1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 130 trang )


đề ra trong việc thiết kế các bài tập nhận thức nhất là bài tập nêu vấn đề để SV thực

hiện trong thời gian tự học đó là trách nhiệm của người giáo viên.

Các nhà giáo dục phương Tây nổi lên cuộc cách mạng tìm phương pháp khai

thác “cái tôi” trong người học. Như Montaigne, ông kêu gọi các nhà giáo “Tốt hơn

là ông thầy nên để cho học trò tự đi lên phiá trước mà nhận xét bước đi của họ,

đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức của trò”.

Sau chiến tranh thế giới thứ II, các nước tây Âu và Mỹ đã tìm những phương

pháp giáo dục mới, dựa trên cơ sở “Lấy người học làm trung tâm” để phát huy hết

năng lực của người học. Các kỹ năng được tích luỹ phải bằng hoạt động do người

học tiến hành với sự giúp đỡ của giáo viên. Đại diện cho tư tưởng này là J.Deway

ông cho rằng “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo

dục”{18}. Ngoài ra các phương pháp dạy học theo tư tưởng này cũng đã được đưa

vào thực nghiệm như: “Phương pháp tích cực”, “Phương pháp cá thể hoá”, “Phương

pháp hợp tác”. Đây là những phương pháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến

thức bằng cách nghe thầy giảng mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm tòi để biến kiến

thức của sách vở, của thầy thành kiến thức của mình, Giáo viên chỉ là trọng tài, thiết

kế, đạo diễn, tổ chức, giúp đỡ học sinh biết cách học, biết cách làm...Các nhà

nghiên cứu qua thực nghiệm cũng đã chỉ ra những hạn chế nhất định của các

phương pháp đó là không thể ứng dụng cho mọi loại tri thức, không thể vận dụng

mọi lúc, mọi nơi mà còn phải phụ thuộc vào trình độ tổ chức và thực hiện của mỗi

giáo viên, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tính tự nguyện học hỏi của mỗi cá nhân

người học.

Nhiều nhà giáo dục ở Châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học của học

sinh. Nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật ông T.Makiguchi đã trình bày những tư

tưởng giáo dục mới trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”. Ông cho rằng

giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích

người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng.

Trước những thách thức mới của thế kỷ 21. Hội đồng Quốc tế Jacques Delors về

giáo dục cho thế kỷ 21 đã hoàn thành bản báo cáo phân tích nhiều khía cạnh học tập

trong xã hội tương lai, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò người học, cách học cần

phải được dạy cho thế hệ trẻ.



1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả về quản lý tự học

Ở Việt Nam, các bậc thầy trong giáo dục thời xưa đã từng chú ý đến vai trò

của người học như; Chu văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,.... trong thời đại ngày nay

cũng có nhiều ý kiến về vấn đề này. Hoạt động tự học thực sự được chú ý quan tâm

dưới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ đã từng dạy: cách học tập... lấy người

học làm nòng cốt, và khi nói về công tác huấn luyện và học tập Người nhấn mạnh

“Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học” Người khuyên “Không phải có thầy thì

học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhắc nhở sinh viên: “Ở Đại học, điều chủ

yếu là học phương pháp.... nếu anh tự vũ trang được một phương pháp vững vàng

thì anh dùng nó suốt đời, vì anh phải học mãi mãi...”

Nghị quyết Hội nghị TW 2, Khoá VIII đề cập đến vấn đề “Tập trung

nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh”,

“ Phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên rộng khắp trong toàn

dân, nhất là thanh niên”.

Luật giáo dục 1988, chương 1, điều 4 có ghi “ Phương pháp giáo dục phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng

năng lực tự học của học sinh, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên...”

Vấn đề nghiên cứu tự học và hoạt động tự học đã được đặt nền tảng vững chắc

về quan điểm chỉ đạo trong thời kỳ chuyển mình của giáo dục đào tạo nhằm thích ứng

với giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước khi bước vào thế kỷ XXI. Từ đó

vấn đề tự học đã được các nhà sư phạm hàng đầu trong nước nghiên cứu thực nghiệm.

Cuối những năm 1960, các tác giả như Tạ Quang Bửu, Nguyễn Cảnh Toàn,

Lê Khánh Bằng... đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học. Trong những

năm gần đây dưới sự hướng dẫn của các thầy các cô của khoa Sư Phạm Đại học

Quốc gia Hà Nội nhiều luận văn thạc sỹ quan tâm nghiên cứu vấn đề này.

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh với đề tài: “Các biện pháp

chủ yếu Quản lý hoạt động tự học của học viện trung tâm giáo dục thường xuyên

thành phố Yên Bái”.



- Luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Hoài Văn với đề tài: “Biện pháp quản

lý tăng cường hoạt động tự học của SV viện Đại học Mở Hà nội trong bước phát

triển hiện nay”.

- Luận văn thạc sĩ của Phạm chí Cường “Các biện pháp quản lý hoạt động tự

học của SV trường cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái nguyên”

Các tác giả đã nghiên cứu vấn đề tự học ở những góc độ khía cạnh khác

nhau, chỉ ra vai trò, vị trí tầm quan trọng của tự học, các phương pháp tự học, các

điều kiện và phương tiện phục vụ tự học, các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả tự học và

các phương pháp nâng cao chất lượng tự học.

Nhưng về phương diện quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại

học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định chưa có đề tài nào đề cập tới. Chính vì vậy tôi

chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Sư

phạm Kỹ thuật Nam Định”

1.2. Những vấn đề lý luận về tự học

1.2.1. Khái niệm về tự học

Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về tự học, mỗi tác giả có những quan điểm

khác nhau, sau đây là một số các quan điểm.

Nhà tâm lý học N.A Rubakin cho rằng: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức,

kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động các nhân bằng cách thiết lập

các mối liên hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu ,đối chiếu với các mô hình phản ánh

hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm kỹ

năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể. {27}

Theo giáo sư người Nga S.I. Zinoviez tự học đó là việc học độc lập của SV

diễn ra song song với quá trình dạy học Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học - là tự

mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích

tổng hợp...) và khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất cuả

mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung

thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng

say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi...)để chiếm lĩnh một

lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của

mình”{30,621}.



Theo Võ Quang Phúc: “Tự học là một bộ phận của học, nó được tạo thành

bởi những thao tác, cử chỉ ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương

tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhu cầu bức xúc về học tập của

người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ

chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh

nhất định với nội dung học tập nhất định”{24,37}.

Tự học là một dạng lao động trí óc đòi hỏi người học phải tích cực chủ động

quyết tâm cao. Trong quá trình tự học người học thực sự là chủ thể của quá trình

nhận thức, nỗ lực hoạt động hoạt động các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động

nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Tự học là “nội lực” quyết định chất

lượng học tập sáng tạo cho hôm nay và cho mai sau.

Từ những quan điểm nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như sau

:

Tự học là một quá trình hoạt động nhận thức của mỗi người, là một trong

những nhân tố quyết định hiệu quả chất lượng chiếm lĩnh tri thức của loài người để

phát triển nhân cách. Tự học đòi hỏi một sự nỗ lực, tự giác, kiên trì sáng tạo về

phương pháp hình thức phù hợp với điều kiện, khả năng và mục tiêu đặt ra. Tự học

không chỉ là lĩnh hội tri thức khoa học mà còn bao gồm kinh nghiệm sống, lao động

và học tập, chiếm lĩnh những giá trị văn hoá xã hội của nhân loại và dân tộc trong

quá khứ lịch sử và hiện tại.

1.2.2. Các hình thức tự học

Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều mức độ và hình thức khác nhau

- Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không

có sách và sự hướng dẫn của giáo viên.

Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học. Kết quả của quá

trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây

thể hiện đỉnh cao của tự học. Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng một

niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức

vừa rộng vừa sâu. Tới trình độ tự học này người học không thầy, không sách mà chỉ

cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học của cá nhân

mình.



- Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.

Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức :

+ Tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:

Kiểu học này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách vở

qua đó sẽ phát triển tư duy. Tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà người học

phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời.

+ Tự học có thầy ở xa hướng dẫn:

Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin thô sơ

hay phức tạp dưới dạng phản ánh và giải đáp những thắc mắc, làm bài kiểm tra,

đánh giá...

- Hình thức 3: Tự học có sách, có sự điều khiển trực tiếp của thầy những

phương tiện kỹ thuật trên lớp với một số tiết trong ngày sau đó người học về nhà tự

học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên.

+ Trong quá trình học tập trên lớp, thầy với vai trò là nhân tố hỗ trợ, là chất

xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự lĩnh hội tri thức. Trò với vai trò là chủ thể

của quá trình nhận thức: tự giác tích cực say mê, sáng tạo trong quá trình nhận thức.

Mối quan hệ giữa thầy và trò là mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Ngoại lực dù

có quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy nội lực phát triển.

+ Trong quá trình tự học ở nhà, với sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người

học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sắp sếp kế hoạch, huy động mọi

trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn thành những yêu cầu do giáo viên đề ra. Tự

học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của giáo viên,

được giáo viên định hướng về nội dung, phương pháp tự học để người học thực

hiện. Như vậy, ở hình thức tự học thứ 3 này quá trình tự học của sinh viên có liên

quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố trong đó có

yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của GV và quá trình tự học của sinh

viên.

Mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu

công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong và ngoài giờ lên lớp dưới sự

hướng dẫn của giảng viên trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào

tạo ở Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Nam Định.



1.2.3. Ý nghĩa của hoạt động tự học đối với sự hoàn thiện nhân cách

Trong hoạt động giáo dục việc tạo ra kiến thức cho người học gắn liền với

quá trình tự nhận thức của chính họ. Kiến thức chỉ có được thông qua hoạt động tư

duy của người học. Trong quá trình dạy học tác động dạy của thầy dù có quan trọng

đến mức “Không thầy đố mày làm nên” vẫn chỉ là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc

tác và tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển và trưởng thành.

Tự học là một hoạt động có ý nghĩa quyết định kết quả học tập và tu dưỡng

của SV trong trường sư phạm nói chung và SV Trường Sư phạm Kỹ thuật nói

riêng.

Trong quá trình học tập tu dưỡng trong trường họ phải rèn luyện để trở thành

một giáo viên và một người thầy người thợ giỏi trong tương lai. Để đánh giá tầm

quan trọng của hoạt động tự học Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Về nhân cách học

tập phải lấy tự học làm nòng cốt”. Quá trình tự học như thế có thể hiểu là sự chuyển

hoá quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, là sự biến đổi bản thân mình trở

nên có thêm gía trị bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới từ

bên ngoài. Như vậy hoạt động tự học có vai trò quyết định đến sự phát triển nhân

cách của người sinh viên chính là vốn tri thức nghề nghiệp, kỹ năng và phẩm chất

đạo đức được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện ở trường Đại học. Đối

với sinh viên sư phạm tự học càng trở nên quan trọng bởi sẽ là những thầy cô giáo

sẽ về những trường phổ thông dạy cho HS, đòi hỏi ở họ không chỉ có kiến thức

khoa học về các môn sẽ dạy ở phổ thông mà còn phải có hiểu biét sâu sắc về các

vấn đề văn hoá XH, thời sự chính trị trong nước và quốc tế...Có kiến thức lý luận và

thực tiễn sâu rộng mới đủ khả năng giúp SV phát triển trí tuệ, đạo đức, phát triển

nhận thức, hình thành tình cảm và niềm tin trong cuộc sống...Chính vì vậy XH luôn

đòi hỏi “thầy biết mười để dạy một”, “Thầy giáo là cuốn từ điển sống”, “Bộ óc (sự

hiểu biết) của thầy giáo là cái giếng khoa học, tâm hồn là mùa xuân ấm áp, trái tim

đôn hậu như một người mẹ...”

Người SVSP phải biết tự học vì sẽ phải dạy cho HS biết tự học. Có lẽ trên

đời này không có nghề nghiệp nào lại có chức năng cao quý “Dạy học trò làm

người” và chính vì vậy SVSP phải học cách tự học để dạy HS tự học làm người.



1.3. Những vấn đề về quản lý, quản lý hoạt động tự học

1.3.1. Một số khái niệm công cụ quản lý tự học của sinh viên

+ Khái niệm về quản lý.

Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng

như vi mô. Đó là loại lao động để điều khiển người lao động. Nó là một thuộc tính

lịch sử, có tính vĩnh hằng.

Hoạt động quản lý nẩy sinh và bắt nguồn từ chính trong quá trình lao động để

cải tạo tự nhiên và xã hội của con người. Khi xã hội càng phát triển, các hình thức lao

động càng phong phú thì hoạt động quản lý càng chiếm vai trò quan trọng và càng có

điều kiện để trở thành một khoa học. Vì vậy Các Mác đã viết: “Bất kỳ một lao động xã

hội hay cộng đồng nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự

quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện những

chức năng chung nhất, xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất (khác với vận

động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy). Một nghệ sỹ chơi đàn chỉ phải

điều khiển có chính mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

Vậy quản lý là gì?

Khoa học quản lý, xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau, đã đưa ra

những quan điểm khác nhau về quản lý. Có người cho rằng quản lý là cai trị “Cai trị

một tổ chức bằng cách đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu, bằng cách

lựa chọn và sử dụng những phương tiện, phương pháp thích hợp”. Những người

theo quan điểm này cho rằng quản lý là cai trị vì trong quản lý không phải mọi lúc

cấp dưới đều chấp hành mệnh lệnh cấp trên cho nên phải cưỡng chế.

Nhưng cũng có những quan điểm lại cho rằng quản lý là điều hành, điều

khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hành động của con người.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động liên tục có mục

đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung

là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”{25,24}

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,

có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách

thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế... bằng một hệ



thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ

thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”{11}

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “ Hoạt động

quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)

đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận

hành và đạt được mục đích của tổ chức”{5}.

Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự

phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu

của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có

thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn

cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến

thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”{16,33}.

Như vậy các quan điểm về quản lý trên đây tuy có khác nhau nhưng không

đối lập nhau. Từ những quan điểm đó ta có thể hiểu quản lý: Quản lý là quá trình

tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm hướng dẫn, điều khiển

các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để đạt tới những mục

đích phù hợp với ý chí của nhà quản lý và phù hợp quy luật khách quan.

+ Các chức năng quản lý.

- Chức năng lập kế hoạch.

Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất giúp cho nhà quản lý tiếp cận mục

tiêu một cách hợp lý và khoa học. Trên cơ sở đó căn cứ vào những gì đã có, những

gì sẽ có trong tương lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động,

các biện pháp cần thiết để chỉ rõ mong muốn của tổ chức. Lập kế hoạch bao gồm 3

nội dung chủ yếu sau:

* Xác định, hình thành mục tiêu.

* Chẩn đoán đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức.

* Xác định các hoạt động cần thiết để đạt được những mục tiêu. Lập kế hoạch sẽ tạo

ra khả năng cho việc điều hành tác nghiệp của hệ thống làm cho việc kiểm tra được

dễ dàng.

- Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch.



Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực

để hịên thực hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học cho con

người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một

tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của

tác động thành phần. Công tác tổ chức bao gồm:

* Xác định cấu trúc của bộ máy.

* Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy.

* Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.

- Chức năng chỉ đạo.

Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp,

động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được những mục tiêu

của tổ chức.

Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:

*Chỉ huy, ra lệnh.

*Động viên khen thưởng.

*Theo dõi, giám sát.

*Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý.

- Chức năng kiểm tra đánh giá.

Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần phải thực

hiện chức năng kiểm tra của quản lý. Xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế

hoạch đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót lệch lạc, tìm ra

nguyên nhân của những sai sót, điều chỉnh và tạo thông tin cho quản lý tiếp theo.

Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một

chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm 4 giai đoạn với sự tham gia của 2 yếu

tố quan trọng thông tin và quyết định. Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch

của hoạt động quản lý. Chức năng kiểm tra, đánh giá là giai đoạn cuối cùng của

hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.

Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ sau:

LẬP KẾ HOẠCH



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



1.3.2. Quản lý giaó dục

Quản lý giáo dục được bàn ở đây là quản lý giáo dục dưới chế độ xã hội chủ

nghĩa. Vì mỗi phương thức sản xuất có một cách quản lý khác nhau. Xã hội nô lệ có

quản lý của xã hội nô lệ, xã hội tư bản có quản lý của xã hội tư bản, xã hội chủ

nghĩa có quản lý của xã hội chủ nghĩa.

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể

quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong

muốn bằng cách hiệu quả nhất [28-29].

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể

quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và

vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân.

Từ các định nghĩa trên ta thấy có hai yếu tố cơ bản thường được nhắc đến

trong quản lý giáo dục đó là:

Chủ thể quản lý: Hệ thống, bộ máy quản lý giáo dục các cấp.

Khách thể quản lý: Là hệ thống giáo dục quốc dân hay sự nghiệp giáo dục

của địa phương.

Như vậy, sự tác động từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có thể từ

người quản lý đơn vị cơ sở giáo dục đến các đối tượng quản lý là người dạy, người

học, cơ sở vật chất thiết bị, hoặc từ tác động giữa các cấp quản lý giáo dục từ trung

ương đến địa phương.

1.3.3. Quản lý nhà trường

Nhà trường là một thể chế xã hội- Nhà nước, là một đơn vị tổ chức hoàn

chỉnh, một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục-đào tạo của

Nhà nước và của cộng đồng xã hội chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống.

Quản lý giáo dục là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống giáo dục. Theo

GS.TS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của



Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo

nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành

giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh”{13 ,61}

Quản lý nhà trường bao gồm nhiều nội dung:

Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị nhằm phục vụ cho việc học tập, giảng dạy:

Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường để xây dựng cơ sở vật chất, trang

thiết bị để tiến hành cho hoạt động dạy học và giáo dục; Tổ chức đội ngũ nhà giáo,

CBCNV, tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác

của nhà trường; Quản lý các hoạt động chuyên môn: Quản lý chương trình, thời

gian, quản lý chất lượng, theo chương trình giáo dục của Bộ, của nhà trường; Quản

lý việc học tập của SV theo quy chế của Bộ GD & ĐT.

Quản lý nhà trường là một bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo dục tổng thể,

trong đó quản lý qúa trình dạy học là một trong những hoạt động chủ yếu nhất trong

toàn bộ hệ thống quản lý của nhà trường. Xuất phát từ quản lý quá trình dạy học là

sự thống nhất hữu cơ giữa quản lý hoạt động dạy học và quản lý hoạt động học của

học sinh. Những hoạt động quản lý nói trên đều là những tác động có phương

hướng, có mục đích được phối hợp một cách đồng bộ nhằm giải quyết những nhiệm

vụ quản lý của nhà trường trong đó sản phẩm cuối cùng của hoạt động quản lý đều

được biểu hiện tập trung ở sự hình thành và phát triển nhân cách cuả học sinh.

1.3.4. Quản lý hoạt động tự học

- Khái niệm:

Quản lý hoạt động tự học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế

hoạch, hợp quy luật của nhà quản lý đến tất cả các khâu của hoạt động tự học trong

nhà trường giúp sinh viên hoàn thành được nhiệm vụ học tập.

Quản lý hoạt động tự học là một nội dung quản lý rất quan trọng của hoạt

động quản lý nhà trường. Vì nếu quản lý tốt hoạt động tự học của sinh viên sẽ nhân

lên và tạo ra những nguồn lực tiềm tàng đảm bảo chất lượng và ngược lại nếu quản

lý kém sẽ làm suy yếu các nguồn lực và làm giảm chất lượng học tập của sinh viên.

- Mục tiêu của hoạt động quản lý tự học.

Mọi hoạt động quản lý đều xuất phát từ mục tiêu quản lý. Nếu xác định sai

mục tiêu sẽ dẫn đến lãng phí thời gian, nguồn lực tài chính và nhân lực.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

×