1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.55 MB, 120 trang )


Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đƣợc hình thành và phát triển

theo sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Việc giáo dục đạo đức luôn là vấn đề

đƣợc đặt ra từ xa xƣa và luôn thay đổi theo sự thay đổi của xã hội.

Việc giáo dục đạo đức của học sinh trong nhà trƣờng đƣợc xem là vấn

đề quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học

sinh, vì thế đây là vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục trong và

ngoài nƣớc quan tâm.

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.1. Ở phương Đông

Từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN) trong các tác phẩm: “Dịch,

Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức. Trong

các lời giáo huấn của ông đều nhấn mạnh đến “lý” đó là cách ứng xử thích

hợp, đúng mức.

Ông khuyến khích việc thờ cúng tổ tiên, coi đó là hình thức thể hiện

đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ. Ông coi đạo hiếu là đức tính cao quý nhất,

là nền tảng của gia đình và nƣớc nhà. Gia đình là hạt nhân của nƣớc và “ngũ

thƣờng” tức là 5 mối quan hệ: quân thần (giữa vua và bầy tôi), phu thê (giữa

chồng và vợ), huynh đệ (giữa anh và em) bằng hữu (giữa bạn bè với nhau)

đƣợc xác định bởi 3 đức tính: hữu ái, chính trực và biết tôn trọng [19, tr.7].

1.1.1.2. Ở phương Tây

Ở phƣơng Tây có nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng

đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có đƣợc đạo đức là nhờ ở sự hiểu

biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức [7, tr.99].

Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thƣợng đế

áp đặt để có ngƣời công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu



-5-



trên trái đất, phát triển những quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên đƣợc

con ngƣời hoàn thiện trong quan hệ đạo đức [7, tr.102]. .

Phoiơbắc (1804 - 1872) nhấn mạnh đạo đức chỉ tồn tại ở đâu đó trong quan

hệ giữa ngƣời với ngƣời, đâu có mối quan hệ giữa tôi và anh... [7, tr.142].

1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước

Nghiên cứu về giáo đạo đức cho thế hệ trẻ là một nội dung giáo dục

quan trọng, nhằm giúp các nhà trƣờng thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện

nhân cách ngƣời học.

Khi còn sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà

không có đức thì là ngƣời vô dụng”. Từ quan điểm đó Ngƣời coi trọng mục

tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trƣờng nhƣ: “Đoàn kết tốt”,

“Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”.

Hồ Chí Minh có những chỉ dẫn quan trọng mang ý nghĩa khái quát rất

cao về thái độ đạo đức và giá trị đạo đức. Ngƣời đòi hỏi phải nghiêm khắc với

mình và rộng lòng khoan thứ với ngƣời. Ngƣời nêu rõ: “Con ngƣời cần có

bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành

ngƣời”. Theo Hồ Chí Minh, có cần, có kiệm, có liêm thì mới chính đƣợc. Đủ

cả bốn đức ấy mới là ngƣời hoàn toàn. Ấy là xét ở phạm vi tu dƣỡng đạo đức

cá nhân. Còn xét rộng ra, với một dân tộc, có đủ cả cần - kiệm - liêm - chính

thì dân tộc đó sẽ vừa giàu có về vật chất lại vừa cao quý văn minh về mặt tinh

thần. Ở đây, Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh đạo đức là giá trị căn bản để

làm ngƣời mà còn đề cập tới một cách sâu sắc vai trò động lực của đạo đức

đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội [33, tr.448-455].

Kế thừa tƣ tƣởng của Ngƣời, GS.TS. Phạm Minh Hạc - nhà Tâm lý

học hàng đầu nƣớc ta đã nêu lên các định hƣớng giá trị đạo đức của con ngƣời

Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bàn về thực trạng

cũng nhƣ giải pháp ở tầm vĩ mô về giáo dục-đào tạo con ngƣời Việt Nam theo

định hƣớng trên. Về mục tiêu giáo dục, Ông nêu rõ “Trang bị cho mọi ngƣời



-6-



những tri thức cần thiết về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức nhân văn kiến thức

pháp luật văn hóa xã hội. Hình thành cho mọi công dân có thái độ đúng đắn,

tình cảm, niềm tin, đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi ngƣời, với sự

nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc với mọi hiện tƣợng xảy ra xung quanh tổ

chức tốt giáo dục thế hệ trẻ, giúp họ để mọi ngƣời tự giác thực hiện những

chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định, nỗ lực học tập

rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc [24, tr.168-170].

Năm 1979 Bộ chính trị và Trung ƣơng Đảng đã ra Nghị quyết về cải

cách giáo dục và Uỷ ban cải cách giáo dục Trung ƣơng đã ra quyết định số 01

về cuộc vận động tăng cƣờng giáo dục đạo đức cách mạng trong trƣờng học

đã ghi rõ: “Nội dung đạo đức cần đƣợc giáo dục cho học sinh từ mẫu giáo đến

đại học, nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy”.

Nghị quyết của hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng

khoá VIII có nêu: “Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ ở

tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tƣ tƣởng, nhân cách,

khả năng tƣ duy sáng tạo và năng lực thực hành”. Với tƣ tƣởng này, Đảng và

nhà nƣớc ta đã đặt con ngƣời vào vị trí trung tâm: con ngƣời là mục tiêu và là

động lực của sự phát triển [2].

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà

Nội đã có những đóng góp rất quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu này với các

tác giả: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Minh Hạc,

Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác. Để đi đến các quan niệm và giải pháp

về giáo dục đạo đức, các tác giả đã lựa chọn cho mình những cách tiếp cận

khác nhau, tạo ra một sự đa dạng, phong phú về nội dung và phƣơng pháp

nghiên cứu.

Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức

thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã



-7-



hội và nhân văn, rèn luyện phƣơng pháp tƣ duy khoa học để trên cơ sở đó

giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dƣỡng ý thức đạo đức, hƣớng dẫn

thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh [8, tr.8].

Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động

giáo dục lao động, giáo dục hƣớng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với giáo

dục đạo đức nhằm đạt đƣợc mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý

tƣởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ [8, tr. 8-9].

Trong các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức từ sau Đại hội

Đảng lần thứ VI (1986), cần kể đến một số đề tài nhƣ công trình mang mã số

NN7: "Cải tiến công tác giáo dục tƣ tƣởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho

học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân" do Phạm Tất Dong làm

chủ nhiệm.

Đề tài NN7 đã mang lại nhiều nội dung mới về giáo dục đạo đức, chính

trị và tƣ tƣởng trong các trƣờng từ tiểu học đến đại học những năm đầu của

thập kỷ 90.

Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, do nhận thức đƣợc tầm quan

trọng đặc biệt của nhân tố con ngƣời, nhiều nhà khoa học có uy tín đã tập hợp

trong chƣơng trình nghiên cứu khoa học, công nghệ quốc gia KX.07 (1991 1995) do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm nhằm nghiên cứu các đề tài về con

ngƣời với tƣ cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển.

Khai thác dƣới góc độ “Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo

dục đạo đức cho học sinh THPT của huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai” đó

là kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Đáp (Luận văn Thạc sĩ - 2005).

Khai thác dƣới góc độ “Các biện pháp quản lý nhằm tăng cƣờng giáo

dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên trƣờng Cao đẳng - Tài chính

Thái Nguyên” đó là kết quả nghiên cứu của tác giả Chu Mạnh Cƣờng (Luận

văn Thạc sĩ - 2009).



-8-



Trong những năm gần đây trƣớc vấn đề hội nhập, công tác giáo dục,

chính trị, đạo đức, pháp luật cho học sinh trong các nhà trƣờng đƣợc Đảng,

Nhà nƣớc quan tâm thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, các quyết định về

công tác giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức pháp luật trong các nhà trƣờng

cụ thể là:

- Nghị quyết TƢ 5 khóa IX từng bƣớc đổi mới công tác giáo dục chính trị tƣ

tƣởng.

- Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tăng cƣờng công tác tƣ tƣởng rèn

luyện phẩm chất đạo đức cách mạng.

- Nhiệm vụ và giải pháp tăng cƣờng công tác tƣ tƣởng trong tình hình hiện

nay (Ban Tƣ tƣởng văn hóa Trung ƣơng- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia).

1.2. Một số khái niệm lên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Khái niệm về quản lý

Từ khi con ngƣời sống thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao

động thì bắt đầu xuất hiện sự quản lý. Tính chất của việc quản lý thay đổi và

phát triển theo sự phát triển của xã hội loài ngƣời, nhằm bảo đảm cho sự tồn

tại và phát triển của xã hội.

Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ “quản lý” đƣợc định nghĩa

là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”[20, tr. 326].

Theo K.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”. K.Marx đã

viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô

lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá

nhân... Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhƣng một dàn nhạc thì

phải có nhạc trƣởng” [47, tr. 350].

Nhà triết học V.G. Afnatsev cho rằng, quản lý xã hội một cách khoa

học là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hƣớng vận động của xã

hội và hƣớng sự vận động của xã hội cho phù hợp với các khuynh hƣớng đó;

là phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển; là duy trì



-9-



sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống; là tiến hành một đƣờng

lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan,

mối tƣơng quan giữa các lực lƣợng xã hội...[20, tr. 326].

Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa

học về lao động đã đƣa ra định nghĩa: “Quản lý là biết đƣợc chính xác điều

bạn muốn ngƣời khác làm, và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công

việc một cách tốt nhất [20, tr. 327].

Harold Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu,

nó đảm bào phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục

đích của tổ chức. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trƣờng mà trong

đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc,

vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [20, tr. 327].

Henry Fayol (1841-1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt

động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hoá, tổ chức,

chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” và sau này đƣợc kết hợp lại thành 4 chức năng

cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Những cống hiến

của ông về lý luận quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến

nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn [20, tr. 327-328].

Tác giả Hà Sĩ Hồ đã định nghĩa “Quản lý là một quá trình tác động có

định hƣớng, có tổ chức lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các

thông tin về tình trạng của đối tƣợng và môi trƣờng, nhằm giữ cho sự vận

hành của đối tƣợng đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã

định” [19, tr.11]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là

khách thể quản lý, nhằm thực hiện đƣợc mục tiêu dự kiến” [20, tr. 341].



- 10 -



Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hƣớng, có

chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm

cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức [31, tr. 1].

Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại:

“Quản lý là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm định hƣớng, tổ chức, sử

dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm ngƣời hay một

cộng đồng ngƣời để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.

Công cụ quản lý



Chủ thể

quản lý



Khách thể

quản lý



Mục

tiêu

QL



Phƣơng pháp quản lý

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về quản lý

1.2.1.1. Bản chất quản lý

Đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối

tƣợng quản lý để đạt mục tiêu đã xác định. Các hoạt động của chủ thể quản lý

chính là việc dựa vào các nguồn lực, nhân lực để lập kế hoạch, tổ chức, chỉ

đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá hiệu quả đạt đƣợc theo mục tiêu

đã đề ra.

1.2.1.2. Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông

qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một

mục tiêu nhất định gồm 4 chức năng cơ bản sau đây:

- Dự báo và lập kế hoạch.



- 11 -



- Tổ chức thực hiện kế hoạch.

- Lãnh đạo/Chỉ đạo thực hiện kế hoạch.

- Kiểm tra, đánh giá.

Tuy nhiên, xác định các chức năng quản lý không thể rạch ròi, riêng

biệt từng chức năng mà là quá trình đan xen, kết hợp để thực hiện mục tiêu

cuối cùng của một quá trình quản lý. Những chức năng trên là phổ biến với

mọi nhà quản lý, quản trị của một tổ chức song có sự khác nhau ở mức độ

tầng cấp quản lý.

1.2.1.3. Các nguyên tắc quản lý

- Nguyên tắc mục tiêu

Mục tiêu là mối quan tâm hàng đầu của mọi tổ chức, đơn vị … nên hoạt

động quản lý phải coi mục tiêu là nguyên tắc cơ bản để định hƣớng, chi phối

các nguyên tắc khác.

Việc tổ chức thực hiện mục tiêu, phải cụ thể hoá mục tiêu chung của tổ

chức thành các mục tiêu cụ thể và phân công cho các cá nhân, bộ phận trong

tổ chức để thực hiện. Chỉ khi tổ chức đạt đƣợc mục tiêu thì mới thoả mãn

đƣợc lợi ích.

- Nguyên tắc thu hút sự tham gia của tập thể (Tập trung dân chủ)

Vừa phải tập trung thống nhất trong hoạt động quản lý vừa phải dân

chủ công khai để có thể huy động và khai thác đƣợc trí tuệ của tập thể, giúp

cho chủ thể quản lý luôn luôn chủ động trong việc tổ chức điều hành cũng

nhƣ đảm bảo sự tác động của chủ thể lên đối tƣợng quản lý trong bất kì hoàn

cảnh điều kiện nào. Mặt khác việc quan tâm thu hút sự tham gia của tập thể

yêu cầu không thể coi nhẹ để tạo ra sự thống nhất ý chí của các chủ thể với

đối tƣợng để cùng hƣớng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức.

- Nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa các lợi ích



- 12 -



Nguyên tắc này tạo cho mối quan hệ giữa các nhà quản lý với đối tƣợng

quản lý có sự cởi mở và tác động qua lại nhau một cách tích cực. Cần phải đƣợc

kết hợp hài hoà các lợi ích ngay từ khi hoạch định và phát triển tổ chức.

Thông qua giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích sẽ tạo nên tính thống nhất

trong tổ chức, đảm bảo cho tổ chức hoạt động đồng bộ thông suốt, ít nảy sinh

các mâu thuẫn cục bộ.

- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả cao

Tiết kiệm và hiệu quả là mục đích của mọi hoạt động quản lý. Hoạt

dộng quản lý là hoạt động có định hƣớng, có chủ đích. Việc đạt đƣợc mục

tiêu sẽ làm thoả mãn những lợi ích mà tổ chức mong muốn. Tuy nhiên để đạt

tới lợi ích một cách tối đa với các chi phí hợp lý nhất thì các nhà quản lý phải

quan tâm đến tiết kiệm và hiệu quả cao.

- Nguyên tắc thích ứng linh hoạt

Nhà quản lý phải có đƣợc tƣ duy mềm dẻo, linh hoạt, nhậy cảm và

khách quan trong việc nhìn nhận đánh giá vấn đề, tránh lối tƣ duy bảo thủ, trì

trệ, cứng nhắc, quan liêu, vì những thói quen này sẽ phá hỏng sự tồn tại của tổ

chức và sự phát triển của tổ chức.

- Nguyên tắc khoa học hợp lý

Hoạt động quản lý không thể dựa theo kinh nghiệm mà phải dựa vào

những căn cứ khoa học.

Dựa trên những vấn đề khoa học, đảm bảo tính khách quan và biện

chứng. Hoạt động quản lý không thể cứng nhắc mà phải có sự linh hoạt, đảm

bảo tính hợp lý.

- Nguyên tắc phối hợp hoạt động các bên có liên quan

Nhà quản lý phải biết liên kết phối hợp với các tổ chức khác để khai

thác hết tiềm năng của họ, tăng cƣờng sức mạnh cho mình và hạn chế

những điểm yếu của tổ chức mình. Đặc biệt với địa phƣơng, vùng lãnh thổ

của tổ chức.



- 13 -



1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục

Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn đƣợc

hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông

qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trƣớc

cho các thế hệ sau. Cũng nhƣ bất kỳ một hoạt động xã hội nào, hoạt động

giáo dục cần đƣợc tổ chức và quản lý với cấp độ khác nhau (nhà nƣớc, nhà

trƣờng, lớp học...) nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu

giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển của các thể chế chính trị-xã

hội ở các quốc gia.

P.V Khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ

thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác

nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản

chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ

trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật khách quan của quá trình dạy

học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em” [20, tr. 341]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là những tác động có

hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp

khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm

bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình

giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em” [20, tr. 341].

Theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động

có mục đích, có kế hoạch phù hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho

hệ thống vận hành theo đƣờng lối giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính

chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá

trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến

lên trạng thái mới về chất” [20, tr. 341].

Trong tài liệu “Tổng quan về lý luận quản lý giáo dục” của trƣờng

Cán bộ Quản lý Giáo dục - Đào tạo có nêu: “Quản lý giáo dục là một loại



- 14 -



hình quản lý đƣợc hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý nhằm đƣa hoạt động sƣ phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết

quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [19, tr.12] .

Bản chất của quản lý giáo dục đƣợc biểu hiện ở các chức năng quản lý.

Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đƣa

đến một kết luận tƣơng đối thống nhất về 5 chức năng cơ bản của quản lý là:

kế hoạch hoá; tổ chức; kích thích; kiểm tra; điều phối [50, tr. 146].

- Kế hoạch hoá: lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch.

- Tổ chức: tổ chức triển khai, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm.

- Kích thích: khuyến khích, tạo động cơ.

- Kiểm tra: kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích.

- Điều phối: phối hợp, điều chỉnh.

Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình

quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phƣơng pháp quản lý và là cơ

sở để phân công lao động quản lý.

Vậy có thể khái quát sự quản lý giáo dục qua sơ đồ sau:



Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hệ thống quản lý giáo dục

1.2.3. Khái niệm về quản lý nhà trường phổ thông

Quản lý nhà trƣờng là một bộ phận trong quản lý giáo dục. Nhà trƣờng

chính là nơi tiến hành các quá trình giáo dục có nhiệm vụ trang bị kiến thức



- 15 -



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×