1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP SỐ 5 HÀ NỘI GẮN VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƢƠNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.55 MB, 119 trang )


nhà nước thể hiện trong chiến lược phát triển GD-ĐT, nhất về các ngành nghề

then chốt nhưng ít HS lựa chọn; nhóm nhu cầu doanh nghiệp muốn có nguồn

lao động dồi dào, chất lượng cao vaod sử dụng được ngay, ít phải đào tạo lại;

và nhu cầu người học muốn có kiến thức, kỹ năng, ý thức nghề nghiệp và

chọn được ngành nghề phù hợp nhất).

3.1.5. Nguyên tắc thống nhất giữa trung ương và vùng lãnh thổ

Mặc dù QLGD phải thống nhất từ Trung ương xuống địa phương trên

toàn quốc, nhưng các giải pháp tổ chức hoạt động GDNPT cũng phải xuất

phát từ thực tiễn KT-XH và hướng tới mục tiêu phát triển nguồn nhân lực đáp

ứng yêu cầu phát triển KT-XH Quận Cầu Giấy, Huyện Từ Liêm.

3.1.6. Nguyên tắc bảo đảm tính kế thừa

Hoạt động GDNPT (hay dạy NPT) đã được nghiên cứu và triển khai áp

dụng ở hầu hết các địa phương trong cả nước từ nhiều năm nay. Vì vậy, các

biện pháp đề xuất (dù là biện pháp mới) cũng phải kế thừa kinh nghiệm và

những biện pháp đã áp dụng trước đây. Chẳng hạn kế thừa về chương trình, tài

liệu, phương pháp ĐT nghề và các nguyên tắc ĐT liên thông của các cơ sở dạy

nghề; Kế thừa chương trình dạy NPT 180 tiết trước đây; Kế thừa chương trình

các kết quả nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến việc thí điểm mô hình

trường THPT kỹ thuật, vì đây thực chất cũng là kết hợp GD PT và GD nghề

nghiệp làm nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH đất nước.

3.1.7. Nguyên tắc đồng bộ

Mặc dù mỗi biện pháp nêu lên có tính độc lập nhất định, nhưng phải có

mối quan hệ hữu cơ với các biện pháp khác để bảo đảm nâng cao được chất

lượng hoạt động GDNPT theo hướng gắn với KT-XH. Đồng thời sự đồng bộ

còn thể hiện ở mối quan hệ của biện pháp nêu lên với kiến thức các môn văn

hóa mà đối tượng HS đã học ở cùng thời điểm.



54



3.2. Biện pháp quản lý hoạt động GDNPT gắn với KT - XH địa phƣơng

3.2.1. Nhóm nhận thức

3.2.1.1. Biện pháp 1: Nâng cao tính trách nhiệm đối với CBQL tại Trung tâm

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

Nhận thức là kim chỉ nam của hành động, nhận thức thúc đẩy hành

động. Bất kỳ công việc gì, khi mọi người hiểu được đầy đủ, đúng đắn vai trò,

mục đích ý nghĩa nội dung công việc của mình sẽ làm, với ý thức tinh thần

trách nhiệm cao sẽ mang lại hiệu quả cao.

Vai trò điều hành, quản lý của các nhà tổ chức sẽ đóng góp một phần

không nhỏ trong thành công của quá trình GD. Do đặc thù của mô hình

GDNPT và nhu cầu ngày càng lớn về phân luồng HS sau khi tốt nghiệp để

góp phần cân bằng cơ cấu đào tạo nghề của địa phương, các nhà tổ chức mỗi

năm phải luôn luôn đổi mới nội dung, phương pháp điều hành để đáp ứng

được mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức và đáp ứng yêu cầu của kinh tế - xã hội,

mặt khác không ngừng nâng cao chất lượng GDNPT.

Trong bối cảnh của cuộc vận động nâng cao chất lượng các hệ đào tạo

và đào tạo theo nhu cầu xã hội thì việc GDNPT, GDHN nhằm phân luồng học

sinh sau khi tốt nghiệp PT là một việc làm rất cần thiết để đáp ứng được nhu

cầu đa dạng và ngày càng tăng về cơ cấu ngành nghề góp phần thực hiện

thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong bối cảnh đó biện pháp này

có một ý nghĩa rất quan trọng góp phần thực hiện chủ trương nêu trên.

b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

- Cán bộ quản lý, lãnh đạo Trung tâm phải nghiêm túc nhận thức được

vai trò quan trọng của mình trong việc điều hành tổ chức. Họ phải biết nắm bắt

được nhu cầu thực sự của kinh tế xã hội, nhu cầu của người học để xây dựng

mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy - học và cơ cấu ngành nghề ĐT và định

hướng GDHN theo từng giai đoạn của lịch sử. Để làm tốt điều này cần có ý

thức tìm hiểu và phân tích nhu cầu xã hội, nhu cầu của địa phương, nhu cầu của



55



người học và nhưng mặt khác cùng đề ra những yêu cầu tối thiểu buộc phải

tuân thủ để đảm bảo chất lượng và kỷ cương trong quá trình GDNPT.

- Hàng năm, sau mỗi khoá học sẽ có đánh giá mặt được, chưa được để

khen thưởng và kỷ luật rõ ràng về trách nhiệm của các nhà quản lý và tổ chức

lớp học. Điều này sẽ khuyến khích họ tăng tinh thần trách nhiệm trong công

việc mà họ đảm nhận. Tạo ra sự công bằng, thúc đẩy tính tích cực trong tổ

chức. Để làm được điều này cần có sự cam kết giữa cơ sở đào tạo với những

người tham gia đào tạo và nếu liên kết với địa phương thì hợp đồng trách

nhiệm phải rõ ràng có kiểm tra, giám sát để thông tin ngược có độ tin cậy và

tính khách quan.

- Khi tuyển chọn giáo viên giảng dạy NPT các nhà quản lý phải tiến

hành hết sức nghiêm túc, không được xem nhẹ chất lượng giáo viên. Hiện nay

do nhiều lý do mà công việc của nhiều giáo viên quá tải hoặc do thiếu giáo

viên nên Trung tâm phải mời giáo viên kiêm nhiệm. Nếu việc giao nhiệm vụ

không rõ ràng hoặc không có chế tài cụ thể và không kiểm tra giám sát tốt thì

việc thực hiện kế hoạch giảng dạy có thể tuỳ tiện hoặc thiếu nghiêm túc. Điều

này đòi hỏi những người có trách nhiệm tổ chức quản lý GD cần không ngừng

nâng cao trách nhiệm xã hội để một mặt mở rộng quy mô ngành NPT trên cơ

sở đa dạng hoá phương thức tổ chức GDNPT mặt khác cần quản lý chặt chẽ,

đúng quy chế để không ngừng nâng cao chất lượng GDNPT. Giáo dục, nâng

cao ý thức trách nhiệm của cả người dạy và người học với chính bản thân họ

và cho cả xã hội.

c. Điều kiện thực hiện biện pháp:

Điều kiện khách quan: Hiện nay trung tâm GDKTTH tồn tại song hành

với nhiều loại trung tâm khác và có sự quản lí chồng chéo vì vậy cần có chủ

trương nâng cao vị thế của trung tâm này bằng các biện pháp vĩ mô

Điều kiện chủ quan: Ý thức học tập và trách nhiệm cá nhân của cán bộ

quản lí cần được kiểm tra đánh giá trong các đợt bồi dưỡng thường xuyên và

có cơ chế sàng lọc



56



3.2.1.2. Biện pháp 2: Nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của giáo viên

tham gia GDNPT cho HS

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

Theo chủ chương của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn mới là

phải thiết kế được hệ thống đào tạo đa dạng để phù hợp với nhu cầu của

người học nhằm đào tạo, bồi dưỡng nhân lực phục vụ nhu cầu phát triển kinh

tế, xã hội của từng địa phương. Vì vậy song hành với nó cần phải thiết kế

được hoạt động GDNPT, GDHN để phân luồng HS sau khi tốt nghiệp nhằm

ổn định cơ cấu ngành nghề đào tạo và tạo nguồn nhân lực có chất lượng góp

phần tham gia phát triển KT-XH của từng địa phương.

Những năm gần đây, do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương,

số lượng các ngành nghề đã tăng lên, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất

mọc lên rất nhiều . Chính vì vậy cần có một lực lượng nhân lực lớn để phục

vụ cho KT-XH địa phương. Để nâng cao hiệu quả GDNPT cũng cần có một

lực lượng giáo viên giàu tâm huyết có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững

vàng đồng thời có tay nghề cao giảng dạy cho mô hình đào tạo này.

Với xu thế hội nhập, việc nâng cao tính tự chủ cho giáo viên bằng trách

nhiệm thực sự của người Thầy trong quá trình GDNPT sẽ đóng góp rất lớn

trong việc nâng cao chất lượng GDNPT.

Trong quá trình giảng dạy, việc thực hiện kế hoạch dạy học và chất

lượng các giờ lên lớp phần lớn phụ thuộc vào ý thức tự giác của giáo viên.

Vấn đề trên cho thấy biện pháp tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm

của từng giáo viên tham gia công tác GDNPT là rất quan trọng và có một ý

nghĩa nhất định trong việc nâng cao chất lượg GDNPT.

b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

- Khuyến khích, động viên GV chủ động học thêm, tìm kiếm các giáo

trình mới mang tính cập nhật nhưng lại phù hợp với trình độ của học sinh học

nghề. Đặc biệt khuyến khích GV tìm hiểu các thông tin liên quan đến nghề



57



đang ĐT, các cơ sở ĐT chuyên sâu về nghề và nhu cầu về nhân lực của các

doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn về lĩnh vực nghề đang ĐT để tiến

hành tư vấn hướng nghiệp cho HS trong quá trình giảng dạy đồng thời thêu

dệt tình yêu lao động, tình yêu nghề và biết trân trọng các sản phẩm lao động

trong HS.

- Giao quyền cho giáo viên giảng dạy chuẩn bị câu hỏi kiểm tra, đánh

giá, phòng Đào tạo quản lý chỉ nghiệm thu (có điều chỉnh nếu thấy cần thiết).

- Giáo viên giảng dạy phải tuân thủ các quy chế đào tạo và tự chịu trách

nhiệm về kết quả học tập của các học sinh. Trung tâm, tổ chuyên môn phải

thường xuyên quán triệt cho từng giáo viên về quy chế đào tạo nghề.

- Thông qua kết quả kiểm tra, giám sát hoặc thu thập thông tin ngược,

Trung tâm sẽ có khen thưởng hay kỷ luật xứng đáng với từng giáo viên; đồng

thời tạo điều kiện cho giáo viên tự đánh giá kết quả hoạt động giảng dạy của

mình bằng việc thông báo các ý kiến đánh giá của những người liên đới cho

giáo viên để giáo viên điều chỉnh.

c. Điều kiện thực hiện biện pháp:

Điều kiện khách quan: Hiện nay trung tâm GDKTTH tồn tại song hành với

nhiều loại trung tâm khác và việc tận dụng GV thỉnh giảng là khá phổ biến vì

vậy cần giao quyền tự chủ nhiều hơn cho cán bộ trung tâm GDKTTH trong việc

thực hiện nghị định 43 về tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu

Điều kiện chủ quan: GV được đánh giá và phân hóa chế độ thù lao,

không cào bằng

3.2.1.3. Biện pháp 3: Nâng cao ý thức học tập, nâng cao nhận thức về tầm

quan trọng của kiến thức NPT- hướng nghiệp nghề và học nghề cho học sinh

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

Chúng ta đã biết, mô hình GDNPT đã có từ mấy chục năm nay. Tuy

nhiên, chất lượng GDNPT của mô hình này chưa cao. Có rất nhiều nguyên

nhân khách quan và chủ quan nhưng nguyên nhân chính vẫn là do ý thức của



58



HS chưa nghiêm túc. HS xem việc học NPT như là để lấy một tấm vé để được

cộng điểm khuyến khích khi thi tốt nghiệp hoặc để xét tuyển vào lớp 10 chứ

không phải học để lấy kiến thức giúp HS có ý thức chọn nghề. Điều này thật

nguy hiểm cho chính bản thân HS và cho toàn xã hội. Mỗi năm số lượng HS

tham gia GDNPT tại trung tâm GDKTTH rất lớn . Nếu như việc GDNPT tại

trung tâm đạt được mục tiêu đề ra thì sẽ đóng góp rất lớn cho việc ổn định cơ

cấu ngành nghề đào tạo và góp phần đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho

KT-XH; nhưng nếu dựa vào hình thức đào tạo này chỉ để nhận chứng chỉ thì

rất lãng phí thời gian. Chính vì vậy, nâng cao ý thức học tập, học vì sự

nghiệp, vì chính mình và cho xã hội của HS là điều kiện tiên quyết nâng cao

chất lượng GDNPT và biện pháp này cũng có nhiều ý nghĩa cho vấn đề bảo

đảm chất lượng GDNPT.

b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của chính chủ thể (người học) về vị

trí quan trọng của việc học NPT cho chính HS và đóng góp cho xã hội, chỉ rõ

lợi ích của chính ngành nghề mà HS đang theo học sẽ mang lại lợi ích gì cho

tương lai.

- HS học NPT cần được chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh

thần trách nhiệm và được tạo điều kiện thuận lợi để lĩnh hội tri thức, hình

thành một kỹ năng chủ động và có tác phong công nghiệp.

- Bồi dưỡng phương pháp học chủ động, tăng cường khả năng tự học, tự

nghiên cứu sẽ làm tăng chất lượng đào tạo, phá vỡ sức ì, những mặc cảm

không tốt về cách chọn nghề (không phải chỉ có vào đại học mới là con đường

duy nhất và có cách nhìn bình đẳng về các nghề trong xã hội).

- Khuyến khích học sinh tự thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau có

liên quan đến ngành nghề đang theo học, tăng khả năng tự nghiên cứu, chủ

động, sáng tạo, độc lập sẽ là cơ sở để học sinh tự khẳng định mình.



59



- Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá theo hướng khuyến khích tự học

đối với HS.

- Các nhà tổ chức nên có chính sách động viên, khen thưởng các HS có

tinh thần học tập nghiêm túc, tạo điều kiện cho HS tham gia các hội thi khéo

tay kỹ thuật để thử sức.

c. Điều kiện thực hiện biện pháp:

Điều kiện khách quan: Vấn đề GDNPT, GDHN là vấn đề lớn của xã hội

cần có sự tham gia rộng rãi và đồng bộ của các lực lượng xã hội

Điều kiện chủ quan: Chú trọng hơn việc lồng ghép nội dung GDHN

trong quá trình dạy NPT: dạy nghề để giới thiệu “thế giới nghề” và để cho

người học nhận diện được năng lực thật của mình đối với nghề đang học và

sẽ theo học.

3.2.2. Nhóm tổ chức hoạt động GDNPT

3.2.2.1. Biện pháp 1: Đổi mới bộ máy tổ chức chỉ đạo và thực hiện hoạt động

GDNPT gắn với KT-XH địa phương

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

- Có bộ máy chăm lo hoạt động GDNPT nhằm không ngưng nâng cao

chất lượng hoạt động này góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực.

- Nâng cao trình độ, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của đội ngũ GV

nhằm nâng cao chất lượng GDNPT trong bối cảnh mới; bảo đảm đủ về số

lượng, đạt về chất lượng đội ngũ GV.

- Nâng cao cả 3 mặt Tài - Tâm - Tầm của người cán bộ QL, từ đó nâng

cao chất lượng hoạt động GDNPT trong bối cảnh mới; tạo động lực để cán bộ

QL hoạt động GDNPT hào hứng thi đua phấn đấu vươn lên về mọi mặt.

b. Nội dung và cách thực hiện biện pháp:

* Thành lập và phát triển Hội đồng GDNPT ở trung tâm để tham mưu

cho thủ trưởng triển khai nhiệm vụ GDNPT theo cơ cấu sau:



60



Sơ đồ 3.1: Cơ cấu lực lượng Hội đồng GDNPT của trung tâm GDKTTH



Giám đốc



Ghi chú:

Chỉ đạo

Tham mưu

Phối hợp



Hội đồng GDNPT

(do 1 Phó giám đốc kiêm

Chủ tịch hội đồng)



Tổ chức công đoàn



Tổ chức năng

Tổ chuyên môn

Đội giám thị



Đoàn thanh niên



Các tổ chức phối hợp

(Trường PT, doanh nghiệp, cơ

sở ĐT nghề, trường chuyên

nghiệp, cơ quan đại chúng, hội

phụ huynh học sinh)



;



Trong quá trình chỉ đạo, điều hành, cán bộ QL ở trung tâm cần phải phân

biệt rõ quan hệ chỉ đạo, quan hệ tham mưu và quan hệ phối hợp để hoạt động

của hội đồng đạt hiệu quả cao nhất.

* Phát triển đội ngũ GV dạy NPT

- Về nâng cao năng lực chuyên môn: Vừa phải có kế hoạch dài hơi về

ĐT sau ĐH cho lực lượng cốt cán về QL và chuyên môn, ĐT trình độ ĐH cho

những GV chưa qua đại học, vừa phải bồi dưỡng cập nhật kiến thức chuyên

môn, phù hợp với tiến độ KH- công nghệ mới trong xu thế toàn cầu hóa.

Ngoài ra, để không ngừng nâng cao thương hiệu của cơ sở góp phần tạo sức



61



hấp dẫn thu hút ngày càng nhiều HS PT tham gia học NPT, GV cần được các

cấp QL chăm lo cho đi vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội, tiếp cận

những máy móc thiết bị và công nghệ mới, tìm kiếm tình hình dạy nghề trong

khu vực ASEAN và trên thế giới.

- Về bồi dưỡng tay nghề: Người CBQL phải chú trọng việc tổ chức cho

GV (nhất là GV tốt nghiệp ĐH thường có kiến thức chuyên sâu, những kỹ

năng tay nghề hạn chế) cọ xát về thực tế sản xuất, dịch vụ (kể cả việc khuyến

khích hỗ trợ GV kết hợp mở xưởng dịch vụ ngoài XH để GV có điều kiện

nâng cao tay nghề, và HS có điều kiện tham quan, thực tập được tốt hơn).

Đồng thời, cần tổ chức các hội thi khéo tay nghề cho GV và trong HS cấp cơ

sở và cấp thành phố. Việc làm này có ý nghĩa thiết thực đối với yêu cầu nâng

cao chất lượng hoạt động GDNPT, vì đặc thù của hoạt động này cần kỹ năng

tay nghề của GV hơn so với GV dạy môn công nghệ ở trường PT.

Đối với tất cả các GV phải dược bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm,

công nghệ dạy học hiện đại. Ngoài ra còn phải bồi dưỡng các kiến thức bổ trợ

như tin học, ngoại ngữ, kỹ năng sống. Tóm lại, cần ĐT, bồi dưỡng GV bao

gồm các lĩnh vực theo sơ đồ sau:



62



Sơ đồ 3.2: Nội dung đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề phổ thông

trong giai đoạn hiện nay

Sư phạm bậc 1

Năng lực

Sư phạm



Sư phạm bậc 2

Nâng cao năng lực SP

CN dạy học hiện đại

Kiến thức CM và CN mới



Nội dung ĐT, bồi

dƣỡng GV dạy

NPT trong giai

đoạn hiện nay



Năng lực

Chuyên môn



Kỹ năng nghề nghiệp



Kinh nghiệm thực tiễn

Kiến thức

Bổ trợ



Tin học

Ngoại ngữ

Nghiên cứu KH

Hiểu biết về KT-XH



Việc chọn hình thức ĐT, bồi dưỡng trong từng giai đoạn, đối với từng

đối tượng GV cụ thể là hết sức quan trọng, nhất là trong điều kiện KT-XH.

- Về nâng cao nghiệp vụ cho GV: trung tâm cần thực hiện tốt các công

việc như sau:

Lập kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng định kỳ nhằm cập nhật thông

tin về khoa học, theo từng chuyên ngành giảng dạy.

Mời các chuyên gia (trong nước và nước ngoài) nói chuyện chuyên đề

để giáo viên có điều kiện cập nhật kiến thức, mở mang thông tin. Sau mỗi



63



buổi nghe nói chuyện đó, trung tâm nên yêu cầu giáo viên có những bài thu

hoạch hay những báo cáo phản hồi.

Trung tâm tổ chức định kỳ sinh hoạt chuyên môn theo từng chủ đề để các

giáo viên có điều kiện trao đổi thông tin, học hỏi lẫn nhau.

Giao đề tài nghiên cứu khoa học cho cá nhân hoặc một nhóm các giáo

viên hàng năm. Nghiên cứu khoa học luôn là động cơ thúc đẩy mọi người tìm

tòi, sáng tạo, mở mang kiến thức.

Quản lý tốt chương trình chi tiết môn học của các giáo viên sẽ góp phần

đáng kể trong việc nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên, bởi

lẽ đây là một công cụ trong hoạt động dạy học thể hiện được mức độ cập nhật

thông tin, khả năng mở rộng kiến thức của thầy cho trò thông qua các tài liệu

tham khảo, các tài liệu bổ sung, các tài liệu phát tay, các bài tập bổ trợ được

bổ sung hàng năm. Chương trình chi tiết môn học được bộ phận phụ trách

chuyên môn lưu giữ để kiểm tra, giám sát thực hiện, đánh giá và điều chỉnh.

Khuyến khích các giáo viên không ngừng tự học để nâng cao năng lực chuyên

môn của bản thân mình.

* Kế hoạch phát triển đội ngũ CBQL hoạt động GDNPT

Trên cơ sở quy hoạch cán bộ theo hướng "mở" (một chức danh ít nhất 2

cán bộ dự nguồn, một người có thể quy hoạch vào nhiều chức danh) và

"động" (hàng năm có sự điều chỉnh bổ sung nhân tố mới, giảm những cá nhân

thiếu phấn đấu tu dưỡng và uy tin thấp) để cử đi học hoặc tự học theo yêu

cầu. Các lĩnh vực ưu tiên ĐT bồi dưỡng CBQL về lĩnh vực GDNPT bao gồm:

(1): Kiến thức, kỹ năng QL dạy nghề; (2): Kiến thức, kỹ năng quản lý nhân

sự; (3): Kiến thức, kỹ năng QL tài chính; (4): Kiến thức, kỹ năng QL CSVC;

(5): Kiến thức, kỹ năng QL công tác kiểm định và đánh giá chất lượng GD;

(6): Kiến thức, kỹ năng QL CNTT; (7): Tin học; (8): Ngoại ngữ; (9): Tư

tưởng Hồ Chí Minh.



64



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×