1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG PHONG CÁCH QUẢN LÍ DÂN CHỦ CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 113 trang )


Hoạt động của con người có tính hai mặt, hay còn gọi là hai quá trình thâm

nhập, đan xen vào nhau. Đó là quá trình con người tác động thế giới đồ vật (đối

tượng hoá và quá trình thế giới đồ vật tấc động đến con người (chủ thể hoá). Hai

quá trình này tạo cho hoạt động những đặc điểm cơ bản sau:

- Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng (có thể là vật chất hoặc tinh thần)

- Hoạt động bao giờ cũng mang tính chủ thể, bao giờ cũng do một chủ thể,

một cá nhân hay một nhóm người tiến hành.

- Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích.

- Hoạt động mang tính tích cực.

- Hoạt động mang tính gián tiếp

Nghiên cứu về hoạt động của con người có thể khái quát thành 4 loại hoạt

động chính là : Hoạt động vui chơi; Hoạt động học tập; Hoạt động lao động (làm

việc); Hoạt động giao tiếp. Mỗi hoạt động nói trên sẽ là hoạt động chủ đạo đối

với từng giai đoạn lứa tuổi của con người. Hoạt động lao động là hoạt động cơ

bản và phổ biến với mọi người.

Lao động là hoạt động có mục đích của con người. Lao động dưới bất cứ

hình thái kinh tế xã hội nào cũng đều diễn ra trong sự kết hợp của 3 yếu tố : công

cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động (chủ thể lao động). Lao động do

đó cần phải được tổ chức. Tổ chức lao động là quá trình tuyển chọn, sắp xếp, bố

trí sức lao động của con người (chủ thể) trong việc sử dụng các công cụ lao động

(ngôn ngữ, tư duy …) tác động lên đối tượng lao động nhằm đạt được mục đích

của quá trình đó.

Lao động bao gồm lao động chân tay và lao động trí óc. Lao động chân tay

là loại hình lao động chủ thể tác động trực tiếp tới công cụ (phương tiện) lao

động cho dù công cụ vô cùng hiện đại. Lao động trí óc là loại lao động gián tiếp



13



với cả công cụ lao động theo nghĩa thông thường và công cụ đặc biệt là thông tin

tra cứu và tư duy.

1.1.1.2. Lao động quản lí

- Quản lý

Khi con người phối hơp ý chí và hành động với nhau một các có ý thức sẽ

hình thành nhóm (tổ chức). Một trong những đặc trưng của nhóm là xuất hiện cá

nhân có ưu thế hơn các cá nhân khác và có khả năng chi phối đối với các cá nhân

đó. đây là biểu hiện và là mầm mống của hoạt động sẽ được chuyên môn hoá với

tên gọi: Quản lí. Như vậy, quản lí xuất hiện một cách tất yếu cùng với hình thức

tồn tại đặc bịêt của con người trong thế giới khách quan – hình thức nhóm ( xã

hội).

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lí, tuy nhiên

những dấu hiệu chung của quản lí được các định nghĩa đề cập đến bao gồm:

+ Phải có chủ thể (cá nhân hoặc một nhóm người)

+ Phải có mục tiêu

+ Phải có khách thể (đối tượng quản lý).

Từ những dấu hiệu trên, có thể quan niệm: Quản lý là tác động có định

hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức

nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã xác định.

Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý thông

qua thực hiện sáng tạo các chức năng để tổ chức vận hành tiến lên một trạng thái

mới về chất.

Xét theo phương diện chính trị xã hội, quản lý là thuộc tính của bất kỳ xã

hội nào, là quá trình phát triển của xã hội, kết hợp tri thức với lao động để quản

lý các quá trình xã hội, quản lý con người. Mục tiêu của quản lý là vận dụng linh



14



hoạt cơ chế quản lý tác động đến con người một cách hợp qui luật để đạt điều

kiện tối ưu cho người lao động.

Xét theo phương diện kĩ thuật - hành động, quản lý là quá trình điều

khiển, tác động đến bộ máy nhằm đạt mục tiêu :

Tổ chức, sắp xếp sao cho tối ưu nhất chống lại sự lộn xộn.

Kích thích thúc đẩy, điều hành, chỉ huy.

Vậy : Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể nhằm điều khiển,

hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người để đạt

mục tiêu, mục đích, đạt ý chí của người quản lí và phù hợp với quy luật khách

quan.

Một xã hội, một tổ chức hay một cộng đồng muốn phát triển tốt, trước hết

phải có một cơ chế quản lý tốt. Cơ chế ấy phải chi phối và tác động vào mọi lĩnh

vực hoạt động của hệ thống tổ chức, xã hội và làm cho nó vận động theo chiều

hướng tích cực mà chủ thể quản lý đã định hướng từ trước.

Xét về mặt chức năng, quản lý có 4 chức năng cơ bản:

+ Kế hoạch hoá : Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích

đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức

để đạt được mục tiêu, mục đích đó

+ Tổ chức : Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển

hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực, Một tổ chức lành mạnh sẽ

có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế. Xét về mặt chức năng quản

lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên,

giữa các bộ phận trong một tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiện thành công các

kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu



15



quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân

lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản

lý và sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả. Tổ chức

chính là sắp xếp và phân phối nguồn lực để hiện thực hoá các mục tiêu đề ra

+ Lãnh đạo (chỉ đạo) : Là bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và

động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt mục tiêu của tổ chức.

Lãnh đạo là ảnh hưởng đến hành vi, thái độ người khác nhằm đạt tới mục tiêu,

được thực hiện sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân

sự đã được tuyển dụng.

+ Kiểm tra : Là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân,

một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến

hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết, từ đó đánh giá và điều

phối các hoạt động nhằm đạt mục tiêu.

- Lao động quản lý

Khái niệm quản lý cho ta thấy đó là một loại hình lao động – là một nghề

– là một nghệ thuật.

Xét về mặt tính chất đặc điểm : Lao động quản lý là lao động trí óc được

tách thành 3 dạng :

+ Loại lao động trí óc tạo ra sản phẩm lao động có thể tách riêng ra nhưng

vẫn gắn với bản thân người lao động (người ra quyết định không trực tiếp tham

gia người quản lý)

+ Các hoạt động lao động không tách riêng bản thân người lao động

(người ra quyết định là người tham gia quản lý trực tiếp)

+ Tạo ra sản phẩm không tách riêng và được đóng góp vào giá trị chung

của nhân loại, xã hội (địa phương).



16



Xét đối tượng, công cụ và sản phẩm của lao động của người quản lý cho thấy :

+ Đối tượng của lao động quản lý là con người và thông tin (đầy đủ, kịp

thời, chính xác)

+ Công cụ của lao động quản lý có 3 khía cạnh cơ bản :

Tư duy : Học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Hệ thống phương tiện kỹ thuật (không thể thiếu với người quản

lý)

Thông tin tra cứu (công cụ lao động là quan trọng, là văn bản

pháp quy, chỉ thị, nghị quyết .. )

+ Sản phẩm của lao động quản lý là những quyết định quản lý như các

mệnh lệnh, kế hoạch, chỉ thị...

Có thể khái quát những phan tích trên bằng hình 1.1.dưới đây:

Đối tượng lao động

quản lý



Công cụ quản lý



- Con người



- Tư duy



- Thông tin



Sản phẩm quản lý



- Quyết định quản lý



- Phương tiên kỹ thuật



Hình 1.1: Quan hệ giữa đối tƣợng, công cụ và sản phẩm của lao động QL

Các kĩ năng quản lý được khái quát thành 3 nhóm :

+ Nhóm 1 : Kỹ năng kỹ thuật là kỹ năng thực hiện một quy trình công việc

nào đó. Đây là nhóm hết sức cơ bản.



17



+ Nhóm 2 : Kỹ năng quan hệ con người là kỹ năng hiểu được người khác

quan hệ một cách có hiệu quả với họ, kết hợp họ làm việc với nhau thành một

nhóm (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chuyển giao thông tin).

+ Nhóm 3 : Kỹ năng nhận thức là kỹ năng nhìn thấy “vấn đề” trong những

sự việc đang diễn ra, kỹ năng phân tích, tổng hợp, phán đoán và dự báo (ra quyết

định cần vận dụng kỹ năng nhận thức).

Như vậy qua xem xét về mặt tính chất, đặc điểm, đối tượng công cụ sản

phẩm và kỹ năng rõ ràng lao động quản lý là một nghề - nghề quản lý.

Mặt khác lao động quản lý không chỉ là một nghề mà còn là một nghệ

thuật. Những cơ sở khoa học xác định tính nghệ thuật của lao động quản lý được

thể hiện như hìh 1.2. và 1.3.dưới đây:

Cơ sở khoa học của nghệ thuật quản lý



Tiềm năng

của hệ

thống



Tri thức và

thông tin



Giữ bí mật ý

đồ của hệ

thống



Sự quyết

đoán của

lãnh đạo



Sử dụng

mưu lược



Hình 1.2: Cơ sở khoa học của nghệ thuật quản lý



Nghệ thuật quản lý



Các mục tiêu phải đạt được



Các



Các



Các



Các



tiềm năng



phương pháp



mưu lược



thời cơ



18



Hình 1.3: Quản lý là một nghệ thuật

Thực chất của nghệ thuật quản lý là việc vận dụng tri thức mưu lược,

phương pháp và uy tín quản lý để sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các

cơ hội của hệ thống đạt được mục đích và mục tiêu của quản lý đề ra trong điều

kiện biến động của môi trường.

Vận dụng tri thức là năng lực hiểu biết các quy luật của quản lý, sự khôn

khéo của con người để nhận biết, phân tích, dự báo, xử lý vấn đề quản lý, là kế

hoạch, sách lược dựa trên cơ sở thực tế khách quan và tri thức quản lý để vạch ra

kế hoạch và phương hướng hành động thích hợp.

Với những phân tích trên, lao động quản lý là một hoạt động. Không

những thế, hoạt động quản lý là hoạt động đặc biệt của con người (người quản

lý). Hoạt động này có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Nó thực hiện quan

hệ quản lý. Đó là quan hệ công việc, quan hệ con người để đạt mục tiêu con

người và công việc (mục tiêu kép)

Như vậy, lao động quản lý có 4 đặc điểm cơ bản:

(1)- Là hoạt động phức tạp tổng hợp về nhiều mặt chính trị, kinh tế, xã hội

và chuyên môn, huy động toàn bộ tiềm năng, trí tuệ của cán bộ quản lý. Thu

thập, sử lý, sử dụng thông tin để đề ra những quyết định, tổ chức, thực hiện và

đánh giá.

(2)- Là hoạt động diễn ra trong điều kiện thiếu thông tin gay gắt, thúc ép

về thời gian, đòi hỏi nhanh nhậy, chính xác, linh hoạt không được chệch hướng,

có trách nhiệm cao, diễn ra trong khoảnh khắc.

(3)- Là hoạt động tổ chức gián tiếp



19



(4)- Là hoạt động mang lại sản phẩm kép :



Công việc

Con người



1.1.2. Phong cách lao động và phong cách quản lý

1.1.2.1. Phong cách lao động

Mỗi người đều có một phong cách trong cuộc sống và trong hoạt động.

Phong cách được hình thành và thể hiện trong hoạt động của con người.

Phong cách là toàn bộ phương pháp, cách thức tương đối tiêu biểu và ổn

định của cá nhân hoặc của nhóm người thường sử dụng trong hoạt động của

mình.

Nói đến phong cách là nói đến các phương pháp, cách thức sinh hoạt và

hoạt động, đặc biệt là phương pháp, cách thức làm việc (lao động) của con

người. Những phương pháp và cách thức này có tính tiêu biểu và ổn định. Do

vậy, phong cách như là đặc điểm (đặc trưng) của con người.

Cấu trúc của phong cách gồm hai thành phần :

- Thành phần ổn định : Ảnh hưởng của đặc điểm tâm sinh lý cá nhân, đặc

điểm nghề nghiệp.

- Thành phần cơ động : Tác động của tình huống làm việc đòi hỏi.

Với cách hiểu như trên, có thể định nghĩa khái niệm phong cách lao động

như sau: Phong cách lao động (làm việc) là toàn bộ phương pháp, cách thức

tương đối tiêu biểu và ổn định của một cá nhân hoặc của một nhóm người trong

việc làm (lao động) hàng ngày của họ.

1.1.2.2. Phong cách quản lý

Khái niệm phong cách quản lý được xây dựng thông qua việc phân tích

khái niệm phong cách làm việc theo những đặc điểm, nội dung của hoạt động

quản lý.



20



Từ nội hàm của khái niệm quản lý và quan niệm về lao động quản lý có,

thể quan niệm: Phong cách quản lý là toàn bộ phương pháp, cách thức và một số

nguyên tắc tiêu biểu và ổn định mà một cán bộ quản lý thường dùng trong hoạt

động quản lý.

Khái niệm trên cho thấy phong cách quản lý có 2 thành phần :

- Thành phần ổn định : ảnh hưởng của đặc điểm tâm sinh lý cá nhân của

người quản lý, đặc điểm nghề quản lý.

- Thành phần cơ động : đó là tình huống quản lý

Cả hai thành phần ổn định và cơ động tạo ra phong thái của người quản lý

hay phong cách quản lý.

Các thành phần trong phong cách quản lý có cái chung, cái riêng và cái

đơn nhất :

Cái chung : Với mọi cán bộ quản lý đều có cái chung đó là phương

pháp làm việc chung cho tất cả các ngành, các cấp do chế độ chính

trị xã hội quy định

Cái riêng : Có phương pháp đặc thù từng ngành, từng cấp hay mỗi

cấp có một đặc thù riêng.

Cái đơn nhất : Đó là phong cách mang đặc thù của từng cá nhân,

của từng cơ quan, không lặp lại ở cá nhân khác và cơ quan khác. Ở

mỗi cá nhân khác nhau có lời ăn, tiếng nói, thói quen, cách làm việc

khác nhau.

1.2. PHONG CÁCH QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG THPT

1..2.1. Quản lý giáo dục và quản lý trƣờng học

- Quản lý giáo dục



21



Khoa học quản lý giáo dục là một bộ phận chuyên biệt của khoa học

quản lý nói chung, là một khoa học tương đồi độc lập vì tính đặc thù của hệ

thống giáo dục quốc dân. Khoa học quản lý giáo dục tập trung nghiên cứu

những vấn đề cơ bản như:

+ Quản lý hệ thống giáo dục quốc dân từ Trung ương đến địa phương

bao gồm tắt cả các tất cả các ngành học. Quản lý các phân hệ của nó, đặc

biệt là quản lý trường học.

+ Nghiên cứu các mối quan hệ quản lý giáo dục diễn ra trong các

thành phần của hệ thống.

+ Nghiên cứu các phương pháp, nguyên tắc, cấu trúc, chức năng vận

hành của hệ thống giáo dục.

+ Nghiên cứu các quy luật kinh tế – chính trị – văn hoá - xã hội tác

động đến sự vận hành của hệ thống giáo dục.

Các nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục đã xây dựng nên khái

niệm quản lý giáo dục. Tuy nhiên, có nhiều cách biểu đạt khác nhau đối với

khái niệm này. Theo M.I. Kônđacôp: Quản lý giáo dục là tập hợp các biện

pháp như: tổ chức, kế hoạch, sử dụng nguồn vốn ....nhằm đảm bảo sự vận hành

bình thưồng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở

rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng.[9]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống

những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý

nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực

hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ

là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự

kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.[9]



22



Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều

hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế

hệ trẻ theo nhu cầu phát triển xã hội”.[1]

Từ những khái niệm trên, chúng tôi quan niệm: Quản lý giáo dục là quá

trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động của giáo dục nhằm

thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác định.

Quản lý giáo dục được biểu hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo,

chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học,

quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, quản lý người học và chất lượng giáo dục đào tạo…

Vì bản chất của giáo dục mang tính xã hội hoá cao nên quản lý giáo

dục cũng mang tính xã hội. Thực tế cho thấy không có ngành nào chịu mối

quan hệ tác động qua lại hai chiều Giáo dục - Xã hội nhạy cảm và sâu sắc

như Giáo dục - Đào tạo. Vì thế, quản lý giáo dục chịu sự chi phối của xã

hội rất lớn.

- Quản lý trƣờng học

Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính pháp lí vừa là

một tổ chức xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ.

Trường học là thành tố cơ bản, là bộ phận chủ chốt của hệ thống giáo

dục quốc dân. “ Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành

lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo

dục và được tổ chức theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư

thục..”[ 14, tr 34]

Theo tác giả Jac ques Hallk: Quản lý giáo dục trên nền tảng nhà trường

có thể định nghĩa như một sự thay đổi trong phân bố cấu trúc quyển lực



23



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×