [29, tr.110]

Như vậy, vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo

dục ở trên thế giới. Nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu

giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định

mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng

của mọi quá trình giáo dục, đào tạo.

1.1.2. Quan điểm và tư tưởng về tự học ở Việt Nam

Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

hiện nay, nhất là khi nước ta đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại

thế giới (WTO), đã đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục và đào tạo. Đòi hỏi

GD - ĐT phải tự đổi mới. Một trong những nội dung đổi mới giáo dục được đề

cập nhiều hơn cả là đổi mới phương pháp dạy – học, nhất là phương pháp học

tập – tự học.

Tự học – tự đào tạo là một vấn đề được nghị quyết Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ VIII và Trung ương II (khoá VIII) đề cập đến rất đậm nét: “Tập

trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, sáng tạo của

học sinh” (NQĐH VIII), “bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu

cho học sinh, phát triển mạnh phong trào tự học – tự đào tạo thường xuyên và

rộng khắp trong toàn dân...”. Nghị quyết của Đảng cũng chính là tư tưởng “Cách

học tập ...lấy tự học làm cốt”[24, tr.18] của chủ tịch Hồ Chí Minh. Người còn

nhấn mạnh: “ Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”[30, tr.79], và khuyên

“không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học

tập”.[30, tr.79]

Trong khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về vấn đề tự

học như: “Quá trình dạy – tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, giáo sư Vũ

Văn Tảo; “Luận bàn về kinh nghiệm tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn,

“Tự học – chìa khoá vàng của giáo dục” của GS. Phan Trọng Luận, và nhiều

công trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu giáo

dục như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Thái

16



Duy Tuyên và rất nhiều luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục trong những năm gần

đây đề cập đến nhiều khía cạnh về hoạt động tự học và các biện pháp quản lý, tổ

chức hoạt động tự học với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên, góp

phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.

1.1.3. Nghiên cứu tự học ngoại ngữ ở Việt Nam và trường Cao đẳng Du lịch

Hà Nội

Môn ngoại ngữ đã được coi là một môn văn hoá cơ bản trong các trường

phổ thông và là môn học bắt buộc trong các trường Cao đẳng, Đại học, Trung

học chuyên nghiệp và các trường đào tạo nghề. Do đó, việc nghiên cứu ứng

dụng phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập ngoại ngữ luôn nhận dược sự

quan tâm của các nhà nghiên cứu, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ trong và

ngoài nước.

Ở Việt Nam, Bộ Giáo dục đào tạo đã phối hợp với các trung tâm ngoại

ngữ có uy tín như Hội đồng Anh, Trung tâm giáo dục Appollo... tổ chức các

cuộc hội thảo về dạy và học ngoại ngữ. Đã có nhiều bài viết được đăng trên các

tờ báo, tạp chí, Website chính thức nhằm chia sẻ kinh nghiệm tự học ngoại ngữ

và cách học hoại ngữ thành công. Trong đó có tác giả Nguyễn Huy Côn với

cuấn sách “Tự học và sử dụng ngoại ngữ”, nhóm tác giả gồm Giáo sư nhà giáo

nhân dân Vũ Văn Chuyên, Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Quang và Thach sĩ Nguyễn

Hải Nam với cuấn sách “Phương pháp tự học ngoại ngữ nhanh – hiệu quả” ....và

nhiều tác giả khác.

Những năm qua, tuy đã có nhiều luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nghiên

cứu về vấn đề tự học và quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ, song hoạt động tự

học, đặc biệt hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Du lịch

Hà Nội vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ, chưa có một công trình nào nghiên cứu.

Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào việc xây dựng các biện pháp

quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tự học ngoại ngữ của sinh viên Trường

CĐDLHN để góp phần nâng chất lượng giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ và

nhân viên Du lịch của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay và sau này.

17



1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Quản lý, chức năng của quản lý, biện pháp quản lý

1.2.1.1. Quản lý

Ngày nay, ai cũng biết rằng quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng trong

bất cứ hoạt động nào của con người, dù là sản xuất hay kinh doanh, dù trong

hoạt động giáo dục đào tạo, dù trong hoạt động văn hoá hay trong hoạt động xã

hội. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong điều khiển hệ thống xã hội

ở tầm vĩ mô và vi mô. Có tập thể, tổ chức là có quản lý. Quản lý xuất hiện như

một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu

chung. Theo C. Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá

lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều

thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý. Mác viết: “Tất cả mọi

lao động trong xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô

tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần có một sự chỉ đạo để điều hoà những

hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận

động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc

lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn

nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.[38, tr.10]

Thuật ngữ “quản lý" (theo tiếng Việt gốc Hán) gồm hai quá trình tích hợp

nhau: Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hiện trạng ở trạng thái “ổn

định”, quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”.

Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, và nếu chỉ quan tâm

đến “lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Do đó, trong “quản” phải

có “lý‟, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở trạng thái cân bằng

động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương

tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.[theo giải thích của

PGS.TS Đặng Quốc Bảo]

Thuật ngữ quản lý trong tiếng Anh gọi là “management”. Nhưng khi được

dịch sang tiếng Việt có nhiều người hiểu và sử dụng với nghĩa là quản trị. Tuy

18



nhiên, người ta hay sử dụng “management” với ý nghĩa là quản lý hơn cả vì

quản lý là thuật ngữ được dùng chỉ việc điều khiển nói chung.

Khi xem xét thuật ngữ quản lý, chúng ta cần phải xem xét nó trên cả hai

phương diện: chính trị – xã hội và hành động.

Trên phương diện chính trị – xã hội, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa

tri thức với lao động. Để vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù

hợp. Cơ chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển. Ngược lại, thì xã hội phát triển

chậm hoặc không ổn định.

Trên phương diện hành động, quản lý được hiểu là sự chỉ huy, điều khiển,

điều hành.

Vậy quản lý là gì? Từ trước tới nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về

quản lý:

- Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó

hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. – Taylor đã

đưa ra định nghĩa này về quản lý trong thuyết quản lý khoa học. [28, tr.49]

- Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra. –

Henry Fayol. [4, tr.59]

- Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý

(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức

nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.[5, tr.1]

- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân

làm nhiệm vụ và các mục tiêu đã định[19, tr.11]

- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể

quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bị

quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các

luật lệ , các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể

nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. [19, tr.11]

- Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản

lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá



19



nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.

[40, tr.40]

Nghiên cứu các định nghĩa quản lý, chúng ta có thể thấy mặc dù các tác

giả có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:

Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ

thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý,

đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và

mục đích mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do

yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản

lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa

chủ thể và khách thể quản lý.

Như vậy, Quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu và không thể thiếu

được trong xã hội, đời sống xã hội, đời sống của mỗi cá nhân. Hiện nay, hoạt

động quản lý được người ta định nghĩa rõ hơn, cụ thể hơn: “ Quản lý là quá trình

đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động chức năng như:

kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. [5, tr.1]

1.2.1.2. Các chức năng của quản lý

Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau và cũng có nhiều quan

điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản lý. Tuy nhiên, ngày nay

người ta đều thống nhất hoạt động quản lý có bốn chức năng cơ bản sau: Kế

hoạch hoá, Tổ chức, Chỉ đạo, và Kiểm tra.

*Kế hoạch hoá

Kế hoạch hoá là một chức năng của quản lý. Kế hoạch hoá có nghĩa là xác

định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con

đường biện pháp, cách thức để đạt mục tiêu, mục đích đó. Chức năng kế hoạch

hoá có ba nội dung cơ bản:

- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;

- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn

lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này.

20



- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục

tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên.

*Tổ chức

Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành

viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công

kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Chính nhờ sự tổ chức có

hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và

nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào người quản lý sử

dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.

Theo Ernest Dale, chức năng tổ chức gồm năm bước:

Bước một: Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được

mục tiêu của tổ chức.

Bước hai: Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các

thành viên hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi

và hợp lôgích. Đây gọi là bước phân công lao động.

Bước ba: Kết hợp các nhiệm vụ một cách lôgích và hiệu quả. Đây là bước

phân chia bộ phận.

Bước bốn: Thiết lập một cơ chế điều phối. Sự liên kết hoạt động của các

cá nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để đạt được

các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

Bước năm: Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và

tiến hành những điều chỉnh cần thiết.

* Chỉ đạo

Chỉ đạo hay lãnh đạo bao gồm việc liên kết, liên hệ với người khác và

động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ

chức. Hiển nhiên, việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và

thiết kế bộ máy đã hoàn tất mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức

năng trên.

Chỉ đạo tập trung vào các ưu tiên sau:



21



- Nhận thức lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh

của hệ thống.

- Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống, phân tích các mâu

thuẫn trong quá trình phát triển, phát hiện ra nhân tố mới.

- Tổng kết được quy luật, xu thế phát triển của hệ thống.

- Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống.

*Kiểm tra

Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong bốn chức năng cơ bản của quản lý.

Kiểm tra đề cập đến các phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng

các hành vi/ hoạt động và thành tựu phải tuân thủ, phù hợp với mục tiêu, kế

hoạch và chuẩn mực của tổ chức. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “

Quản lý mà không kiểm tra thì coi như không quản lý”. Thông qua kiểm tra một

cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động

và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uấn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt

động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến

hành những hành động điều chỉnh, uấn nắn.

Kiểm tra trong hoạt động quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm xác

định những chuẩn mực (tiêu chuẩn) thành tựu khi đối chiếu với các mục tiêu đã

được kế hoạch hoá; thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi; so sánh thành tựu

hiện thực với các chuẩn mực đã định; xác định những lệch lạc có và đo lường

mức độ của chúng; tiến hành những hành động cần thiết để đảm bảo rằng những

nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu của

tổ chức.

Theo Rorbert J.Mockler, kiểm tra có bốn bước:

Bước một: Xác định mục tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương pháp đo

lường thành tựu. Các tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên

liên quan lĩnh hội được một cách dễ dàng, thống nhất. Phương pháp đo lường

chuẩn mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa các thành tựu với

chuẩn mực đặt ra.



22



Bước hai: Đo lường thành tựu, là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn biến

liên tục, với tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động và các cấp độ

quản lý khác nhau.

Bước ba: Xác định mức độ đáp ứng phù hợp của thành tựu so với tiêu

chuẩn (chuẩn mực).

Bước bốn: Tiến hành những hoạt động uấn nắn, sửa chữa khi phát hiện

thấy những sai lệch thành tựu so với chuẩn mực (tiêu chuẩn) đề ra. Các nhà quản

lý có thể điều chỉnh các sai lệch bằng cách thay đổi các hoạt động của các cá

nhân thành viên hay các nhiệm vụ hoạt động của một bộ phận trong tổ chức,

hoặc là sửa đổi lại các chuẩn mực thành tựu nếu thấy chúng không thể thực hiện

được.

Tóm lại, bốn chức năng của quản lý trong định nghĩa về quản lý theo quan

điểm hiện nay được phân tích trên đây có quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau.

Cả bốn chức năng trên đều được triển khai đồng khi tiến hành hoạt động quản

lý. Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ

đạo và kiểm tra.

1.2.1.3. Biện pháp quản lý

* Biện pháp

Theo từ điển tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, giải quyết một vấn đề cụ

thể”. Tiếng Anh gọi là “Measure” : hành động để thực hiện một mục đích.

Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử

dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Cùng

một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ: Biện

pháp so sánh có thể dùng trong phương pháp thuyết trình và phương pháp vấn

đáp.

* Biện pháp quản lý

Biện pháp quản lý (managerial measure) là cách quản lý, cách giải quyết

những vấn đề có liên quan đến quản lý.



23



Như vậy, biện pháp quản lý có tác động đến hoạt động tự học ngoại ngữ

là cách làm, giải quyết liên quan đến việc kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và

kiểm tra công việc tự học ngoại ngữ nhằm đạt được mục tiêu của tự học ngoại

ngữ và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

1.2.2. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý quá trình dạy - học

1.2.2.1. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục, là một loại hình của quản lý xã hội, là quá trình vận

dụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm.....của khoa học quản lý vào

một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt, đó là ngành giáo dục.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục:



- Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả

mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. [19, tr.12]

- Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức, được định hướng của

chủ thể quản lý lên các thành tố của các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục

tiêu của giáo dục một cách hiệu quả.[19, tr.12]

- Quản lý GD nói chung và quản lý nhà trường nói riêng có ba đối tượng

quản lý cơ bản là quản lý con người và các mối quan hệ liên nhân cách; quản lý

toàn bộ quá trình GD và dạy học diễn ra trong nhà trường cùng các mối quan hệ

giữa nhà trường với gia đình học sinh và cộng đồng xã hội nơi trường đóng;

quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện, nguồn nhân lực cho dạy và

học.[15, tr.1]

Nói chung, quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách

thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động giáo dục. Nói đầy đủ hơn của định nghĩa

này, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật

của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục

quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo

24



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (128 trang)

×