1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3: NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỰ HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.8 MB, 128 trang )


Hiện nay, nước ta đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế

giới (WTO) đòi hỏi chúng ta phải có đội ngũ nguồn nhân lực nói chung đội ngũ

nhân viên Du lịch nói riêng có chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia vào thị

trường lao động mang tính toàn cầu. Do đó, vấn đề dạy và học ngọai ngữ, đặc

biệt trong giai đoạn hiện nay, rất được Nhà nước ta quan tâm và đã có các nghị

quyết đề cập đến đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ, chú trọng đến việc hỗ trợ

tự học như: Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo

dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 ghi rõ: “..Triển khai việc dạy và

học bằng tiếng nước ngoài , trước mắt là bằng Tiếng Anh…” và nghị quyết

phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2006 số 03/2006/NQ-CP ngày

03/4/2006, sau khi nghe Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Đề án Dạy và

học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2006 – 2015, ghi rõ:

„….yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những đòi hỏi bức xúc phải đổi mới căn bản

quá trình dạy và học ngoại ngữ cho thế hệ trẻ. …….lựa chọn một môn ngoại

ngữ là môn học chính thức cho học sinh tiểu học bắt đầu từ độ tuổi nhất định và

khuyến khích học thêm một ngoại ngữ khác trong các cấp học cao hơn nhưng

phải bảo đảm việc tiếp nối về dạy và học giữa các cấp học, bậc học…”.

3.1.2. Yêu cầu của ngành Du lịch trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế khi mà hoạt động kinh doanh du lịch

cạnh tranh khốc liệt không chỉ trong khu vực mà còn trên phạm vi toàn cầu thì

yêu cầu về chất lượng dịch vụ, số và chất lượng đội ngũ lao động trở thành mối

quan tâm hàng đầu cho ngành Du lịch, cho các cơ sở đào tạo nghiệp vụ du lịch.

Để có thể cạnh tranh được trên thị trường Du lịch khu vực và quốc tế theo

hướng phát triển Du lịch bền vững thì chất lượng sản phẩm Du lịch mang tính

quyết định. Sản phẩm của ngành du lịch và khách sạn chủ yếu là dịch vụ, mà

chất lượng dịch vụ lại chủ yếu phụ thuộc vào người phục vụ với kỹ năng nghề

nghiệp, khả năng giao tiếp, và trình độ ngoại ngữ của mình. Hơn nữa, khi nước

ta thực hiện các cam kết trong Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ

(GATS) mà chúng ta đã ký khi đàm phán ra nhập WTO, chúng ta phải tuân thủ

76



theo xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá du lịch đòi hỏi chất lượng du lịch phải

vươn tới đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch

và để “từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm Du lịch có tầm cỡ của

khu vực, phấn đấu sau năm 2010 Du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc

gia có ngành Du lịch phát triển trong khu vực” thì đòi hỏi nước ta phải tăng

cường đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghiệp vụ cao, giỏi ngoại ngữ và giao

tiếp tốt - đó cũng là trọng trách của các cơ sở đào tạo nghiệp vụ Du lịch trong đó

có trường Cao đẳng Du lịch Hà nội.

3.1.3. Định hướng phát triển của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt khi nước ta đã chính

thức ra nhập vào tổ chức thương mại thế giới ngày 7/11/2006, đặt ra cho các cơ

sở đào tạo những bài toán cần phải giải quyết để có thể cạnh tranh được trong thị

trường đào tạo mở thời kỳ hội nhập WTO và hậu WTO. Dựa trên cơ sở, đánh

giá đúng những thành tích nhà trường đã đạt được trong thời gian qua, những

điểm mạnh, những hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cho nhà trường

trong bối cảnh hiện nay đồng thời căn cứ vào những lợi thế của nhà trường hiện

có, và để góp phần thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển Du lịch

2001 – 2010, Đảng uỷ, Ban giám hiệu nhà trường đã xác định mục tiêu từ nay

đến năm 2010 là phấn đấu đưa nhà trường trở thành một trung tâm đào tạo chất

lượng cao với đa cấp học: đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy

nghề; đa ngành học về du lịch: dịch vụ du lịch, dịch vụ khách sạn, và các dịch

vụ liên quan....; đa dạng hình thức học tập: chính quy tập chung, tại chức, liên

thông, từ xa, ngắn hạn, liên kết với nước ngoài...; đa dạng đối tượng học: người

Việt Nam, người nước ngoài phục vụ cho sự phát triển của ngành và của đất

nước. Kết hợp chặt chẽ giữa giảng dạy – nghiên cứu ứng dụng – tổ chức kinh

doanh dịch vụ để phục vụ đắc lực cho việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà

trường.

Nhà nhà trường luôn xác định rõ nhiệm vụ là tiếp tục tổ chức đào tạo và

bồi dưỡng với chất lượng cao, bám sát thực tiễn của ngành, của xã hội để xây

77



dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng được nhu cầu của các tổ chức

thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước với quan điểm: năng động,

mềm dẻo với quán triệt chủ trương đào tạo là: “ Đào tạo và bồi dưỡng những gì

thực tiễn đang cần chứ không phải là đào tạo những gì mà nhà trường đang có”.

Xuất phát từ quan điểm này nhà trường sẽ bám sát vào thực tế của ngành và xã

hội để xây dựng các chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, tuyển sinh và

đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; Quan hệ chặt chẽ với học sinh và sinh viên, tạo

điều kiện cho các em phát triển theo khả năng, sở trường của mình, tạo nơi thực

tập và làm việc cho học sinh và sinh viên, lập ngân hàng dữ liệu về học sinh và

sinh viên sau khi ra trường để xây dựng mối quan hệ thường xuyên giữa nhà

trường với các cựu học sinh, sinh viên; Xây dựng các chương trình đào tạo linh

hoạt và mềm dẻo, đảm bảo cho người học học để làm, cần gì học đó, học để bổ

sung cho công việc và học mãi để không ngừng vươn lên; Đào tạo và bồi dưỡng

lực lượng giáo viên cơ hữu của nhà trường, vừa giảng dạy tốt vừa nghiên cứu

khoa học tốt, ngoại ngữ giỏi đáp ứng yêu cầu hội nhập và vừa kinh doanh giỏi;

Xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập tương

xứng với chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo và thực tiễn ngành nghề

cần đào tạo và bồi dưỡng.

Mọi hoạt động của nhà trường đều tập trung phục vụ cho việc nâng cao

chất lượng và đảm bảo phương châm đào tạo đội ngũ nhân viên du lịch “thành

thạo nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ”.

Do phạm vi và mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả đề xuất các biện

pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tự học ngoại ngữ của sinh viên trường

CĐDLHN theo hướng:

- Tiếp tục áp dụng các biện pháp quản lý có hiệu quả

- Điều chỉnh các biện pháp quản lý đã thực hiện nhưng hiệu quả còn thấp

- Đề xuất các biện pháp quản lý mới theo hướng khắc phục những biện

pháp đã thực hiện nhưng không có hiệu quả hoặc chưa được thực hiện

Từ cơ sở lý luận về tự học, tự học ngoại ngữ, quản lý tự học ngoại ngữ

và trên cơ sở xin ý kiến lãnh đạo nhà trường, các phòng, khoa chức năng, bộ

78



môn liên quan, các giảng viên, cán bộ quản lý về các biện pháp (mẫu 4), và căn

cứ vào đặc điểm, điều kiện thực tế, mục tiêu đào tạo và định hướng phát triển

của nhà trường tới năm 2010 và những năm tiếp theo, tác giả đề xuất các biện

pháp quản lý nhằm tăng cường hiệu quả tự học ngoại ngữ của sinh viên trường

CĐDLHN, góp phần nâng cao trình độ ngoại ngữ cho sinh viên, nâng cao chất

lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối

cảnh hội nhập WTO.

3.2. Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tự học ngoại ngữ

của sinh viên trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà Nội

3.2.1. Nhóm biện pháp xây dựng động cơ tự học ngoại ngữ cho sinh viên

Bất kỳ hoạt động nào của con người trong đó có hoạt động học tập, đều có

động cơ thúc đẩy và dẫn lối đưa đường theo một xu hướng nhất định. Việc xây

dựng động cơ học tập đúng đắn, nhất là động cơ học tập ngoại ngữ, cho sinh

viên là vấn đề hết sức cần thiết và cơ bản trong các biện pháp quản lý của vấn đề

tự học ngoại ngữ. Xây dựng động cơ tự học ngoại ngữ đúng đắn cho sinh viên

trường CĐDLHN để giúp các học tập hiệu quả, tiết kiệm thời gian và tiền bạc.

Để xây dựng động cơ học ngoại ngữ cho sinh viên, cần phải tiến hành các biện

pháp sau:

3.2.1.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của ngoại ngữ cho

sinh viên thông qua việc tổ chức giao lưu, trao đổi giữa các sv và giữa sv với cán

bộ, giảng viên, các chuyên gia đến từ các KS và doanh nghiệp Du lịch về tầm

quan trọng của ngoại ngữ (tiếng Anh) trong học tập, công tác trong lĩnh vực KS

– DL.

Nhận thức đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của con người. Có

nhận thức đúng, con người mới hoạt động đúng. Sinh viên có nhận thức đúng

vai trò của ngoại ngữ thì mới có phương pháp, cách thức, hình thức tích cực để

tự học có hiệu quả.

Việc tổ chức các cuộc giao lưu trao đổi sẽ góp phần đắc lực trong việc

nâng cao nhận thức. Bởi lẽ, các chuyên gia trong lĩnh vực DL là tấm gương tốt

79



cho sinh viên noi theo trong học tập trong công tác. Những chia sẻ kinh nghiệm,

nhận xét của họ về vai trò của ngoại ngữ cũng như tự học ngoại ngữ trên phương

diện nghề nghiệp, và thực tế sử dụng ngoại ngữ của họ trong học tập, công tác là

những lời khuyên tốt và thiết thực, giúp sinh viên có nhận thức đúng về vai trò

của ngoại ngữ. Các giảng viên ngoại ngữ có thể chia sẻ kinh nghiệm học ngoại

ngữ, tự học ngoại ngữ một cách chuyên nghiệp trên phương diện ngôn ngữ. Các

sinh viên các khoá khác nhau, các khối ngành khác nhau chia sẻ cho nhau những

suy nghĩ, những nhận định, những kinh nghiệm trên phương diện là người học

tập và tiếp thu.

Để thực hiện biện pháp này Phòng quản lý HSSV cần có kế hoạch cụ thể,

chi tiết và nên tổ chức vào đầu các khoá học, năm học. Các Khoa quản lý HSSV,

Khoa ngoại ngữ cùng đoàn thanh niên phối hợp chặt chẽ trong công tác này.

Phòng tài chính kế toán và Quản trị đời sống cần đảm bảo nguồn tài chính và cơ

sở vật chất cho các hội nghị và các cuộc toạ đàm.

3.2.1.2. Biện pháp 2: Sử dụng kết quả học tập môn ngoại ngữ làm một trong

những tiêu chuẩn cần thiết để xét học bổng, xét thi đua, phân chia lớp, giới thiệu

thực tập.

Đây là biện pháp tích cự nhằm tạo động lực để cho sinh viên cố gắng học

tập. Trong biện pháp này cần: Phổ biến rõ các tiêu chuẩn ngoại ngữ được sử

dụng trong xét phân chia lớp, hệ số tính điểm trong xét học bổng; Phổ biến điều

kiện trình độ ngoại ngữ để được giới thiệu thực tập ở các khách sạn, cơ sở du

lịch liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài.

Để biện pháp này phát huy tốt hiệu quả, Khoa ngoại ngữ cần phối hợp với

phòng đào tạo tổ chức các kỳ kiểm tra, thi nghiêm túc để lấy kết quả làm cơ sở

bình xét. Phòng quản lý HSSV cụ thể hoá các tiêu chuẩn ngoại ngữ xét giới

thiệu thực tập, hệ số môn ngoại ngữ trong xét học bổng và phối hợp với đoàn

thanh niên, giáo viên chủ nhiệm và cán bộ lớp phổ biến tới từng HSSV.



80



3.2.1.3. Biện pháp 3: Tạo điều kiện cho các sinh viên giỏi ngoại ngữ tham gia và

phục vụ các sự kiện lớn của đất nước, của ngành, của thành phố và của nhà

trường.

Cũng giống như các biện pháp khác trong nhóm, biện pháp này tạo động

lực cho sinh viên học tập tốt đặc biệt là khả năng thực hành giao tiếp (kỹ năng

Nghe – Nói). Vào đầu năm học, khoá học nhà trường tổ chức phổ biến các tiêu

chí lựa chọn sinh viên tham gia các hoạt động, sự kiện lớn của đất nước, của

ngành, của thành phố. Tổ chức lựa chọn một cách công bằng, khách quan.

Để việc lựa chọn được chính xác và công bằng cần có bộ tiêu chí về trình

độ ngoại ngữ, năng lực nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức và các chế độ đãi ngộ

cũng như các chế tài xử phạt rõ ràng.

3.2.1.4. Biện pháp 4: Chọn, cử sinh viên ưu tú, giỏi ngoại ngữ đi trao đổi học tập

ở nước ngoài và các khoá học do dự án nước ngoài tài trợ

Hàng năm, trường CĐDLHN được các dự án tài trợ một số suất học bổng

cho cán bộ giáo viên, HSSV đi học tập nâng cao trình độ ở nước ngoài. Vào đầu

khoá học cần phổ biến các tiêu chuẩn và cách thức tổ chức tuyển chọn để sinh

viên có hướng phấn đấu.

Để làm tốt công tác này, phòng Quan hệ quốc tế cần phối hợp với khoa

ngoại ngữ, phòng quản lý HSSV tổ chức thi tuyển theo đúng tiêu chuẩn của các

dự án, trường đối tác đảm bảo công bằng, lựa chọn đúng người.

3.2.1.5. Biện pháp 5: Xây dựng bầu không khí học tập tích cực cho sinh viên

Để hoạt động học tập nói chung, hoạt động tự học ngoạ ngữ nói riêng có

hiệu quả, không gây căng thẳng và kích thíc được hứng thú cho người học rất

cần bầu không khí và khí thế học tập tích cực, phấn khởi, lành mạnh, Nhà

trường cần phải thường xuyên thực hiện những công việc sau:

- Đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ theo hướng vận dụng các

phương pháp dạy học tích cực và trang thiết bị hiện đại

- Tổ chức thi đua học tập giữa các lớp, các khối ngành, khoá.

- Tổ chức câu lạc bộ ngoại ngữ (tiếng Anh)

81



- Tổ chức sinh hoạt tập thể dã ngoại nói ngoại ngữ (tiếng Anh) cùng với

các giảng viên ngoại ngữ, giáo viên bản ngữ.

- Tổ chức dự các bài giảng của chuyên gia trong lĩnh vực KS – DL bằng

ngoại ngữ (tiếng Anh).

- Đề cao điểm học tập

- Tổ chức các cuộc giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp học và tự

học ngoại ngữ

Để thực hiện biện pháp này thì, Phòng Tài chính – Kế toán, phòng quản

trị đời sống đảm bảo nguồn kinh phí, cơ sở vật chất cần thiết cho các hoạt động.

Phòng Đào tạo phối hợp với Khoa ngoại ngữ trong việc xây dựng chương trình

đảm bảo thời gian ngoại khoá, và phù hợp với phương châm đổi mới theo hướng

tập trung vào người học. Khoa ngoại ngữ chủ động xây dựng kế hoạch giảng

dạy phù hợp theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đảm bảo kiến thức cơ

bản, tăng khả năng giao tiếp và thời gian hoạt động ngoại khoá. Đoàn thanh niên

cần phối hợp chặt chẽ với khoa ngoại ngữ, phòng quản lý HSSV trong việc tổ

chức các câu lạc bộ ngoại ngữ, các cuộc thi ngoại ngữ.

Nhìn chung, để nhóm biện pháp này được thực hiện tốt cần thống nhất

đưa quan điểm đào tạo người làm du lịch “Thành thạo nghiệp vụ, giỏi ngoại

ngữ” của nhà trường thành các chương trình hành động cụ thể. Nghĩa là phải tổ

chức các cuộc giao lưu, các câu lạc bộ, các chuyến thăm quan thực tế, các cuộc

thi và đặc biệt phải lấy kết quả học tập môn ngoại ngữ làm tiêu chí riêng để xét

học bổng hay thi đua, chọn, cử sinh viên ưu tú tham gia các khoá học ở nước

ngoài hay do chuyên gia nước ngoài giảng dạy. Việc tổ chức các hoạt động và

xét duyệt này nên thực hiện thường xuyên hơn. Và nhà trường cần hợp tác hơn

nữa với các cơ sở đào tạo trong hệ thống các trường đào tạo du dịch trong khu

vực và trên thế giới và các trường có quan hệ liên kết với mình, các tổ chức quốc

tế trong việc cử, trao đổi sinh viên đi học tập.

3.2.2. Nhóm biện pháp xây dựng và phổ biến nội quy, quy định tự học ngoại

ngữ



82



Đây là nhóm biện pháp quan trọng, tạo cơ sở, căn cứ về pháp lý cho cán

bộ quản lý thực hiện công tác quản lý hoạt động tự học nói chung và quản lý tự

học ngoại ngữ nói riêng. Khi nhà trường đã có những nội quy, quy định hoạt

động tự học nói chung, tự học ngoại ngữ nói riêng phù hợp thì mọi sinh viên sẽ

tuân thủ theo, do đó hoạt động tự học ngoại ngữ sẽ đi vào nề nếp và kết quả sẽ

cao hơn. Nhóm biện pháp này bao gồm các biện pháp cụ thể sau:

3.2.2.1. Biện pháp 1: Rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới nội quy, quy

định tự học ngoại ngữ

Rà soát lại những nội qui, qui định về tự học nói chung, tự học ngoại ngữ

nói riêng hiện đang được áp dụng tại nhà trường. Sửa đổi, loại bỏ những qui

định không còn phù hợp với tình hình hiện nay của nhà trường. Xây dựng, bổ

sung những qui định mới nhằm giúp cho hoạt động tự học ngoại ngữ tốt hơn.

Biện pháp này giúp đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý tự học

ngoại ngữ góp phần tăng cường kết quả học tập.

Để thực hiện tốt biện pháp này Khoa Ngoại ngữ Du lịch cần phối hợp với

các phòng khoa chức năng thường xuyên xem xét đánh giá các nội qui, qui định

về tự học ngoại ngữ, đề nghị với Ban Giám hiệu nhà trường ra Quyết định sửa

đổi, bổ sung những qui định về học và tự học ngoại ngữ sao cho phù hợp với

tình hình phát triển của nhà trường theo từng giai đoạn.

3.2.2.2. Biện pháp 2: Thường xuyên quán triệt, phổ biến nội qui, quy định mới

hay mới được sửa đổi, bổ sung của nhà trường về tự học ngoại ngữ dưới nhiều

hình thức khác nhau.

Biện pháp này giúp nhà quản lý, giảng viên và sinh viên hiểu và thực hiện

đúng, nghiêm góp phần nâng cao hiệu quả của các quy định và hiệu quả tự học.

Để thực hiện tốt biện pháp này nhà trường cần phải tiến hành thực hiện

những công việc sau:

Phổ biến nội quy, qui định hiện có của nhà trường về hoạt động tự học và

tự học ngoại ngữ ở phòng đọc thư viện, phòng tự học, nhất là phòng học ngoại

ngữ đa phương tiện cho sinh viên ngay sau khi nhập học vào đầu mỗi khoá. Mỗi

83



học kỳ, năm học thực hiện lại công tác này để đánh giá hoặc khi có nội qui, qui

định sửa đổi, bổ sung thì phải tổ chức phổ biến ngay. Thể hiện các quy định trên

các biểu bảng, khẩu hiệu treo ở các phòng học, tự học, thư viện, kí túc xa. Nhắc

nhở các quy định trong các buổi sinh hoạt đoàn, cụ thể hoá các quy định thành

các nhiệm vụ.

Phòng Quản lý HSSV cần phối hợp chặt chẽ với Khoa Ngoại ngữ Du lịch

các phòng, khoa liên quan và đoàn thanh niên thực hiện phổ biến nội qui, qui

định tự học ngoại ngữ cho sinh viên.

3.2.3. Nhóm biện pháp hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tự

học ngoại ngữ cho sinh viên

Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tự học ngoại ngữ cho sinh viên

đó là một trong những chức năng cơ bản của quản lý tự học ngoại ngữ. Một khi

có kế hoạch hợp lí thì sinh viên sẽ tự học đạt hiệu quả cao hơn. Để xây dựng và

tổ chức thực hiện kế hoạch tự học ngoại ngữ cho sinh viên trường Cao đẳng Du

lịch Hà nội cần thực hiện những biện pháp sau:

3.2.3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch về thời gian tự học ngoại ngữ của sinh

viên phải dựa trên thời khoá biểu chung của nhà trường, thời khoá biểu cho các

khoá học và phòng học.

Biện pháp này giúp sinh viên xây dựng cho mình một kế hoạch tự học

ngoại ngữ làm sao đạt hiệu quả và bảo đảm sự tương xứng giữa thời gian tự học

và lượng thông tin của môn học mà không ảnh hưởng tới các môn học khác, các

hoạt động khác. Trong biện pháp này người lập kế hoạch cần phải định rõ lượng

thời gian cần thiết cho từng công việc và lập bảng thời gian cho từng công việc

đó.

Để giúp sinh viên có kế hoạch về thời gian tự học phù hợp thì Phòng đào

tạo phải có lịch học cho từng lớp theo từng khoá học, năm học, học kỳ trước.

Mỗi sinh viên phải tự mình xây dựng một bảng kế hoạch tự học ngoại ngữ dưới

sự cố vấn chuyên môn của các giảng viên .



84



3.2.3.2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch về nội dung và phương pháp tự học

ngoại ngữ cho sinh viên đáp ứng yêu cầu về học ngoại ngữ của khoa và nhà

trường.

Biện pháp này giúp sinh viên lựa chọn những nội dung và phương pháp

phù hợp với trình độ của bản thân để hoạt động tự học ngoại ngữ có hiệu quả,

tạo sự hưng phấn trong học tập và kích thích sự tìm tòi, khám phá, thực hành

của sinh viên.

3.2.3.3. Biện pháp 3: Tổ chức thực hiện kế hoạch tự học ngoại ngữ của sinh viên

đã xây dựng đảm bảo các yêu cầu sau: đảm bảo tính độc lập, tính tập trung, tiết

kiệm thời gian

Khi mỗi sinh viên đã có kế hoạch tự học ngoại ngữ của riêng mình Khoa

Ngoại ngữ kết hợp với phòng quản lý HSSV và các khoa chức năng tổ chức thực

hiện kế hoạch đó, cần phát huy vai trò của cán bộ lớp.

3.2.3.4. Biện pháp 4: Tổ chức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch tự học

ngoại ngữ

Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch tự học ngoại ngữ phải

được phòng Quản lý HSSV và Khoa ngoại ngữ thực hiện thường xuyên đảm bảo

rằng sinh viên thực hiện kế hoạch theo đúng thời gian và tiến độ. Khoa Ngoại

ngữ Du lịch cần hướng dẫn và kiểm tra nội dung và phương pháp tự học ngoại

ngữ của sinh viên

Tóm lại, để mỗi sinh viên có được kế hoạch tự học ngoại ngữ hợp lí, phù

hợp với bản thân và thực hiện kế hoạch tự học với chất lượng cao thì Khoa

Ngoại ngữ Du lịch và phòng Quản lý HSSV phối hợp chặt chẽ với các khoa

chức năng yêu cầu mỗi sinh viên tự lập kế hoạch tự học ngoại ngữ cho mỗi tuần,

tháng, học kỳ, năm học theo thời khoá biểu của nhà trường. Khoa ngoại ngữ

đóng vai trò chủ yếu trong việc tư vấn về nội dung và phương pháp tự học ngoại

ngữ cho sinh viên sao cho phù hợp với chương trình đào tạo và yêu cầu của

công việc, và đạt hiệu quả cao nhất.



85



3.2.4. Nhóm biện pháp quản lý nội dung và phương pháp tự học ngoại ngữ

của sinh viên

Để sinh viên có thể sử dụng thời gian tự học ngoại ngữ một cách tích cực,

hiệu quả, duy trì được hứng thú trong học tập thì nội dung và phương pháp tự

học phải đảm bảo tính phù hợp, vừa sức, hợp lí. Quản lý nội dung và phương

pháp tự học ngoại ngữ cần phải áp dụng những biện pháp sau:

3.2.4.1. Biện pháp 1: Quản lý nội dung tự học ngoại ngữ

Nội dung tự học đóng vai trò vô cùng quan trọng cho nên khi xây dựng kế

hoạch tự học ngoại ngữ cần phải đảm bảo sao cho phù hợp với trình độ nhận

thức và mục đích của việc tự học ngoại ngữ. Cần địn rõ lượng kiến thức ngôn

ngữ và mức độ kỹ năng ngôn ngữ cần đạt cụ thể. Để quản lý nội dung tự học

ngoại ngữ cần áp dụng những biện pháp cụ thể sau:

* Biện pháp 1: Giảng viên giao nhiệm vụ tự học cụ thể cho sinh viên có nghĩa là

giáo viên chỉ rõ từng phần việc sv phải làm cụ thể: Yêu cầu sinh viên tự nghiên

cứu sách, tài liệu bắt buộc: chỉ rõ chương, bài, tài liệu và nội dung gì cần phải

nắm; những nội dung cụ thể như yêu cầu sinh viên tự nghiên cứu tài liệu bắt

buộc; tài liệu tham khảo: tên sách, tên tác giả phần cần nghiên cứu, bài tập cần

làm; giao các bài tập bắt buộc sinh viên phải hoàn thành: các bài tập này phù

hợp với chương trình giảng dạy; gợi mở những vấn đề có liên quan đến kiến

thức để sinh viên luyện tập mở rộng

*Biện pháp 2: Đảm bảo nội dung tự học là những vấn đề thiết thực không quá

khó. Điều đó có nghĩa là nội dung tự học mà giáo viên giao cho sinh viên phải

sát với mục tiêu, yêu cầu đào tạo và gắn với mục đích sử dụng trong nghề

nghiệp tương lai; nội dung phải phù hợp với khả năng của sinh viên về tài liệu,

về trình độ nhận thức cố gắng tránh gây căng thẳng cho sinh viên; nội dung tự

học phải gắn liền với nội dung, kỹ năng thi, kiểm tra.

* Biện pháp 3: Tăng cường vai trò của giáo viên chủ nhiệm và cán bộ lớp.



86



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (128 trang)

×