1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SV TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THỤÂT NAM ĐỊNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 130 trang )


Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính, tài sản được giao theo quy

định của pháp luật .

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ giao .

2.2. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên

2.2.1. Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học

2.2.1.1. Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức về hoạt động tự học của SV tại trường

ĐHSPKT, chúng tôi dùng phiếu trưng cầu ý kiến 152 SV 2 nghành Đ-ĐT và CNTT

theo mẫu phiếu điều tra số1 (câu 2). Kết quả điều tra biểu hiện ở bảng 2.1

Bảng 2. 1: Nhận thức của SV trường ĐHSPKT Nam Định về hoạt động tự học

Mức độ

nhận thức %



Mức độ

thực hiện %



TT



Các biểu hiện



1



Phát hiện và lựa chọn vấn đề tự học.



60,5



39,5



0



39,5



60,5



0



2



Lập kế hoạch tự học



53,9



39,5



6,6



27,6



72,4



0



3



Đọc thêm tài liệu, giáo trình



60,5



32,9



6,6



46,1



53,9



0



4



Ghi chép thông tin khi đọc



60,5



39,5



0



49,3



50,7



0



5



Tóm tắt thông tin theo từng vấn đề



46,1



53,9



0



46,1



39,4



14,5



Nghe và ghi chép những vấn đề GV



67,1



32,9



0



92,1



7,9



0



6



Rất

q.

Không

T

Thỉnh

q.trọng trọng q trọng xuyên thoảng



Không

sử

dụng



giảng trên lớp



7



Thực hiện kế hoạch tự học đã lập



32,9



60,5



6,6



32,9



67,1



0



8



Hệ thống hóa kiến thức đã học



67,1



32,9



0



20,1



79,9



0



9



Lập đề cương nghiên cứu một vấn đề



53,9



32,9



13,2



10



57,1



32,9



So sánh, đối chiếu, phân tích tri thức



67,1



32,9



0



17,8



49,3



32,9



53,9



46,1



0



29,5



60,5



10



12 Phối hợp nhiều phương pháp tự học



39,5



53,9



6,6



25



53,9



21,1



13 Bổ sung thông tin sau khi đọc tài liệu



39,5



60,5



0



14,5



78,9



6,6



Vận dụng lý thuyết đã học vào giải

các bài tập thực hành



35,8



64,2



0



47,4



55,4



7,2



15 Tự kiểm tra kết quả tự học



60,5



32,9



6,6



14,5



73



12,5



16 Sử dụng công nghệ thông tin



38,2



53,3



8,5



18,4



60,5



21,1



10

11



14



đã học với thực tiễn

Trao đổi, thảo luận vấn đề tự học với

bạn với thầy



(Website, tài liệu điện tử,…)

Nhận xét:

- Đa số SV đã nhận thức đúng đắn về hoạt động tự học và hứng thú tham gia

vào hoạt động tự học. Tuy nhiên nhận thức của SV đối với hoạt động tự học còn

chưa cao và chưa đồng đều.

- Biểu hiện đảm bảo chuyên cần trong giờ học trên lớp như “tập trung nghe

giảng ghi chép bài đầy đủ” và “hệ thống hoá kiến thức đã học” được SV đánh giá ở

mức độ cao nhất. Theo SV: Việc học tập muốn đạt kết quả cao điều đầu tiên SV

phải chú ý nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ, hệ thống hoá kiến thức đã học. Đây là

những yếu tố quan trọng trong quá trình học tập giúp SV củng cố và khắc sâu

những kiến thức đã học.

- Đọc sách và tham khảo tài liệu là hoạt động không thể thiếu được đối với

SV trong thời gian tự học. Kết quả cho thấy SV đã hứng thú đọc sách và tài liệu

nhưng ở mức độ chưa cao. Để tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng tới thái độ

đọc sách của SV, SV Phạm Tiến D lớp ĐS Đ- ĐT 2 nói rằng: “Em rất thích đọc

sách và tài liệu tham khảo, nhưng em rất ngại đến thư viện đọc sách”. Một số em

khác cho rằng phải dành thời gian xem lại bài đã học trên lớp. Như vậy, đa số SV có

hứng thú đọc sách và tài liệu tham khảo song việc đọc sách chưa thực sự trở thành

thói quen hàng ngày và họ chưa biết sắp xếp thời gian học tập phù hợp.

- SV mới chỉ chú ý và thích thú tới những biểu hiện bên ngoài thuộc về nề

nếp và nội quy học tập trong trường, những biểu hiện dưới sự hướng dẫn của giảng

viên SV thường xuyên được thực hiện. Một số biểu hiện của hoạt động tự học giúp

SV phát huy tính độc lập sáng tạo trong quá trình tự học chưa được các em chú ý.

- Phần lớn các em cho rằng việc tổ chức cho SV tham gia các buổi Xêmina

hay việc lập đề cương nghiên cứu là những công việc cần thiết không thể thiếu

được. Những công việc này giúp họ làm quen và tiếp cận với phương pháp nghiên

cứu khoa học. Khi hỏi về vấn đề này, SV Nguyễn Thị H lớp ĐS Tin 2A tâm sự:

“Trong quá trình học tập của chúng em, việc hướng dẫn của các thầy cô sẽ là khởi

đầu quan trọng trong quá trình tự học”.



- Việc phối hợp các phương pháp tự học của SV còn nhiều hạn chế. Qua điều

tra chỉ có 25% số SV thường xuyên vận dụng phối hợp các phương pháp tự học

trong việc học tập của mình.

* So sánh tương quan giữa kết quả điều tra của SV 2 ngành Đ- ĐT và CNTT

cho thấy rằng: về cơ bản nhận thức đối với hoạt động tự học giữa SV 2 chuyên

ngành không có sự khác biệt nhau. Điểm trung bình về biểu hiện của hoạt động tự

học là tương đương. Điều này cho thấy mặc dù SV học ở các chuyên ngành khác

nhau, các môn học khác nhau, nhưng đều nhận thức về hoạt động tự học không

khác nhau lắm.

* So sánh tương quan giữa kết quả điều tra của SV giữa 2 khối năm thứ nhất

và năm thứ 2 cho thấy: SV năm thứ 2 có nhận thức về hoạt động tự học đúng đắn

hơn SV năm thứ nhất. Như vậy sau một năm học tập tại trường SV đã thích nghi và

quen với phương pháp giảng dạy của thầy cô, tìm cho mình một phương pháp tự

học thích hợp đối với các môn học chuyên ngành và do vậy SV đã hứng thú tham

gia các hoạt động tự học.

2.2.1.2. Nhận thức của SV và tầm quan trọng của hoạt động tự học

Để tìm hiểu nhận thức của SV về tầm quan trọng của hoạt động tự học

chúng tôi tiến hành điều tra theo phiếu số 1 (câu 1) dành cho SV kết quả thu được ở

bảng 2.2



Bảng 2.2: Nhận thức của SV về tầm quan trọng của hoạt động tự học

Tiêu chí



Khoá học



Nghành học



Năm thứ



Năm thứ



nhất



Đ- ĐT



Kết quả

chung



hai



Mức độ



CNTT



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



Rất quan trọng



54



71,1



66



86,8



59



77,6



61



80,3



120



78,9



Quan trọng



22



28,9



10



13,2



17



22,4



15



19,7



32



21,1



Bình thường



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



Kh. quan trọng



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



* Đa số SV trường ĐHSPKT Nam Định có nhận thức tốt về vai trò và tầm

quan trọng của hoạt động tự học 100% cho rằng tự học có vai trò quan trọng và rất

quan trọng đối với việc nâng cao trình độ nhận thức của bản thân.

Khi được hỏi về tầm quan trọng của hoạt động tự học SV Lê thị Th ĐS tin I

cho rằng: “Tự học có vai trò rất quan trọng và cần thiết. Hoạt động tự học giúp

chúng em củng cố kiến thức, chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức mới, buộc

chúng em phải vận động nhiều để biến kiến thức mà thầy cô truyền đạt thành kiến

thức của mình”.

- SV Nguyễn Văn M lớp ĐS Điện- ĐT I cho rằng: “Tự học giúp em nâng cao

được tầm hiểu biết của bản thân. Tự học giúp cho bản thân mỗi SV rèn luyện tính

kiên trì tìm tòi, tự tích luỹ kiến thức từ tài liệu”.

* Xét tương quan giữa hai chuyên ngành Đ-ĐT và CNTT và giữa SV năm

thứ nhất và năm thứ hai cho thấy không có sự khác biệt đáng kể nhận thức về tầm

quan trọng của hoạt động tự học.

* So sánh tương quan nhận thức về vấn đề tự học giữa 2 khối: SV năm thứ 2

thấy được tầm quan trọng của hoạt động tự học cao hơn so với SV năm thứ nhất.

Như vậy, hầu hết SV đều khẳng định: Tự học có vai trò rất quan trọng giúp

họ củng cố, mở rộng và hiểu sâu tri thức đã học, hình thành và phát triển tư duy độc

lập, sáng tạo trong qua trình nhận thức. Việc xác định đúng đắn vai trò và tầm quan

trọng của hoạt động tự học sẽ giúp SV xác định được động cơ và thái độ học tập

trên cơ sở đó định hướng cho mình, có ý thức rèn luyện, phấn đấu trong quá trình

học tập tại trường.

Để tìm hiểu mức độ nhận thức của SV về các biểu hiện của hoạt động tự học

chúng tôi khái quát hoá hoạt động tự học thành 16 biểu hiện qua (câu 2, phiếu điều

tra số 1). Để đánh giá mức độ nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học chúng tôi

quy ước số điểm chấm như sau: Rất quan trọng, thường xuyên: Chấm 3 điểm; mức

quan trọng, bình thường: Chấm 2 điểm; không quan trọng, không sử dụng: Chấm 1

điểm. Kết quả thu được qua bảng 2. 3 như sau:



Bảng 2. 3: Nhận thức của SV về các biểu hiện hoạt động tự học

Mức

độ



Khoá học



Ngành học



Năm thứ



Năm thứ



nhất



Đ- ĐT



Kết quả chung



CNTT



hai



TB



Thứ



X



bậc



TB



Thứ



TB



Thứ



TB



Thứ



TB



Thứ



X



bậc



X



bậc



X



bậc



X



bậc



1



2,33



8



2,54



3



2,33



8



2,46



1



2,42



4



2



2,46



3



2,50



4



2,46



3



2,41



3



2,43



3



3



2,41



5



2,57



2



2,41



5



2,42



2



2,45



2



4



2,42



4



2,49



5



2,42



4



2,25



11



2,40



5



5



2,25



11



2,23



12



2,25



11



2,28



9



2,25



11



6



2,69



1



2,74



1



2,68



1



2,35



5



2,61



1



7



2,35



6



2,41



7



2,35



6



2,30



7



2,35



6



8



2,29



9



2,42



6



2,29



9



2,37



4



2,33



7



9



1,67



15



2,05



14



1,67



15



1,96



15



1,84



15



10



1,96



14



2,09



13



1,96



14



2.04



14



2,01



14



11



2,34



7



2,35



8



2.34



7



2,09



13



2,28



10



12



2,09



13



2,29



10



2,09



13



2,21



12



2,17



13



13



2,21



12



2,27



11



2,21



12



2,26



10



2,24



12



14



1,66



16



1,94



16



1,66



16



1,94



16



1,80



16



15



2,28



10



2,34



9



2,28



10



2,33



6



2,31



9



16



2,53



2



1,96



15



2,56



2



2,29



8



2,34



8



Các

biểu hiện



Nhận xét:

Căn cứ vào số liệu ở bảng 2.3, chúng tôi thấy: SV có nhận thức khá rõ về các

biểu hiện của hoạt động tự học, 14/16 biểu hiện có điểm trung bình cộng > 2. Tuy

nhiên chỉ có 1/16 có điểm trung bình cộng từ > 2,5 trở lên. Chứng tỏ nhận thức của

SV về các biểu hiện của hoạt động tự học còn chưa cao.

* Nhận thức của SV đối với nhóm kỹ năng nhận biết và lựa chọn vấn đề tự học

Qua trao đổi với một số SV, các em cho biết để tự học đạt kết quả cao cũng

cần có các kỹ năng tự học. Đặc biệt hiện nay, với sự phát triển của công nghệ



thông tin, kỹ năng khai thác các tài liệu và thông tin học tập bằng phương tiện

công nghệ thông tin (Website, tài liệu điện tử,…) đã được đa số các em nhìn

nhận là quan trọng và rất quan trọng. Với kết quả này cho ta thấy các em đã có

nhận thức đúng đắn về vấn đề tự học.

Hiểu biết của SV đối với nhóm biểu hiện này ở mức độ khá và tương đối

đồng đều. Nhóm biểu hiện này bao gồm: Phát hiện, lựa chọn vấn đề tự học và lập

kế hoạch tự học. Đây là những tiền đề quan trọng bởi SV muốn tự học đạt kết quả

cao đòi hỏi phải có những hiểu biết sâu sắc và sử dụng thành thạo nhóm kỹ năng

này. Trên thực tế việc xác định vấn đề tự học đối với SV hầu như được giảng viên

hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình giảng dạy trên lớp thông qua các bài tập

nhận thức mà giảng viên giao cho SV về nhà. SV ít khi chủ động xác định vấn đề

tự học, SV thường xác định vấn đề tự học theo kiểu “ ngày mai học bài gì thì hôm

nay học bài đó”.

- Để hoạt động tự học đạt hiệu quả cao SV phải biết cách tự quản lý việc tự

học của mình thông qua việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học. Các em phải

lượng hoá thời gian tự học tương ứng với từng nhiệm vụ học tập nhằm thực hiện

một cách khoa học nhất, hiệu quả nhất hoạt động tự học. Nhận thức của các em đối

với việc lập kế hoạch tự học còn rất đơn giản, hầu hết các em còn hiểu sơ sài về vấn

đề này. Một số em mới chỉ dừng lại ở việc lập kế hoạch tự học theo thời khoá biểu

hàng ngày còn việc lập kế hoạch theo từng tháng, từng học kỳ và cả năm học thì

chưa có em nào thực hiện.

* Nhận thức của SV đối với nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch tự học

Kết quả điều tra cho thấy nhận thức của SV đối với các biểu hiện này có sự

khác biệt đáng kể vị trí xếp bậc từ 1-16 trong bảng 2.4 ( qua câu 2 phiếu điều tra số 1)



Bảng 2. 4: Nhận thức của SV đối với nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch tự học

Mức

độ



Khoá học



Ngành học



Năm thứ



Năm thứ



nhất



hai



Đ- ĐT



Kết quả chung



CNTT

TB



Thứ



X



bậc



1



2,42



4



2,41



3



2,43



3



5



2,43



2



2,46



2



2,43



4



2,24



11



2,40



5



12



2,25



11



2,28



9



2,25



11



2,74



1



2,67



1



2,35



5



2,60



1



6



2,41



7



2,35



6



2,30



7



2,35



6



2,28



10



2,43



6



2,29



9



2,38



4



2,34



7



9



1,67



15



2,05



14



1,67



15



1,96



15



1,84



15



10



1,96



14



2,09



13



1,96



14



2.04



14



2,01



14



11



2,34



7



2,35



8



2.34



7



2,09



13



2,28



10



12



2,09



13



2,29



10



2,09



13



2,21



12



2,17



13



13



2,21



12



2,27



11



2,21



12



2,26



10



2,24



12



14



2,55



2



1,97



15



2,54



2



2,29



8



2,33



8



15



2,29



9



2,34



9



2,28



10



2,33



6



2,31



9



16



1,65



16



1,95



16



1,63



16



1,94



16



1,80



16



TB



TB



Thứ



TB



Thứ



TB



Thứ



X



bậc



X



bậc



X



bậc



X



bậc



1



2,31



8



2,56



3



2,33



8



2,47



2



2,44



3



2,50



4



2,48



3



3



2,43



4



2,56



2



2,40



4



2,42



5



2,49



5



5



2,26



11



2,22



6



2,69



1



7



2,35



8



Các

biểu hiện



Thứ



- Một số biểu hiện kỹ năng tự học như: Nghe giảng và ghi chép bài trên lớp

( X = 2,60), đọc thêm các tài liệu giáo trình ( X = 2,46), đã chứng tỏ rằng: các em có

nhận thức đúng đắn về những kỹ năng này (đứng ở vị trí đầu trong bảng xếp hạng).

Đa số SV nhận thức rằng: Dù học ở môn học nào, ngành học nào thì việc tập

trung nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ, tích cực đọc thêm tài liệu giáo trình, ghi chép

thông tin khi đọc, thường xuyên áp dụng lý thuyết vào giải các bài tập thực hành là



những công việc hết sức quan trọng. Các công việc này giúp họ đạt được thành tích

cao trong học tập.

- Ở một số biểu hiện cơ bản quan trọng và cần thiết khác của hoạt động tự

học, nhận thức của SV còn nhiều hạn chế như: Việc lập đề cương nghiên cứu là

công việc quan trọng, một nội dung không thể thiếu được đối với việc học tập của

SV trường ĐH, nhằm giúp cho các em làm quen và tập dượt với công tác nghiên

cứu khoa học, nhận thức của SV về vấn đề này còn rất thấp điểm trung bình X =

1,84 xếp vị trí thứ 15 trong bảng xếp hạng.

Nhận thức của SV với biểu hiện “ phối hợp nhiều phương pháp học tập” ở

mức độ chưa cao (điểm trung bình X = 2,17 xếp thứ 13 trong bảng xếp hạng). Khi

tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng tới những hạn chế về nhận thức của SV đối

với các biểu hiện này, chúng tôi thấy:

+ Bản thân các em chưa tích cực, chưa chủ động tham gia tìm hiểu về các

phương pháp và kỹ năng tự học.

+ Một số biểu hiện của hoạt động tự học thường xuyên được giảng viên tổ

chức và hướng dẫn trong quá trình học tập hàng ngày thì SV có nhận thức tốt.

Ngược lại, đối với những biểu hiện SV ít được thực hiện hoặc không được thực hiện

trong quá trình học tập tại trường thì nhận thức của SV có nhiều hạn chế.

- Biểu hiện “tự kiểm tra đánh giá hoạt động tự học” giúp cho SV xác định được

kết quả của quá trình tự học trên cơ sở đó SV tự điều chỉnh hoạt động tự học của mình.

Nhận thức của SV về vấn đề này đã được chú ý nhưng kết quả còn chưa cao.

* So sánh tương quan giữa SV 2 chuyên ngành Đ-ĐT và CNTT cho thấy:

Điểm trung bình của mức độ biểu hiện ở SV 2 chuyên ngành tương đối ngang nhau.

Từ đó cho thấy sự nhận thức về các biểu hiện của hoạt động tự học SV ở các ngành

Đ-ĐT và CNTT tương ứng nhau

* So sánh tương quan giữa 2 khoá học: Nhận thức của SV năm thứ 2 về các

việc thực hiện các kỹ năng tự học cao hơn so với SV năm thứ nhất, mức độ các biểu

hiện thực hiện thường xuyên nhiều hơn. Sau hơn 1 năm học tập tại trường SV năm

thứ hai đã thích nghi và quen với phương pháp tự học mới, trong khi đó SV năm thứ

nhất vẫn còn bỡ ngỡ chưa tìm được phương pháp học tập thích hợp nhất cho mình.



2.2.1.3. Nhận thức về các phương pháp tự học

Phương pháp tự học là cách thức thực hiện mà SV tự chọn cho mình trong

quá trình độc lập học tập để đạt được những nhiệm vụ học tập đề ra. Để điều tra

thực trạng nhận thức về phương pháp tự học của SV trường ĐHSPKT Nam Định,

chúng tôi tiến hành điều tra theo mẫu phiếu số1 (Câu 2) dành cho SV. Kết quả điều

tra thể hiện ở bảng 2. 3.

Nhận xét:

Căn cứ điểm số trung bình và vị trí xếp bậc mức độ thực hiện các biểu hiện

tự học của SV cho thấy: SV đã có phương pháp tự học tích cực 14/16 biểu hiện có

điểm trung bình > 2. Tuy nhiên tính tích cực tự học của SV còn chưa cao, trong 16

biểu hiện chỉ có 1/16 biểu hiện điểm trung bình cộng > 2,5.

- Các biểu hiện: “Trong lớp chú ý nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ” (2,61),

“Lập kế hoạch tự học” (2,43), “Phát hiện và lựa chọn vấn đề tự học” (2,42), vẫn

được SV đánh giá ở mức độ cao nhất trong bảng xếp hạng với điểm trung bình cộng

xếp ở vị trí đầu trong bảng xếp hạng.

- Tự kiểm tra đánh giá kết quả tự học là một hoạt động cần thiết trong quá

trình tự học bởi vì SV vừa là khách thể vừa là chủ thể của hoạt động tự học. Đối với

biểu hiện này SV thực hiện ở mức độ trung bình 2,31 xếp thứ 9 trong bảng xếp

hạng.

- Trao đổi, thảo luận các vấn đề tự học với thày, với bạn là yếu tố quan trọng

nhằm phát huy tính tích cực tự học của SV. Quá trình tự học sẽ đạt kết qủa cao khi

SV biết tích cực chủ động, trao đổi thảo luận và cùng hợp tác với bạn, với thầy

trong quá trình học tập. Kết quả điều tra cho thấy SV đã tham gia trao đổi, thảo luận

với bạn, với thầy trong qúa trình học tập song còn ở mức độ chưa cao (xếp thứ 10

trong bảng xếp hạng).

- Đọc sách và tham khảo tài liệu là hoạt động quan trọng có liên quan tới

toàn bộ quá trình tự học của SV, giúp SV củng cố những kiến thức đã học và mở

rộng tri thức mới. Tuy nhiên kết qủa điều tra cho thấy SV chưa tích cực đọc sách và

tài liệu tham khảo. Em Nguyễn Thị M lớp ĐS Tin cho biết: “Em ít khi lên thư viện

trường mượn sách vì những môn chưa có giáo trình chúng em học theo vở ghi mà



thầy cô giảng trên lớp, những môn có giáo trình thì chúng em đã mua hoặc mượn

bạn để nghiên cứu”.

Như vậy, việc đến thư viện đọc sách và tài liệu tham khảo chưa thực sự trở

thành một thói quen và sở thích của SV. Một trong những lý do đó là SV còn lười

học, chưa thực sự tích cực say mê. Nếu giảng viên ít kiểm tra thì SV không học.

- Việc phối hợp các phương pháp tự học nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt

động tự học là điều rất quan trọng. Tuy vậy, khả năng phối hợp các phương pháp tự

học của SV còn nhiều hạn chế. SV còn sử dụng đơn điệu các hình thức tự học. Một

số hình thức tự học phức tạp khác như hệ thống hoá tri thức đã học, so sánh đối

chiếu tri thức đã học với thực tiễn, hay khái quát hoá tri thức đã học, tóm tắt thông

tin đã học được SV thực hiện ở mức độ thấp.

2.2.2. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên

2.2.2.1. Thực trạng lập kế hoạch tự học

Muốn học tập tốt phải xuất phát từ việc nhận thức, động cơ đúng đắn học

tập, phải có hình thức, nội dung học tập sao cho phù hợp nhất thì mới đạt được kết

quả nhưng cũng chưa đủ, bởi không có kế hoạch học tập thì dẫn đến học tràn lan,

thời gian không phân định rõ ràng người học có thể bị mệt mỏi, không tiếp thu được

kiến thức. Việc xây dựng được kế hoạch, thời gian học tập cho phù hợp là rất quan

trọng và cần thiết đối với mỗi SV. Qua điều tra, chúng tôi thấy đa số các em không

lập kế hoạch tự học ngoài giờ lên lớp cho bản thân một cách thường xuyên (27,6%

thường xuyên, 72,4% thỉnh thoảng). Để hoạt động tự học đạt hiệu quả cao SV phải

biết cách tự quản lý việc tự học của mình thông qua việc xây dựng và thực hiện kế

hoạch tự học. SV phải lượng hoá thời gian tự học tương ứng với từng nhiệm vụ học

tập nhằm thực hiện một cách khoa học nhất, hiệu quả nhất hoạt động tự học. Nhận

thức của các em đối với việc lập kế hoạch tự học còn rất đơn giản, hầu hết các em

còn hiểu qua loa về vấn đề này. Một số em mới chỉ dừng lại ở việc lập kế hoạch tự

học theo thời khoá biểu hàng ngày còn việc lập kế hoạch theo từng tuần, từng tháng,

từng học kỳ và cả năm học thì hầu như không có em nào thực hiện.

Khi đánh giá về vấn đề này đa số GV được điều tra đều cho rằng: rất ít SV tự

xây dựng cho mình được kế hoạch tự học một cách hợp lý cả về thời gian và

phương pháp, còn rất nhiều em chưa biết xây dựng kế hoạch tự học cho mình.



2.2.2.2. Xác định nội dung tự học

Qua kết quả ở bảng 2.1 cho thấy SV đã nhận thức được tầm quan trọng của

hoạt động tự học. Nhưng việc thực hiện những nội dung tự học của SV còn yếu. SV

mới chỉ biết mới ghi chép những vấn đề giáo viên giảng trên lớp (67,1%), nhiều SV

cũng đã thường xuyên tóm tắt thông tin theo từng vấn đề mới. Nhưng việc số SV

thường xuyên lập đề cương nội dung học tập quá ít (10%), hệ thống hoá kiến thức đã

học (20,1%). Đa số các em tự học theo hướng ôn tập lại bài cũ thông qua vở ghi ở

trên lớp hoặc tài liệu đã học. Chính vì thế kết quả học tập của các em không cao, cách

học thụ động, không phát huy được tính tích cực, tư duy sâu, rộng nội dung bài học.

2.2.2.3. Xác định các phương pháp tự học

Qua bảng 2.1 (câu 2 phiếu điều tra số 1) và bảng 2.5 (câu 4 phiếu điều tra số

1), chúng tôi thấy SV đã sử dụng các phương pháp tự học tương đối phong phú, có

những phương pháp tự học được đa số các em sử dụng thường xuyên như: học theo

ý cơ bản trọng tâm, học theo vở ghi kết hợp với đọc giáo trình.

Phương pháp tự chuẩn bị xêmina, nghiên cứu tóm tắt bài ngay sau mỗi buổi

học rất ít SV thực hiện thường xuyên, đa số các em trả lời thực hiện không thường

xuyên. Qua quan sát và trò chuyện trực tiếp một số SV, chúng tôi được biết phương

pháp này các em chỉ thực hiện khi họ gặp bài học khó, hoặc phải làm bài tập, hoặc

liên quan đến bài kiểm tra.

Các phương pháp khác các em có sử dụng nhưng số sử dụng thường xuyên

rất ít, đại đa số các em sử dụng ở mức độ không thường xuyên. Còn nhiều em chưa

sử dụng phối hợp các biện pháp với nhau.

Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin đã được đa số các em thực

hiện, tuy rằng số thực hiện không thường xuyên chiếm nhiều cũng đã nói lên có

sự thay đổi trong cách thức tự học hiện nay của SV cũng như sự linh hoạt tích

cực của họ.

Phương pháp lập sơ đồ hệ thống hoá, tóm tắt phân loại bài học, bài tập đã có số

SV thực hiện nhưng rất ít. Thăm giờ tự học của SV ở nhà, chúng tôi xem vở ghi, vở tự

học và trò chuyện với các em. Chúng tôi thấy các em mới chỉ biết làm tóm tắt, phân

loại bài học, bài tập chứ chưa nêu được mối quan hệ giữa các kiến thức nội dung đó.

Các kiến thức cơ bản chưa được sắp xếp theo hệ thống lôgic chặt chẽ, theo một mối



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

×