1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.55 MB, 119 trang )


1.2.1. Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và Giáo dục hướng nghiệp

1.2.1.1. Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

Sau khi phân tích bản chất nền sản xuất công nghiệp, K. Marx và F.

Angels đã rút ra quy luật về sự thay đổi tính chất, nội dung và chức năng lao

động của người thợ. Nguyên nhân của sự thay đổi đó là do cuộc cách mạng

thường xuyên nảy sinh trong kỹ thuật làm cho nhiều nghề cũ diện hẹp mất đi,

nhiều nghề mới diện rộng xuất hiện. Tình hình đó buộc người thợ phải chuyển

nghề, đổi nghề nhiều lần. Vì thế, trong luận điểm về ĐT thế hệ trẻ tương lai,

K. Marx và F. Angels chỉ rõ cần thiết phải GD kỹ thuật tổng hợp. Theo K.

Marx, GDKTTH là cho HS "làm quen với những nguyên lý cơ bản của tất cả

các quá trình sản xuất và đồng thời trang bị cho trẻ em hay thanh thiếu niên

những kỹ xảo sử dụng những công cụ đơn giản nhất của tất cả các ngành sản

xuất". Mục tiêu của GDKTTH là hình thành ở HS người lao động tương lai khả năng thích ứng, khả năng di chuyển ngành nghề trong điều kiện cách

mạng KH công nghệ biến đổi không ngừng. K. Marx cũng đã chỉ ra nhiệm vụ

chính của GDKTTH là "Bù đắp lại những nhược điểm do phân công lao động

gây nên, sự phân công này đã cản trở HS tiếp thu những kiến thức cơ bản về

nghề nghiệp của mình". Về sau V. I. Lênin cũng chỉ ra rằng GDKTTH là cho

HS làm quen cả về lý thuyết lẫn thực hành với tất cả những ngành sản xuất

chủ yếu, với tất cả những cái chung làm cơ sở cho các ngành đó. V. I. Lênin

coi GDKTTH là nguyên tắc chủ đạo, bắt buộc đối với GD PT, bảo đảm hình

thành tri thức, kỹ năng cho từng HS không tùy thuộc vào các em sẽ làm gì

trong tương lai. Chỉ có nhà trường GDKTTH mới ĐT được những con người

xây dựng XHCN

GDKTTH được thực hiện qua ba con đường sau đây: (1). GDKTTH

qua các môn văn hóa; (2). GDKTTH qua dạy kỹ thuật - công nghệ và lao

động sản xuất và (3). GDKTTH qua hoạt động ngoại khóa.



7



Tóm lại, GDKTTH phải bảo đảm cho HS hiểu được nguyên lý chung

của các quá trình sản xuất chủ yếu; có được tri thức, kỹ năng chung nhất, biết

sử dụng các công cụ lao động đơn giản và phổ biến nhất để có thể tự do chọn

nghề và đổi nghề trong tương lai. Rõ ràng, GDKTTH tạo ra môi trường rộng

lớn giúp HS chọn nghề dễ dàng, từ đó nâng cao được hiệu quả của GDHN.

1.2.1.2. Giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp

* Giáo dục hướng nghiệp

GDHN là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong

đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm giúp người học

chọn nghề trên cơ sở khoa học. Khi ấy, tập thể sư phạm phải sử dụng các biện

pháp GD mang tính chất hướng dẫn, tính thuyết phục cao, không áp đặt, đảm

bảo nguyên tắc hình thành hứng thú, điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề

của thế hệ trẻ sao cho có sự nhất trí cao với nguyện vọng của cá nhân với yêu

cầu nhân lực của các thành phần kinh tế, giữa năng lực của cá nhân với đòi

hỏi của nghề. Trong mối quan hệ phức hợp từng cặp một giữa cá nhân và xã

hội, giữa cá nhân và nghề phải được giải quyết bằng những biện pháp giáo

dục đồng bộ, nếu coi nhẹ một cặp quan hệ nào đó sẽ dẫn tới tình trạng thừa

lao động ở nơi này, thiếu lao dộng ở nơi khác, hoặc năng suất lao động không

cao vì không có sự phù hợp nghề. Rõ ràng là hướng nghiệp phải gắn với công

tác GD tư tưởng, chính trị và đạo đức nhằm giúp HS giải quyết đúng đắn mối

quan hệ giữa ước mơ và thực hiện, giữa cái “muốn” và cái “có thể” và cái

"cần phải làm" để luôn luôn biết điều chỉnh hài hòa giữa lợi ích của xã hội và

lợi ích của bản thân. Với ý nghĩa đó GDHN không quyết định nghề cho mỗi

cá nhân mà GD thế hệ trẻ thái độ đúng đắn với lao động và từ đó GD đúng

đắn với nghề nghiệp. Vì thế, HN được coi là cấu thành của chương trình GDĐT trong hệ thống nhà trường và các cơ sở đào tạo nghề. Khái niệm GDHN

bắt nguồn từ đó mà ra. Theo K.K.Platonov, mỗi hoạt động GDHN thuộc vào



8



các góc của tam giác HN được dựa trên cơ sở là hai yếu tố cơ bản là các cạnh

tương ứng giao thoa tạo nên góc đó:

Sơ đồ 1.1: Tam giác hướng nghiệp của K.K. Platonov

1.Tuyên

truyền,

định

hƣớng

nghề



Tình hình phân công lao

động, cơ cấu lao động,

nhu cầu nhân lực ở địa

phương và xã hội



Đặc điểm, yêu cầu

của hệ thống nghề

nghiệp xã hội đang

cần PT



2. Tƣ vấn

nghề



Đặc điểm về phẩm chất,

nhân cách, tâm sinh lý và

hoàn cảnh cụ thể của từng

HS



3. Tuyển

chọn nghề



Để GDHN cho HS theo tam giác hướng nghiệp trên đây, cần phải căn cứ

vào tình hình phân công lao động, cơ cấu lao động, nhu cầu nhân lực ở địa

phương mà xã hội đang cần phát triển, đặc điểm về phẩm chất, nhân cách,

tâm sinh lý và hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh thông qua hoạt động sinh

hoạt hướng nghiệp, các trắc nghiệm tâm sinh lý và hoạt động dạy nghề phổ

thông…

Mục tiêu chủ yếu của GDHN là phát hiện, bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo

của mỗi cá nhân, giúp họ hiểu mình và hiểu yêu cầu của nghề, định hướng họ



9



đi vào những nghề mà các thành phần kinh tế đang cần nhân lực. Để đạt được

điều này, GDHN thực hiện thông qua bốn con đường: (1) GDHN qua các

môn học văn hóa; (2) GDHN qua môn công nghệ và hoạt động GDNPT; (3)

GDHN thông qua chương trình GDHN chính khóa; (4) GDHN qua hoạt động

ngoại khóa và các chương trình tư vấn nghề nghiệp, ngày hội hướng nghiệp…

do các cơ sở GDHN, các trường và các phương tiện thông tin đại chúng phối

hợp thực hiện.

Tóm lại, từ những quan niệm trên đây chúng tôi hiểu “GDHN là hệ

thống những biện pháp GD trong và ngoài nhà trường dựa trên cơ sở tâm

sinh lý của HS và cơ sở KT-XH, thông qua việc dạy học các môn văn hóa,

môn công nghệ, hoạt động GDNPT, hoạt động tư vấn nghề và các hoạt động

ngoài giờ lên lớp để giúp HS có được sự lựa chọn nghề nghiệp vừa phù hợp

với nhu cầu XH, vừa phù hợp với sở thích, năng lực, sở trường và hoàn cảnh

của mỗi HS”.

* Tư vấn hướng nghiệp

Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng tư vấn hướng

nghiệp là những tác động của nhà tư vấn làm bộc lộ ở HS những đặc điểm,

phẩm chất, nhân cách, tâm lí của cá nhân; trên cơ sở đó, nhà tư vấn đối chiếu

với những yêu cầu đòi hỏi, những nhu cầu của xã hội về nghề nghiệp để đưa

ra những lời khuyên có tính KH giúp các em có sự lựa chọn tối ưu nhất về

nghề nghiệp tương lai.

Để tư vấn hướng nghiệp có KH, ngoài việc thực hiện các trắc nghiệm đo

đặc điểm tâm sinh lý… cần phải dựa vào kết quả quá trình HS tham gia lao

động sản xuất, nhất là tham gia hoạt động GDNPT. Vì vậy, việc lồng ghép tư

vấn hướng nghiệp trong quá trình GDNPT là hết sức cần thiết.

1.2.2. Nghề và giáo dục nghề nghiệp

1.2.2.1. Nghề và nghề đào tạo



10



Thông thường trong xã hội, ít ai bằng sức lao động của mình có thể làm

ra được một sản phẩm (với số lượng nhiều) từ khâu đầu đến khâu cuối. Toàn

bộ lao động để có được một sản phẩm hoàn chỉnh, người ta phân nó ra thành

các công đoạn, công việc cụ thể, mỗi người làm một việc được phân công. Đó

là sự phân công lao động xã hội; sự phân công lao động nghề là điều kiện nảy

sinh các nghề trong xã hội và nghề luôn gắn với sự phân công lao động. Nghề

mang tính chất tương đối, nó có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong,

tùy thuộc vào sự phát triển của các nền kinh tế và các nhu cầu của xã hội.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghề. Theo nghĩa chung, nghề là

tập hợp các hoạt động lặp đi lặp lại của người lao động nhằm hoàn thành

những nhiệm vụ nhất định theo sự phân công lao động của xã hội. Trong khu

vực sản xuất vật chất, nghề là hoạt động của người lao động sử dụng công cụ

lao động tác động vào đối tượng lao động theo quy trình công nghệ nhất định

để tạo ra sản phẩm.

Theo đại từ điển tiếng Việt thì hẹp hơn, khái niệm “nghề” là khái niệm

“chuyên môn” hay “ngành”: “ngành là lĩnh vực chuyên môn, KH”, “chuyên

môn là một môn riêng của ngành KH, kỹ thuật”. Hay nói cách khác, cũng một

nghề nhưng có thể gồm nhiều ngành nghề, chuyên môn khác nhau. Chẳng

hạn, nghề dạy học có các chuyên môn (ngành) dạy học môn toán, dạy học

môn lịch sử…

Trong khu vực GD, nghề ĐT là một nghề theo nghĩa chung nhưng để

hoàn thành một nhiệm vụ theo sự phân công của xã hội thì người lao động

phải được ĐT theo một nội dung, trong một thời gian nhất định, trước khi

tham gia vào lao động xã hội. Theo nghĩa thông thường, nghề là một công

việc nào đó để có thu nhập theo sự phân công lao động xã hội.

Các đặc điểm và yêu cầu của nghề như: tên nghề và các chuyên môn

nghề; lịch sử phát triển nghề; nội dung và tính chất lao động của nghề; những



11



điều kiện cần thiết để tham gia lao động nghề nghiệp; chống chỉ định y học,

bệnh tật mà nghề không chấp nhận và điều kiện đảm bảo cho người lao động

hành nghề.

Trên cơ sở các khái niệm về nghề nêu trên, chúng tôi cho rằng một người

chỉ có thể biến một công việc thành một nghề thực sự theo phương châm

“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nếu người đó phù hợp với yêu cầu của nghề,

say sưa yêu nghề, biết vận dụng sáng tạo những điều đã học được vào thực

tiễn sản xuất. Để có một nghề và hành nghề thuận lợi, người ta phải làm

nghiêm túc trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

1.2.2.2. Giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp được hiểu là quá trình ĐT để người học lĩnh hội

được các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ở một trình độ nhất định của một nghề hoặc

một chuyên ngành cụ thể và hình thành ở họ những phẩm chất, nhân cách

nghề nghiệp tương ứng.

Theo nghĩa rộng, GD nghề nghiệp bao gồm việc ĐT tất cả các ngành

nghề (trong đó có cả những nghề sản xuất và phi sản xuất) được tiến hành ở

mọi bậc ĐT: từ các cấp độ dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, ĐH

và kể cả các hình thức đào tạo nâng cao tay nghề tại các doanh nghiệp.

Theo nghĩa hẹp, Luật GD 2005 (mục 3, từ điều 32 đến điều 37) chỉ giới

hạn GD nghề nghiệp bao gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Trên các

văn bản đối ngoại, GD nghề nghiệp nhiều khi được sử dụng ở phạm vi hẹp

hơn nữa, và đồng nghĩa với nó chỉ là GD kỹ thuật - nghề nghiệp. Còn ở Việt

Nam, trong thực tế thuật ngữ này gọi là dạy nghề. Hệ thống GD kỹ thuật nghề nghiệp (dạy nghề) là hệ thống ĐT, bồi dưỡng công nhân kỹ thuật, nhân

viên dịch vụ với các trình độ từ sơ cấp nghề đến cao đẳng nghề, được thực

hiện trong các cơ sở dạy nghề và các hình thức ĐT, nâng cao tay nghề tại các

doanh nghiệp.

Có hai bộ phận cấu thành khái niệm GD nghề nghiệp, đó là: truyền đạt

các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và GD nhằm hình thành phẩm chất,



12



nhân cách nghề nghiệp cho người học để giúp họ trở thành người lao động

trực tiếp trên mọi lĩnh vực kinh tế xã hội. Vì vậy, mục tiêu của GD nghề

nghiệp đã được đề cập tại điều 33 Luật GD 2005 như sau: Trung cấp chuyên

nghiệp nhằm ĐT người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của

một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo ứng dụng công

nghệ vào công việc. Dạy nghề nhằm ĐT nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản

xuất, dịch vụ, có năng lực thực hành tương xứng với trình độ ĐT.

Từ mục tiêu như trên, chúng ta có thể nhận thấy đặc thù của GD nghề

nghiệp nói chung và dạy nghề nói riêng: Hoạt động học tập của HS, sinh viên

luôn gắn với quá trình sản xuất, kinh doanh; và tỷ lệ thực hành cao hơn học lý

thuyết (thực hành thường chiếm từ 50% đến 75% thời gian ĐT tùy theo từng

nghề), nhằm bảo đảm cho người học có tay nghề vững vàng trước khi bước

vào sản xuất. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng: Chất lượng GDKTTH và

GDNPT càng cao bao nhiêu thì việc ĐT trong trường nghề có mức độ thuận

lợi để nâng cao chất lượng cũng như khả năng có thể rút ngắn thời gian ĐT

bấy nhiêu. Mối quan hệ khăng khít này cần phải được khẳng định.

1.2.3. Nghề phổ thông và hoạt động giáo dục nghề phổ thông

1.2.3.1. Nghề phổ thông

Nghề phổ thông là những nghề thông dụng phổ biến, có mức độ kỹ

thuật tương đối đơn giản; tổ chức dạy học không phức tạp về trang thiết bị và

quy trình triển khai; nguyên vật liệu và phôi dễ kiếm, dễ tạo, rẻ tiền; thời gian

học nghề ngắn, chi phí đào tạo ít.

1.2.3.2. Hoạt động giáo dục nghề phổ thông

Hoạt động GDNPT được hiểu là những hoạt động nhằm truyền thụ các

tri thức, kỹ năng nghề nghiệp ban đầu đồng thời GD thái độ nghề nghiệp và

định hướng nghề nghiệp cho HS.

Mục tiêu của hoạt động GDNPT không phải là dạy nghề thuần túy mà

GD nghề gắn với mục tiêu kép như sau: rèn kỹ năng nghề nghiệp ban đầu và



13



thử năng lực lao động nghề nghiệp để biết mức độ phù hợp nghề giúp học

sinh có ý thức chọn nghề cho phù hợp với năng lực của mình góp phần phân

luồng HS; bước đầu chuẩn bị hành trang cho HS đi vào lao động nghề tương

lai. Đây là khâu kết hợp kết hợp giữa GDNPT và GDHN. GDNPT không phải

là dạy nghề theo đúng nghĩa của nó. Nếu mục tiêu của dạy nghề là tạo nên

những người lao động với trình độ từ sơ cấp đến cao đẳng nghề, những nhân

viên dịch vụ, những người lao động trực tiếp cho ngành nghề của xã hội thì

mục tiêu của hoạt động GDNPT chỉ giúp cho HS có năng lực nghề ban đầu

để đi vào mọi ngành nghề trong tương lai. Vì vậy hoạt động GDNPT chỉ có

tính chất là GD KTTH, tạo tiền đề "vật chất" để HS lựa chọn đi vào các ngành

nghề trong tương lai góp phần phân luồng HS.

1.2.4. Quản lý và quản lý hoạt động GDNPT

1.2.4.1. Khái niệm quản lý

* Khái niệm về quản lý:

Hoạt động quản lý bắt nguồn tự sự phân công và hợp tác lao động.

Chính sự phân công và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng suất

lao động cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, kế hoạch, tổ

chức, phối hợp, điều hành và kiểm tra. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ

thuật. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý. Ở đây luận văn xin đề

cập đến một số định nghĩa tiêu biểu liên quan đến hoạt động này.

Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung

nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ

đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm thực hiện những chức năng

chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cá thể sản suất khác với sự vận

động của những khí quan độc lập của nó. Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển

mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.

Harold Koontz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”

viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực



14



cá nhân, nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản

lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được

các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất.”

Theo AphanaxevV.G: “Quản lý con người là sự tác động con người đến

con người thông qua quan hệ quản lý (quan hệ con người với con người và

quan hệ công việc) làm cho hành vi (hoạt động) của con người đáp ứng yêu

cầu của xã hội, của tập thể, đem lại lợi ích cho cả cá nhân, tập thể và xã hội,

thúc đẩy sự phát triển cho cả cá nhân, tập thể và xã hội”.

Theo GS. Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế

hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là

khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu đã dự kiến."

Theo GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Quốc Chí định nghĩa

về quản lý là: "Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý

(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chứcnhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức". Hiện nay,

khái niệm này được định nghĩa một cách rõ hơn: "Quản lý là quá trình đạt đến

mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch

hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra."

Khái niệm về quản lý được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau song

có thể hiểu quản lý là hoạt động có mục đích của con người và quản lý chính

là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những

người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.

Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã

hội của lao động. Quản lý là một trong những loại hình lao động quan

trọng nhất trong các hoạt động của con người. Hoạt động quản lý bắt

nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn,

năng suất cao hơn.



15



Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Quản lý mang tính

khoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên

những quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể,

đồng thời quản lý mang tính nghệ thuật vì nó phải được vận dụng một cách

linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động

nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội.

Quản lý là một phạm trù chứa trong mình những khái niệm đặc trưng

như chủ thể quản lý và mục tiêu quản lý.

* Chức năng của quản lý:Quản lý có những chức năng sau:

- Kế hoạch hoá: là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các biện

pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.

- Tổ chức: là chuyển những ý tưởng đã được kế hoạch hoá thành hiện thực,

là quá trình hình thành nên các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận

trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu

tổng thể của tổ chức. Tổ chức còn là quá trình điều phối thực hiện kế hoạch.

- Chỉ đạo: bao hàm việc liên kết, liên hệ của người lãnh đạo với người

khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt mục tiêu

của tổ chức.

- Kiểm tra: là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một

nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến

hành những điều chỉnh, uốn nắn nếu cần thiết.

Bốn chức năng của quản lý có mối liên quan, ảnh hưởng tác động lên

nhau và chúng luôn luôn chịu tác động của những thông tin liên quan ở trong

và ngoài hệ thống. Mối quan hệ giữa bốn chức năng đó và với thông tin có thể

được thể hiện bằng sơ đồ sau:



16



Sơ đồ1.2: Chức năng của quản lý

Lập kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



Chỉ đạo



1.2.4.2. Quản lý hoạt động GDNPT

Trên cơ sở khái niệm về hoạt động GDNPT và khái niệm QL có thể

hiểu QL hoạt động GDNPT là QL các thành tố sau:

+ Quá trình diễn ra hoạt động GDNPT

+ Con người tham gia hoạt động GDNPT

+ Điều kiện cơ sở vật chất và các nguồn lực phục vụ cho hoạt động

GDNPT.

* Quản lý quá trình diễn ra hoạt động GDNPT có thể được hiểu là

QL quá trình dạy - học NPT, GDNPT bằng cách lập kế hoạch, tổ chức

thực hiện kế hoạch, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá và điều chỉnh. Để lập kế

hoạch cho hoạt động GDNPT cần phải xác định mục tiêu cần đạt tới (mục

tiêu này chịu sự chi phối của mục tiêu phát triển KT-XH); xác định cụ thể

nội dung và cách thức (phương pháp) thực hiện; xác định các phương tiện

và điều kiện bảo đảm cho quá trình thực hiện hoạt động GDNPT đạt được

mục tiêu đề ra. Việc tổ chức thực hiện kế hoạch chính là quá trình triển

khai các nội dung đã đã được xác lập ra trong kế hoạch. Quá trình này đòi

hỏi 3 yêu cầu Tài - Tâm - Tầm của người QL để đảm bảo sự vận hành linh



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×